Ai ca — Sách Ai Ca
Ai ca
DẪN NHẬP SÁCH AI CA
Sách Ai ca trong bộ Kinh Thánh
1. Trong Kinh Thánh Híp-ri, tựa đề cuốn sách lấy từ đầu tiên là “´êkâ” (thế nào). Truyền thống Híp-ri xếp Ai ca vào phần ba của bộ Kinh Thánh, tức là phần Các Văn Phẩm.
2. Sách Talmud và truyền thống kinh sư gọi cuốn sách này là “Qinôt”. Tựa đề này lấy lại của bản Bảy Mươi Threnoi. Bản La-tinh Phổ thông đặt tựa đề Lamentationes. Truyền thống Hy-lạp và La-tinh xếp Ai ca vào phần hai của bộ Kinh Thánh, tức là Các Ngôn Sứ và xếp liền với sách Giê-rê-mi-a.
Tác giả
Bản Bảy Mươi và truyền thống rất cổ xưa cho rằng ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã viết những khúc Ai ca này. Lập trường này dựa vào 2 Sb 35,25 mà quả quyết ngôn sứ Giê-rê-mi-a soạn bài điếu văn khóc thương vua Giô-si-gia-hu băng hà. Người ta lầm lẫn tưởng Ac 4,20 liên quan đến vua Giô-si-gia-hu nên phải nói sách Ai ca là của ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
Từ thế kỷ XVIII, các học giả đã thay đổi truyền thống này và đều nhất trí phủ nhận ngôn sứ Giê-rê-mi-a là tác giả sách Ai ca. Chứng cứ về văn thể và từ vựng chưa phải là yếu tố mạnh, chính nội dung Ai ca khiến các nhà phê bình không công nhận ngôn sứ Giê-rê-mi-a là tác giả sách Ai ca. Chẳng hạn, hãy so sánh 1,10 với Gr 7,7.14 ; 2,9 với Gr 42,4 ; 4,17 với Gr 2,18 ; 37,5-10 ; 4,20 với Gr 24,8-10 ; 37,17 ; 5,2 với Gr 31,29-30. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a không thể tự mâu thuẫn với chính mình. Theo một số người, Ai ca được viết ra để chống lại ngôn sứ Giê-rê-mi-a và phe thân Ba-by-lon là kẻ nội thù tiếp tay cho giặc xâm lược bên ngoài.
Như thế, sách Ai ca là của một soạn giả vô danh. Ông đã gom những bài thơ khuyết danh và nhuận sắc lại theo một văn thể, thống nhất nội dung và từ vựng. Nhờ đó, dân Ít-ra-en có thể sử dụng Ai ca vào những dịp lễ.
Thời kỳ soạn thảo
Năm 587 tCN, ngày mồng 7 (2 V 25,8-9) hay mồng 10 (Gr 52,12) tháng thứ năm, tức là tháng Áp (khoảng tháng 7, 8 của chúng ta hiện nay), người Ba-by-lon đã phá huỷ thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ, cùng bắt phần lớn dân cư đi đày, chỉ chừa lại những người nghèo và người bệnh tật (2 V 24,8 – 25,30 ; Gr 39,52). Những bài thơ trong Ai ca được soạn ra để tưởng nhớ biến cố bi thương này và nói đến những khủng hoảng trong đời sống chính trị, tôn giáo, xã hội.
Không biết rõ tác giả, người ta cũng không thể xác định xuất xứ và thời điểm bản văn được soạn thảo. Hầu như chắc chắn Ai ca được soạn ở xứ Pa-lét-tin. Có người cho rằng Ai ca được soạn vào cuối thời lưu đày trước khi dân được phóng thích năm 538. Dựa vào những yếu tố tình cảm và tôn giáo, có người nghĩ sách Ai ca được viết ra ngay sau biến cố năm 587, hoặc sớm hơn 10 năm, tức là vào lúc dân Giu-đa đi đày lần thứ nhất năm 597, ít ra bài thứ nhất được viết vào sau biến cố này.
Như đã nói trên, các bài thơ này được soạn vào những thời điểm khác nhau, nhưng được một người thu tập và nhuận sắc thành một tác phẩm duy nhất, chúng ta đang đọc ngày nay.
