Ét-te — Sách Ét-te
Ét-te
DẪN NHẬP SÁCH ÉT-TE
Lược truyện
Sách này thuật lại cho ta câu truyện về một thiếu nữ Do-thái. Tên cô là Ha-đát-xa, hay còn được gọi là Ét-te. Cô là cháu gái và là con nuôi của ông Moóc-đo-khai (2,7). Do bởi có nhan sắc nên cô được tiến cử vào hàng cung nữ và được sống trong hậu cung của vua nước Ba-tư (2,7-9). Thế rồi cô được nhà vua yêu mến và đã trở thành hoàng hậu trong vương quốc (2,16-17). Lúc ấy, quan Tể tướng của triều đình là Ha-man (3,1). Vị quan này nắm trong tay mọi quyền hành ; nhưng ông lại là người rất kiêu căng và ghen tị. Quan Ha-man muốn mọi người phải bái chào mình ở mọi nơi, nhưng ông Moóc-đo-khai không tuân theo lệnh ấy. Thế là quan Tể tướng hết sức căm giận và tìm cách trả thù (3,5). Ông liền bày mưu kế xin sắc chỉ của vua, có ý đòi huỷ diệt mọi người Do-thái sống trong đế quốc (3,2-6). Nhà vua trao quyền cho ông (3,11). Án lệnh của vua được ban hành (3,10-15). Ngày giờ để thực hiện cuộc tàn sát tập thể này được ấn định bằng cách rút thăm (3,7.13e).
Hoàng hậu Ét-te biết được ý đồ thâm độc ấy (4,4). Bà liền bàn bạc với ông Moóc-đo-khai, và tức tốc xin vua can thiệp để cứu đồng bào mình (4,5-17). Nhờ sự can đảm và khôn ngoan của Ét-te, nhà vua đã nhận lời bà (5,1-8 ; 7,1-7 ; 8,1-12). Nhờ đó, không những người Do-thái thoát được mối hiểm hoạ mà còn lật ngược thế cờ (9,1) : Những kẻ chống đối dân Do-thái đều bị tận diệt (8,11.13). Ngay cả đến quan Ha-man cũng bị treo cổ trên cái giá mà y đã dành sãn cho ông Moóc-đo-khai (7,9.10).
Sau đó, ông Moóc-đo-khai được vua cất nhắc lên thay thế quan Ha-man, và ông đã trở thành người quyền thế trong vương quốc Ba-tư (8,2 ; 9,4 ; 10,2.3). Để ghi nhớ những biến cố này, ông Moóc-đo-khai đã lập ra một ngày lễ và truyền cho người Do-thái phải mừng lễ này hằng năm (9,20-32).
Như vậy, nội dung cuốn sách xem ra cũng đơn giản. Chúng ta có thể xếp nó vào loại truyện “Ăn miếng trả miếng”, “Ở hiền gặp lành” hoặc “Gậy ông đập lưng ông” ... như bao câu truyện khác. Thế nhưng câu truyện này lại gây được ảnh hưởng rất lớn nơi người Do-thái. Họ yêu thích nó do bởi nó đề cao dân tộc họ và có liên hệ tới một ngày lễ hội phổ biến trong dân gian. Phải chăng đây cũng là chủ ý của tác giả : muốn kể lại một câu truyện thật hấp dẫn để có thể làm nền tảng lịch sử cho một ngày lễ hội, ngày mà người Do-thái ăn mừng thoả thích : lễ Pu-rim ? Và ngoài ý hướng đó ra, liệu sẽ còn gì hơn nữa ?
Tính sử
Song chúng ta không ngần ngại đặt ra câu hỏi : Câu chuyện hấp dẫn ấy có thực không ? Nó đáng tin tới mức nào ? Sách Ét-te kể lại cho chúng ta những biến cố có tính lịch sử, hay đó chỉ là câu chuyện hư cấu ?
