Ba-rúc — Sách Ba-rúc
Ba-rúc
DẪN NHẬP SÁCH BA-RÚC
Vị trí sách Ba-rúc trong bộ Kinh Thánh
Bản Bảy Mươi xếp sách Ba-rúc sau sách Giê-rê-mi-a và trước sách Ai ca và thư Giê-rê-mi-a (biệt lập với sách Ba-rúc).
Bản Phổ thông La-tinh đưa thư Giê-rê-mi-a nhập vào sách Ba-rúc làm thành chương 6 của sách này ; thứ tự của sách Ba-rúc trong bản Phổ thông đứng sau các sách Giê-rê-mi-a và Ai ca.
Chúng tôi cũng sắp xếp sách Ba-rúc theo bản Phổ thông.
Nguyên văn
Bản văn Ba-rúc sau cùng được viết bằng tiếng Hy-lạp. Thánh Giê-rô-ni-mô không phiên dịch sách Ba-rúc ; người viện cớ dân Híp-ri không đọc cũng không có sách này trong bộ Kinh Thánh. Sách Ba-rúc là một trong bảy sách thuộc đệ nhị quy điển của giới công giáo. Có lẽ toàn bộ sách Ba-rúc đã được soạn bằng tiếng Híp-ri, hoặc ít nhất là phần đầu 1,1 – 3,8.
Tác giả
Sách Ba-rúc nhắc đến danh tính ông Ba-rúc trong 1,1.3.8 và ám chỉ đến ông trong 1,10.12.14. Nhưng chúng ta không thể dựa vào đó để quả quyết ông Ba-rúc là tác giả của sách Ba-rúc. Ông Ba-rúc là thư ký của ngôn sứ Giê-rê-mi-a (x. Gr 32,12-16 ; 36,4-32 ; 45,1-5). Ông đã bị đưa sang Ai-cập cùng với ông Giê-rê-mi-a (x. Gr 43,6-7). Như thế ông không thể đọc sách Ba-rúc cho vua Giơ-khon-gia đang bị đày ở Ba-by-lon (x. Br 1,1-3). Ông Ba-rúc trong sách Ba-rúc trả lại những đồ vật cho nhà Đức Chúa (Br 1,8). Đó là chuyện phi lịch sử, vì mãi sau này Ky-rô mới cho tái thiết Đền Thờ (Er 1,7-11). Bên-tát-xa không phải là con của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo (1,11). Người ta không thể đồng hoá tác giả sách Ba-rúc với ông Ba-rúc, thư ký của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Sách Ba-rúc được thu tập lại từ những nguồn khác nhau : 1,1-14 ; 1,15 – 3,8 ; 3,9 – 4,4 ; 4,5 – 5,9 ; 6,1-72. Các tác giả của những đoạn này là vô danh. Người biên tập sau cùng đã sắp xếp lại thành tác phẩm như chúng ta có ngày nay.
Thời kỳ soạn thảo
Một điều chắc chắn ai cũng công nhận là sách Ba-rúc được soạn sau biến cố năm 587 tCN (Br 1,2). Các sự kiện lịch sử được nói trong sách Ba-rúc khiến người ta nghĩ rằng sách này được soạn sau ngày hồi hương năm 538 tCN : Trả lại các đồ vật của Đền Thờ 1,8-9 ; ông Ba-rúc ở Ba-by-lon 1,1 ; mâu thuẫn về Đền Thờ còn nguyên vẹn 1,10.14 với Đền Thờ bị tàn phá 2,26 ; Bên-tát-xa 1,11-12 không phải là con của Na-bu-cô-đô-nô-xo (604-562) mà là con của Na-bo-ni-đát (555-539) ; thư Giê-rê-mi-a mô tả Ba-by-lon không phải là một thành phố lớn (6,14.48) của Na-bu-cô-đô-nô-xo. Thư Giê-rê-mi-a chắc chắn được viết sau thời lưu đày, vì nếu ngôn sứ Giê-rê-mi-a là tác giả thư Giê-rê-mi-a, thư này phải được sáp nhập vào sách Giê-rê-mi-a.
Nếu sách Ba-rúc được soạn sau thời lưu đày, thì được soạn vào thời điểm nào ? Ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr 25,12 ; 29,10) nói dân phải lưu đày 70 năm. Còn Br 1,2 lại nói bảy đời (thế hệ), tức khoảng 280 năm (x. Ds 32,13). Thực tế dân Giu-đa ở Ba-by-lon gần 50 năm. Như thế sách Ba-rúc được soạn khoảng năm 300 tCN. Có người cho rằng như sách Đa-ni-en, Ba-rúc nói đến Na-bu-cô-đô-nô-xo. Na-bu-cô-đô-nô-xo và Bên-tát-xa 1,11 là những tên giả của Vét-pa-ni-a-nô và Ti-tô và sự tàn phá Giê-ru-sa-lem 1,2 xảy ra năm 70 CN. Khó chấp nhận quan điểm này.