Độc giả
Sách Ai ca được soạn thảo cho dân Do-thái mất nước, nhất là sau khi Đền Thờ bị tàn phá, để họ than khóc, kêu cầu Thiên Chúa đoái thương giúp họ phục hưng xứ sở và tái thiết Đền Thờ.
Người ta đọc sách này vào ngày chín tháng Áp (tháng thứ năm). Đền Thờ thứ nhất bị người Ba-by-lon phá huỷ ngày bảy hoặc ngày mười tháng Áp. Đền thờ thứ hai bị Ti-tô và quân Rô-ma đốt cháy năm 70 CN.
Mục đích
Không gì buồn tủi hơn cảnh mất nước, nhất là đối với dân Ít-ra-en, đất nước là của Thiên Chúa ban, Đền Thờ là nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Người đều bị mất và tàn phá. Không còn nỗi nhục nào thê thảm hơn. Vì thế, tác giả viết những vần thơ an ủi dân và khích lệ họ tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa. Muốn được vậy, dân phải thành tâm sám hối tội lỗi của mình.
Bố cục
Sách Ai ca có 5 chương. Bốn chương đầu được viết theo mẫu tự. Từ đầu tiên của mỗi câu trong các chương này là một từ thuộc mẫu tự Híp-ri theo thứ tự. Nhưng thứ tự này của chương một hơi khác với ba chương kia đảo lộn a-in và pê. Riêng chương ba, mỗi mẫu tự lại có ba câu. Chương cuối cùng được viết tự do, không lệ thuộc vào mẫu tự. Dưới đây là bố cục sách Ai ca :
iq 1. Bài ca thứ nhất : Xi-on bị tàn phá (1,1-22)
iq1 a. Tác giả khóc than cho số phận Xi-on (1,1-11)
iq1 b. Xi-on tự khóc than về số phận mình (1,12-22)
iq 2. Bài ca thứ hai : Ngày thịnh nộ của Đức Chúa (2,1-22)
iq1 a. Ngày thịnh nộ của Chúa (2,1-10)
iq1 b. Tác giả và Xi-on bộc lộ cõi lòng (2,11-22)
iq 3. Bài ca thứ ba : Từ vực thẳm con kêu lên (3,1-66)
iq1 a. Nỗi cô đơn (3,1-18)
iq1 b. Hoài niệm và suy tư (3,19-39)
iq1 c. Kinh nghiệm về sống kết hợp với Chúa (3,40-66)
iq 4. Bài ca thứ tư : Thành lại được viếng thăm (4,1-22)
iq1 a. Nỗi đau buồn của Thành (4,1-16)
iq1 b. Hy vọng hão huyền (4,17-22)
iq 5. Bài ca thứ năm : Lời cầu nguyện của dân Chúa (5,1-22)
iq1 a. Nỗi khốn khổ mất sản nghiệp (5,1-10)
iq1 b. Niềm đau xót vì toàn dân phải ô nhục (5,11-16)
iq1 c. Kêu cầu Chúa cho trở về (5,17-22)
Đạo lý
Sách Ai ca trình bày nguyên nhân khiến Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, dân bị tiêu diệt : đó là dân Chúa đã phản bội, thất trung, không giữ giao ước Xi-nai. Trước mắt, quân thù đã tàn phá Giê-ru-sa-lem và gây nên cảnh nước mất, nhà tan ; tuy nhiên quân thù chỉ được nhắc thoáng qua 1,21-22 ; 3,52-66 ; 4,21-22. Còn kẻ thù chính của Ít-ra-en lại là Thiên Chúa 2,1-9. Người phá huỷ cả dân lẫn Đền Thờ. Ít-ra-en trở nên kẻ thù của Thiên Chúa vì tội lỗi của họ. Dân đã vi phạm giao ước, nên phải hứng chịu hình phạt (x. Đnl 28). Thiên Chúa thi hành án công minh đối với dân Người.
Ít-ra-en than khóc và xưng thú tội lỗi. Đó là hành động của lòng tin. Tác giả hay dân Chúa không dám oán trách Thiên Chúa, nhưng cầu xin Thiên Chúa ngoảnh mặt lại đoái nhìn đến tình trạng khốn quẫn hiện thời của mình (x. 3,57-58).
Cuối cùng, tác giả quả quyết (3,56-61) Thiên Chúa vẫn một niềm xót thương dân. Cánh cửa tương lai không khép kín mà đã hé mở cho dân Chúa được hưởng bình an.