Trước hết, nhiều chi tiết trong các trình thuật của sách Ét-te hoàn toàn phù hợp với các tài liệu lịch sử mà chúng ta có được về thời đại vương quốc Ba-tư. Tác giả cho ta thấy ông rất thông thạo về hoàng cung, triều đình, cũng như về hệ thống quản trị điều hành trong vương quốc. Ông biết miền đất của vua A-suê-rô trải dài từ Ấn-độ đến Ê-thi-óp (1,1). Ông biết thành Su-san nơi mà các bậc đế vương Ba-tư thường đến nghỉ ngơi vào mùa đông (1,2). Ông mô tả các sinh hoạt triều chính thật xác đáng : chẳng hạn như có bảy quan chức cao cấp trong triều đình (1,14), cuộc họp của các nhà thông thái (1,3), công tác của các phu trạm (3,13 ; 8,10), sắc chỉ của vua không thể bị huỷ bỏ (1,19 ; 8,8), việc ban thưởng và ghi chép công trạng những người có công với nhà vua (2,23 ; 6,8) ...
Tác giả cũng biết khá rõ về phong tục Ba-tư như : ngày lành tháng tốt để “bắt thăm gieo quẻ” (3,7), người ta ăn uống khi ngả mình trên giường (7,8), án tử hình được thực hiện bằng cách treo cổ (7,9) ... Hơn nữa, cá tính của vua A-suê-rô cũng được tác giả hoạ lại khá chính xác, phù hợp với những gì mà các tài liệu lịch sử đã nói về vua ấy : Đó là một ông vua thích chè chén say sưa (1,4-7), ưa tổ chức tiệc tùng xa hoa, hoang phí (5,3 ; 6,6-7) tính khí bốc đồng, thất thường, ngông cuồng và đam mê sắc dục ...
Thế nhưng tất cả những nhận xét trên chỉ có thể cho phép ta kết luận rằng tác giả rất quen thuộc với đời sống và lịch sử của vương quốc Ba-tư, chứ ta không thể lấy đó làm nền tảng chắc chắn cho sử tính của toàn bộ câu truyện ; bởi lẽ bên cạnh những yếu tố xác thực ấy, ta lại khám phá ra những tình tiết thật đáng nghi ngờ, chẳng hạn : bữa tiệc vua thết đãi kéo dài đến 180 ngày (1,1-3), có một vị hoàng hậu dám từ chối mệnh lệnh của nhà vua (1,12), vua đặt những người không phải là dân Ba-tư lên những chức vị quan trọng (3,1 ; 8,2 ; 10,3) ; không biết có vua nào đã ra lệnh giết người Do-thái (3,11) rồi lại cho người Do-thái được phép giết người ở mọi nơi, kể cả trong thành vua đang ở (9,11-15) ? Và cũng có một chi tiết khá nực cười : vua cho mọi người đàn ông được làm chủ nhà của họ (1,22) !
Hơn nữa, nhiều diễn biến trong sách Ét-te lại hoàn toàn không đúng với lịch sử. Chẳng hạn như lịch sử không hề nói đến một bà hoàng hậu nào của vua A-suê-rô có tên là Vát-ti hay Ét-te. Cô Ét-te đến cung điện Su-san vào năm 480 tCN, nhưng theo các tài liệu lịch sử thì lúc đó, vua Xéc-xét đang chiến đấu bên Hy-lạp. Theo Et 2,16-37, Ét-te đã làm hoàng hậu từ năm thứ bảy đến năm thứ mười hai triều đại A-suê-rô, nhưng lịch sử bảo rằng vị hoàng hậu đó là bà A-mét-trít. Hơn nữa, hoàng hậu Ba-tư phải là người thuộc dòng giống Ba-tư chính thống, và thuộc giai cấp quý tộc, chứ không thể có lý lịch lờ mờ. Rồi nếu ông Moóc-đo-khai phải đi lưu đày từ thời vua Na-bu-cô-đô-nô-xo vào năm 597 tCN (2,6) thì giờ đây, ít nhất ông đã sống trên một thế kỷ (!) và Ét-te cũng phải gần trăm tuổi (!). Mà ai lại có thể tin được một người Do-thái già nua, bỗng chốc vụt trở thành Tể tướng của vương quốc Ba-tư chỉ trong một sớm một chiều ? Hay là làm sao ông Moóc-đo-khai và cô Ét-te lại giấu kín được tông tích của mình ngay giữa triều đình Ba-tư trong một thời gian dài đến thế ?