Chúng ta có thể tạm kết luận : sách Ba-rúc được soạn sau thời lưu đày khoảng năm 300 tCN đến trước cuộc khởi nghĩa của anh em Ma-ca-bê.
Độc giả
Tác giả sách Ba-rúc viết cho đồng bào của mình đang bị lưu đày hay đang tản mát khắp nơi giữa dân ngoại sau ngày đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá năm 587 tCN. Đền Thờ là biểu tượng sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người. Thành Thánh duy trì mối hợp nhất và truyền thống. Cả hai nay không còn nữa. Tác giả nói cho dân Chúa biết rằng họ có thể tìm gặp Thiên Chúa ở giữa dân ngoại, tìm thấy sự khôn ngoan của Người trong sách Luật.
Mục đích
Dân Chúa trong cảnh khốn cùng nhớ lại những năm tháng lịch sử oai hùng của đất nước. Giữa dân ngoại thờ ngẫu tượng, họ bị cám dỗ chạy theo các thần ngoại giáo. Tác giả khuyến khích họ trung thành với Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn họ làm dân riêng. Trong khi phải thích nghi với những hoàn cảnh xã hội, phải luỵ phục quyền bính của vua chúa dân ngoại, dân Chúa không ngớt hướng tâm hồn và cả đôi mắt ngước nhìn về thành vĩ đại của cha ông. Dân cần phải đặt niềm tin tưởng vào Lề Luật, vào chính Đức Khôn Ngoan, mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Đó là phương cách giải phóng tâm hồn dân Chúa khỏi những ám ảnh ngẫu tượng chốn lưu đày.
Bố cục
Nhập đề : Ông Ba-rúc và cộng đồng Do-thái ở Ba-by-lon (1,1-14)
Giới thiệu tác giả và cộng đồng Do-thái (1,1-9)
Gửi tiền và sách về Giê-ru-sa-lem (1,10-14)
I. Lời nguyện của những người lưu đày (1,15 – 3,8)
Xưng thú tội lỗi (1,15 – 2,10)
Lời cầu khẩn (2,11 – 3,8)
II. Ơn khôn ngoan dành cho Ít-ra-en (3,9 – 4,4)
Tầm quan trọng của ơn khôn ngoan (3,9-14)
Không ai có thể tìm thấy đức khôn ngoan (3,15-31)
Đức khôn ngoan là chính Lề Luật (3,32 – 4,4)
III. Giê-ru-sa-lem than van và hy vọng (4,5 – 5,9)
Ngôn sứ nói với dân lưu đày (4,5-9a)
Giê-ru-sa-lem nói với các thành lân cận (4,9b-16)
Giê-ru-sa-lem ngỏ lời với dân lưu đày (4,17-29)
Ngôn sứ nói với Giê-ru-sa-lem (4,30 – 5,9)
IV. Thư của ông Giê-rê-mi-a (6,1-72)
Đạo lý
Sách Ba-rúc cho thấy những yếu tố giúp các cộng đồng Do-thái ở hải ngoại duy trì mối liên lạc với nhau : quan hệ thường xuyên với Giê-ru-sa-lem, gửi thư từ cho nhau, trợ giúp tiền quyên góp, hiệp thông trong lời cầu nguyện. Dân Chúa ở hải ngoại đề cao đọc Sách Thánh, nhất là đọc và suy niệm Luật. Nhờ đó, họ có ý thức về tội lỗi và thành thật sám hối ; họ cũng chống lại việc thờ ngẫu tượng.
Điểm nổi bật nhất trong sách Ba-rúc là nói về tội lỗi. Theo tác giả sách Ba-rúc, tội lỗi làm đảo lộn trật tự luân lý (x. 2,12). Tội lỗi xúc phạm đến đức khôn ngoan (x. 3,9). Người ta đã chống lại Lề Luật và thờ ơ trước những lời khuyên dạy của các ngôn sứ (x. 1,18.21 ; 2,5.12.14). Muốn xa tránh tội lỗi, người ta phải khiêm tốn trở lại với Thiên Chúa, nguồn mạch mọi thiện hảo (2,8.30 ; 4,28), đồng thời giữ Lề Luật, nhờ đó tìm được sự sống (4,1).
Thiên Chúa là Đấng vĩnh hằng (4,10.14.22.24), là nguồn mạch khôn ngoan (3,12.32), là Đấng Thánh (4,22.37 ; 5,5). Người sẽ giải phóng dân lưu đày (4,18.23.29), vì Người là Đấng công minh (1,15 ; 2,6.9 ; 5,9) đầy lòng từ bi (2,27 ; 3,1 ; 5,9). Người sẽ cứu độ (4,8). Thiên Chúa tỏ vinh quang khi Người trừng phạt tội nhân, rồi Người lại tha thứ và cứu vớt họ.