Tất cả những lý chứng trên cho phép ta xác nhận rằng tác giả sách Ét-te là người biết khá rõ về thời đại, nơi chốn, bối cảnh xảy ra câu chuyện ; nhưng những yếu tố ấy không đủ để làm cho câu truyện ông kể trở thành một câu truyện hoàn toàn có thật. Song ta có thể kết luận rằng tác giả đã khôn khéo sử dụng một khung cảnh lịch sử xác thực, để đưa vào trong đó một truyền kỳ đậm nét tưởng tượng. Câu chuyện của ông có hương vị lịch sử, nhưng ông không hề có ý định thuật lại cho ta một biến cố lịch sử. Đúng hơn, ông chỉ muốn xuyên qua một câu chuyện tiểu thuyết để nêu lên những chủ đề then chốt trong niềm tin tôn giáo của mình.
Bản văn
Sách Ét-te được lưu truyền dưới hai dạng thức văn chương : Bản văn gốc Híp-ri và bản văn dịch Hy-lạp.
– Bản Híp-ri thường được người Do-thái gọi là Cuộn Ét-te (Megillat Esther). Trong Kinh Thánh Híp-ri, cuộn Ét-te được liệt vào khối kơtuâbiâm, nghĩa là “các tác phẩm”, và được xếp sau cuốn Ai ca.
– Bản Hy-lạp vừa phiên dịch, vừa thay đổi một vài dữ liệu của bản Híp-ri. Hơn nữa bản Hy-lạp còn đưa thêm vào đó 107 câu, được bao gồm trong sáu đoạn văn lớn, nằm rải rác xen giữa mười chương của bản Híp-ri.
Khi thánh Giê-rô-ni-mô duyệt lại bản văn La-tinh cổ, người đã so sánh hai bản văn Híp-ri và Hy-lạp của sách Ét-te, và người cho rằng những câu mà bản Hy-lạp thêm vào không được ơn thần hứng. Thế nên thánh Giê-rô-ni-mô tách riêng những câu đó ra khỏi văn mạch, rồi xếp chung tất cả vào phần phụ lục cuối cùng của cuốn sách. Đến thời Trung Cổ, khi bản văn Kinh Thánh được đánh số thành các chương và câu, những đoạn thêm vào này cũng được ghi số theo như vị trí chúng được xếp đặt trong bản Vulgata của thánh Giê-rô-ni-mô, chứ không theo vị trí của chúng trong bản Hy-lạp.
Người Do-thái không chấp nhận những câu mà bản Hy-lạp đã thêm vào, nên không đưa chúng vào trong quy điển Kinh Thánh Do-thái. Đối với người Ki-tô hữu, vấn đề này cũng từng là đề tài tranh luận sôi nổi mãi cho tới Công Đồng Tren-tô. Công Đồng này đã quyết định chấp nhận trọn vẹn cả bản văn Do-thái lẫn bản văn Hy-lạp.
Chúng ta sẽ trình bày những đoạn văn mà bản Hy-lạp thêm vào bằng cách đánh số câu như thông lệ nhưng có kèm thêm mẫu tự ; và chúng ta xếp đặt chúng theo thứ tự của bản Hy-lạp. Nhờ đó độc giả có thể dễ dàng nhận ra đâu là những câu mà bản Hy-lạp đã thêm vào, đồng thời vẫn theo sát được diễn biến và bối cảnh của câu truyện. Sáu đoạn văn lớn mà bản Hy-lạp đã thêm vào là :
1,1a-r : Miêu tả giấc mơ của ông Moóc-đo-khai và việc ông khám phá ra mưu đồ sát hại vua A-suê-rô.
3,13a-g : Sắc chỉ của nhà vua được quan Ha-man ra lệnh tuyên bố cuộc tàn sát người Do-thái.
4,17a-aa : Lời kinh của ông Moóc-đo-khai và lời kinh của Ét-te.
5,1a-e : Cuộc tiếp kiến bất ngờ diễn ra giữa vua A-suê-rô và hoàng hậu Ét-te.
8,12a-v : Sắc chỉ của nhà vua được ông Moóc-đo-khai soạn thảo để bênh vực người Do-thái.
10,3a-l : Giải thích giấc mơ của ông Moóc-đo-khai và kết thúc cuốn sách.
Đạo lý
Đây chính là điểm nóng, điểm đáng bàn luận nhất của sách Ét-te : Người ta nghi ngờ nhiều về cung điệu đạo đức của cuốn sách. Có độc giả đã nhận xét chí lý rằng “Chẳng thấy người nào cao thượng trong sách Ét-te”. Thật vậy, về mặt đạo đức, có lẽ sách Ét-te còn dưới mức trung bình khi so với các sách Cựu Ước khác. Các nhân vật trong sách đều là những kẻ lừa đảo, đầy dẫy mưu đồ, thậm chí còn dã man nữa ! Có lẽ người duy nhất đáng biểu dương trong toàn câu chuyện là bà Vát-ti, người phụ nữ dám để mất ngôi hoàng hậu, vì từ chối không để cho bá quan văn võ thưởng thức “sắc đẹp” của mình.
Dựa vào đó, Rabbi Sandmel đã nói công khai rằng ông chẳng hề buồn lòng chút nào nếu như cuốn Ét-te bị loại ra khỏi các Sách Thánh. Martin Luther cũng không ngần ngại phát biểu : “Tôi hoàn toàn không thích quyển Ét-te đến độ ước mong đừng có nó thì hơn, vì lẽ nó quá tôn vinh người Do-thái và chất đầy những điểm dị giáo thật bất xứng.”
Hơn nữa, cuốn sách còn cho ta thấy nó thiếu hẳn những chủ đề quan trọng trong Cựu Ước. Ngay cả bản văn Híp-ri cũng không nói lên được lời nào quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa. Trong khi vua A-suê-rô, vị vua Ba-tư được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, thì “Thiên Chúa, Chúa của Ít-ra-en” chẳng có lần nào được nhắc đến. Ngoại trừ việc ăn chay, người ta không tìm thấy những chủ đề căn bản trong Cựu Ước như : lề luật, giao ước, tuyển chọn, hy lễ, đền thờ ... May thay ! Bản văn Hy-lạp đã cố gắng bù đắp phần nào những thiếu sót này, cho dù nó không được mọi người chấp nhận cách dễ dàng !
Nhiều người Ki-tô hữu ngày nay còn cho rằng sách Ét-te quá đậm đà màu sắc Do-thái giáo quá khích. Hơn nữa, thật khó chấp nhận nội dung của cuốn sách có thể hoà nhập được với đức bác ái Ki-tô giáo, phù hợp với lệnh truyền của Chúa Ki-tô : “Hãy yêu mến kẻ thù”. Thật vậy, nhiều tín hữu không chấp nhận nội dung sứ điệp của sách Ét-te vì cho rằng nó còn quá xa cách Tin Mừng Cứu Độ.
Dẫu sao, chúng ta cũng nên trở về với ý hướng của tác giả, và nhất là tìm hiểu nguyên do đã phát sinh ra tác phẩm để thấy rằng sách Ét-te còn có nhiều điều muốn nói với chúng ta :
Trước hết, cuốn sách thuật lại sự tồn tại của dân Do-thái thiểu số, sống giữa một thế giới thù nghịch căm ghét họ. Nên nhớ rằng tác giả sách Ét-te muốn nhấn mạnh đến cốt truyện và hậu kết của nó hơn là đến tính cách nhân vật. Ngoại trừ vua A-suê-rô, xuất hiện như một bạo vương phần nào xác thực, có mặt trong lịch sử, còn tất cả những nhân vật khác, hầu như không có chút gì là “bằng xương bằng thịt” đáng để cho ta tin. Họ chỉ là những công cụ để tác giả sử dụng nhằm xây dựng ý nghĩa câu truyện của mình. Thế nên cuốn sách có mục đích rõ ràng là để giáo huấn. Qua việc ca tụng dân Do-thái và giải thích ý nghĩa ngày lễ Pu-rim, tác giả nhấn mạnh đến sự tồn tại của dân được chọn, và muốn chứng tỏ rằng Thiên Chúa sẽ hành động đúng lúc để bảo vệ và giải cứu dân này. Cho dù tất cả mọi biến cố được sắp xếp theo ý đồ độc đoán của con người, Thiên Chúa vẫn có thể can thiệp bất cứ lúc nào để “lật ngược thế cờ”. Và Người không cần phải xuất hiện hay ra tay trực tiếp, nhưng tác động thần linh của Ngài vẫn có thực, hữu hiệu dù là dưới những hình thức kín ẩn.
Như vậy, truyện kể về hoàng hậu Ét-te phần nào cũng giống như câu chuyện về ông Giu-se (St 37-50). Bà Ét-te được nâng lên tới địa vị hoàng hậu Ba-tư là để bà có thể bảo vệ người Do-thái, cũng như ông Giu-se được cất nhắc lên tới địa vị thứ hai trong nước Ai-cập là để ông có thể cứu thoát được toàn thể gia đình. Thế nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng điều khiển tất cả. Người nắm giữ mọi vận mệnh và quyết định hướng đi cho lịch sử xuyên qua những con người ấy. Bản văn Kinh Thánh không hề ủng hộ hành động của ông Moóc-đo-khai hay của bà Ét-te, song chỉ đơn giản đề cao hiệu quả của những hành động ấy. Và đó chính là điều Thiên Chúa đã dự định : Sự tồn tại của người Do-thái ! Mặt khác, Thiên Chúa “can thiệp” qua bàn tay con người, nhưng Người không bao giờ áp đặt con người để bảo đảm cho dự định của Người. Thiên Chúa đã ban cho con người có tự do là để họ tự quyết định cho số phận của chính mình. Vậy nên việc tác giả không muốn nói về Thiên Chúa cách trực tiếp cũng là để nhắc nhở cho người Do-thái : Họ vẫn phải chịu trách nhiệm về sự tồn vong của chính họ !
Ngoài ra, sách Ét-te còn cống hiến cho chúng ta những bài học khác. Đó là các chủ đề thường được các sách Giáo Huấn đề cập tới : chẳng hạn như : Chúa triệt hạ phường tự mãn (Kn 11,16 ; Cn 15,33 ; 18,12) ; người lành được nâng lên (Gv 10,8 ; Tv 7,16) ; Thiên Chúa quan phòng (4,14 ; 5,1-6) ; và hiệu quả của việc chay tịnh (4,16) ...
Quy điển
Như ta đã nêu trên, vì thiếu vắng những yếu tố đạo giáo quan trọng, sách Ét-te không dễ gì được công nhận là Sách Thánh. Ngay từ thời xa xưa, cả người Do-thái cũng như người Ki-tô hữu đều nghi ngờ và tranh luận gắt gao về tính quy điển của cuốn sách này. Chúng ta hãy nói đến một vài dữ kiện quan trọng.
Trước hết, các cuộn tài liệu Biển Chết không hề nhắc đến sách Ét-te. Cộng đoàn Ét-xê-nô (150 tCN đến 68 sau CN) đã không sử dụng sách này ; và trong niên lịch phụng vụ của cộng đoàn, chúng ta cũng không tìm thấy ngày lễ Pu-rim. Vào thế kỷ thứ nhất, sử gia Giô-xếp Phơ-la-vi-o nói rằng quy điển Thánh Kinh của người Do-thái gồm có 22 cuốn sách. Nhưng thật đáng tiếc, ông lại không liệt kê cho ta biết danh tánh của những cuốn sách ấy.
Tuy nhiên, đại hội Giam-ni-a (90 sau CN) đã thận trọng xem xét và quyết định công nhận sách Ét-te là Sách Thánh. Từ đó, sách Ét-te được xếp vào hàng ngũ 24 quyển Kinh Thánh của người Do-thái. Ta cũng nên lưu ý rằng chỉ sau khi cuốn Ét-te được nhìn nhận là quy điển, các Ráp-bi mới bắt đầu trích dẫn nó như là nền tảng vững chắc cho việc tuân giữ ngày lễ Pu-rim. Thế rồi quyển Ét-te càng ngày càng được nhiều người Do-thái tôn kính và được đọc trong các buổi hội họp phụng vụ.
Thế nhưng cho dù công hội Giam-ni-a đã xác quyết như thế, sách Ét-te vẫn còn bị nhiều người chống đối. Tình trạng bất đồng này tiếp tục lan tràn sang cả những người Ki-tô hữu. Quả vậy, thế giới Ki-tô giáo không hoàn toàn nhất trí về tính quy điển của sách Ét-te. Giáo Hội Tây Phương hầu như luôn nhìn nhận sách Ét-te là Sách Thánh, cho dù thánh Clément de Rome còn chần chừ ! Nhưng Giáo Hội Đông Phương lại có những lập trường khác nhau. Thượng phụ Melito de Sardis, thánh A-tha-na-xi-ô, Théodore de Mopsuestia ... từ chối đưa sách Ét-te vào quy điển ; thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en thì hết sức dè dặt ; trong khi thánh Sy-ri-lô Giê-ru-sa-lem, thánh Gio-an Đa-mát, Ô-ri-giê-nê, Ê-pi-pha-nê... lại nhìn nhận. Dẫu sao, quy điển Laodice, Công Đồng Constantinople, cũng như Công Đồng Hippo năm 393, Công Đồng Carthago 397 bên Giáo Hội Tây Phương, đều đồng ý chấp nhận Ét-te là thuộc quy điển.
Đến thế kỷ XVI, các tín hữu lại tranh luận sôi nổi về tính quy điển của những phần mà bản Hy-lạp đã thêm vào. Tất nhiên, Kinh Thánh Híp-ri không chấp nhận những đoạn văn này. Người Tin Lành theo quan điểm của Luther cũng theo lập trường đó, và họ gọi những đoạn văn này là ngoại thư. Nhưng truyền thống của Giáo Hội Công Giáo không hề phân biệt bản văn Hy-lạp với bản văn Híp-ri ; cuối cùng, sắc lệnh của Công Đồng Tren-tô năm 1549 đã ấn định chung cuộc tính quy điển cho toàn bộ và từng phần của sách Ét-te. Công Đồng chấp nhận tất cả đều là những đoạn văn được ơn linh hứng, và Giáo Hội Công Giáo gọi những phần mà bản Hy-lạp thêm vào là Đệ Nhị quy điển.
Thời điểm biên soạn
Sách Ét-te đã xuất hiện khi nào ? Vấn đề thật khó giải quyết, vì ta không biết gì về tác giả và nơi chốn đã phát sinh ra cuốn sách. Hơn nữa, các nhà phê bình Kinh Thánh lại đề nghị nhiều giải đáp khác nhau đòi buộc ta phải hết sức thận trọng. Tốt nhất, chúng ta nên phân biệt hai mốc thời điểm xuất hiện : thời điểm sớm nhất (terminus a quo) và thời điểm muộn nhất (terminus ad quem).
1. Tất nhiên, ta có thể chọn năm 94 sau CN làm thời điểm muộn nhất cho cuốn sách, vì đó là thời điểm sử gia Giô-xếp diễn giải bản LXX trong cuốn “Thời Cổ Đại Do-thái” của ông. Tuy nhiên, nếu phần phụ lục của sách Ét-te (10,3k) là xác thực thì thời điểm muộn nhất cho bản dịch Hy-lạp của sách Ét-te sẽ được “nâng lên” vào năm 78 tCN hay năm 114 tCN (x. 10,3k và chú thích). Và như thế, bản văn Híp-ri có thể đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ II tCN.
2. Còn về thời điểm sớm nhất thì sao ? Trước hết, dựa vào 2 Mcb 15,36, ta có thể cho rằng người Do-thái đã cử hành “ngày Moóc-đo-khai” từ năm 160 tCN. Do đó, nếu như các biến cố mà sách Ét-te thuật lại thật sự đã là nền tảng cho ngày lễ này, thì ắt hẳn cuốn sách đã phải có trước đó. Mặt khác, vì lẽ cả ông Moóc-đo-khai lẫn cô Ét-te đều không được tác giả sách Huấn ca nhắc tới, nên có người đề nghị phải “hạ” terminus a quo của cuốn sách xuống dưới năm 190 tCN.
Thế nhưng, vượt qua những ý kiến “bên ngoài” ấy, ta cũng phải lưu tâm đến nội dung “bên trong” của cuốn sách. Bối cảnh của sách Ét-te là triều đại Ba-tư. Bản văn Híp-ri chứa đựng một số từ Ê-lam và Ba-tư mà không hề có những kiểu nói Hy-lạp. Hơn nữa, văn thể của bản Ét-te Híp-ri hầu như không có gì liên hệ với các tài liệu Cum-ran, nhưng lại khá giống với các sách Sử biên niên. Rồi căn cứ trên những chứng lý về ngôn ngữ và khảo cổ liên quan đến sách Ét-te, người ta khó có thể xếp nó vào những bản văn thuộc các thế kỷ muộn màng sau này. Nhìn chung, bản Híp-ri có thể đã được soạn tác vào cuối thời đại Ba-tư hay đầu thời đại Hy-lạp. Đây là giai đoạn có thể chấp nhận được cho thời điểm sớm nhất của sách Ét-te.
Ngày lễ Pu-rim
Theo Et 10,3a-k, người Do-thái phải cử hành một ngày đại lễ vào ngày 14 và ngày 15 tháng A-đa để mừng việc họ được Thiên Chúa giải thoát. Đó là ngày lễ Pu-rim. Sử gia Giô-xếp chứng thực rằng vào thời của ông, người Do-thái ở Pa-lét-tin đã duy trì ngày lễ này. Thế nhưng Kinh Thánh không hề nhắc đến lễ Pu-rim, ngoại trừ 2 Mcb 15,36 có đề cập đến “Ngày Moóc-đo-khai”. Mối liên hệ giữa sách Ét-te và ngày lễ Pu-rim cũng không rõ ràng. Ngày lễ có trước, câu truyện có sau ? Hay là ngày lễ phát xuất từ nội dung câu truyện có trong cuốn sách ? Nhiều người còn nghi ngờ về nguồn gốc của ngày lễ, vì ngay cả đến chữ “Pu-rim” cũng không mang tính cách Do-thái bao nhiêu. Bằng chứng là trong sách Ét-te, tác giả đã phải kiên trì giải thích đến mấy lần : “... Người ta gieo Pua, nghĩa là ...” (Et 3,7 ; 9,24.26).
Dường như lễ Pu-rim được bắt nguồn từ Ba-by-lon. Điều dễ thấy là tên ông Moóc-đo-khai và tên cô Ét-te đều khá giống với tên của hai vị thần Ba-by-lon : Thần Mác-đúc và nữ thần Ít-ta. Thời đó, vào tháng đầu tiên trong năm, dân chúng thường “gieo quẻ, rút thăm” chọn ngày lành tháng tốt và mừng lễ chiến thắng của thần Mác-đúc. Các bài thơ Ba-by-lon cũng được xướng ca, tán dương thần Ít-ta trong dịp này. Ngày lễ như thế mang tính cách của một “lễ hội mùa Xuân” : người ta hân hoan vui sướng và ăn uống say sưa bí tỉ ...
Rất có thể những người Do-thái kiều trong các cộng đoàn Do-thái ở Ba-tư đã đón mừng “lễ hội mùa Xuân” này, rồi họ gắn kết vào đó một câu truyện về ơn giải thoát. Giống như thời Xuất Hành, một ngày lễ đầu xuân của dân du mục đã được biến cải thành lễ Vượt Qua của người Do-thái. Và phải chăng chính vì các sách Luật (Tôrah) không nói gì đến ngày lễ Pu-rim nên sách Ét-te đã được viết ra để củng cố và làm nền tảng cho việc tuân giữ ngày lễ này ?