Gióp — Sách Gióp

vi

Gióp

DẪN NHẬP SÁCH GIÓP

Vị trí sách Gióp trong quy điển

Sách Gióp đã được xếp vào phần ba của bộ Kinh Thánh Híp-ri, tức là phần Văn Phẩm. Vị trí sách Gióp thay đổi tuỳ theo quy điển. Tan-mút đưa ra thứ tự : Rút, Thánh vịnh, Gióp, Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Ai ca, Đa-ni-en, Ét-te, Ét-ra, 1,2 Sử biên niên. Quy điển A-lê-xan-ri-a xếp theo thứ tự : Thánh vịnh, Gióp, Châm ngôn ... ; nhưng thánh Sy-ri-lô giám mục Giê-ru-sa-lem, Ê-pi-pha-ni-ô, thánh Giê-rô-ni-mô, Ru-phi-nô và quy điển Tông Toà lại thừa nhận thứ tự : Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn. Như thế sách Gióp đứng đầu các sách Giáo Huấn. Công Đồng Tren-tô cũng ấn định như vậy.

Hình thành tác phẩm

Thoạt nhìn vào hình thức sách Gióp hiện nay, chúng ta dễ lầm tưởng sách Gióp do một tác giả duy nhất soạn. Nhưng đọc kỹ nội dung, chúng ta khám phá ra tác phẩm này không thể do một người biên soạn. Tác phẩm được viết dưới hai thể văn : văn xuôi và thi ca. Văn xuôi thuật chuyện bình dân 1,1 – 2,13 ; 42,7-17 ; thi ca ghi những đối thoại 3,1 – 42,6.

Đọc phần văn xuôi, tức lời mở đầu và đoạn kết, chúng ta có thể giả thiết rằng tác giả đã gặp một câu chuyện bình dân xưa, được viết hay truyền khẩu. Chính tư liệu này đã cung cấp cho ông những ý tưởng sơ khởi để soạn thảo tác phẩm. Ông đã sử dụng trình thuật bình dân làm lời mở đầu và đoạn kết như ta thấy. Trong lời mở đầu, ông đưa ra ba nhân vật (2,11-13) và ông nhắc lại trong đoạn kết (42,7-9). Rồi ông sáng tác theo thể thi ca những lời đối thoại, và những lời phán dạy của Thiên Chúa. Về sau, chính tác giả, hay có lẽ một người khác thêm vào những lời lẽ của ông Ê-li-hu (ch. 32-37) và chen vào bài thơ ca tụng Đức Khôn Ngoan. Đây là một trong những đoạn thơ sáng giá nhất của sách Gióp, nhưng lại không hợp với văn mạch ; bài thơ này không do môi miệng ông Gióp, cũng chẳng do các bạn ông ca tụng. Có thể người thế hệ sau đã thêm vào chăng ? Sau hết, người ta thêm vào các lời phán dạy của Thiên Chúa về con đà điểu (39,13-18), hai con thú Bơ-hê-mốt và Giao Long (40,15 – 41,26).

Vậy sách Gióp chúng ta hiện đang có trong tay không phải là một sáng tác duy nhất, mà là một tác phẩm gồm sưu tập và soạn tác. Chúng ta không cần quan tâm ai là tác giả của những phần đó. Chúng ta chỉ coi hình thức cuối cùng của sách Gióp đã được soạn thảo là một cuốn sách thuộc quy điển. Vì thế, chúng ta nên đọc sách Gióp như là một tác phẩm văn chương duy nhất.

Bố cục

A. Lời mở đầu 1,1 – 2,13

B. Đối thoại 3,1 – 31,40

1. Thiên thứ nhất 3,1, – 14,22

– Độc thoại : Ông Gióp nguyền rủa ngày ông chào đời 3,1-26

– Đối thoại : Ông Ê-li-phát lên tiếng lần I 4,1 – 5,27

+ Ông Gióp trả lời lần I 6,1 – 7,21

+ Ông Bin-đát lên tiếng lần I 8,1-22

+ Ông Gióp trả lời lần II 9,1 – 10,22

+ Ông Xô-pha lên tiếng lần I 11,1-20

+ Ông Gióp trả lời lần III 12,1 – 14,22

2. Thiên thứ hai 15,1 – 21,34

– Ông Ê-li-phát lên tiếng lần II 15,1-35

– Ông Gióp trả lời lần IV 16,1 – 17,16

– Ông Bin-đát lên tiếng lần II 18,1-21

– Ông Gióp trả lời lần V 19,1-29

– Ông Xô-pha lên tiếng lần II 20,1-29

– Ông Gióp trả lời lần VI 21,1-34

3. Thiên thứ ba 22,1 – 27,23

– Ông Ê-li-phát lên tiếng lần III 22,1-30

– Ông Gióp trả lời lần VII 23,1 – 24,25

– Ông Bin-đát lên tiếng lần III 25,1-6

– Ông Gióp trả lời lần VIII 26,1 – 27,12

– Ông Xô-pha lên tiếng lần III 27,13-23

4. Ca tụng Đức Khôn Ngoan 28,1-28

5. Ông Gióp độc thoại : kết thúc cuộc đối thoại 29,1 – 31,40

– Ông Gióp than van và biện hộ

a. Những ngày xa xưa 29,1-20

b. Cơn khốn cùng hiện tại 30,1-31

c. Lời biện hộ của ông Gióp 31,1-40

C. Lời lẽ của ông Ê-li-hu 32,1 – 37,24

– Ông Ê-li-hu can thiệp 32,1-6a

– Lời mở đầu 32,6b-22

– Lòng tự cao của ông Gióp 33,1-33

– Ba nhà khôn ngoan không biện hộ nổi cho Thiên Chúa 34,1-37

– Thiên Chúa không dửng dưng trước công việc của con người 35,1-16

– Ý nghĩa đích thực những đau khổ của ông Gióp 36,1-21

– Thánh thi ca ngợi Đức Khôn Ngoan toàn năng 36,22 – 37,24

D. Lời Đức Chúa phán dạy 38,1 – 42,6

– Lời thứ nhất 38,1 – 40,5

– Lời thứ hai 40,6 – 41,26

– Câu trả lời cuối cùng của ông Gióp 42,1-6

Đ. Đoạn kết 42,7-17

Tác giả

Theo lời mở đầu, ông Gióp, nhân vật chính, là một thủ lãnh vùng sa mạc, có lẽ ở Ê-đôm, vì bối cảnh xảy ra ở Ê-đôm. Nhưng trong phần thi ca, lời của ông Gióp cho thấy ông sống không xa thành phố, ông là chủ toạ hội đồng thành phố.

Cứ xem : cuộc đối thoại không hề nói đến Ít-ra-en được tuyển chọn, không nói đến giao ước thời ông Mô-sê, giao ước với vua Đa-vít, đồi thánh Xi-on, đền thờ, tế tự, niềm trông đợi Đấng Mê-si-a. Có lẽ tác giả là một người miền Cận Đông chăng ?

Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng người sáng tạo cuộc đối thoại giữa ông Gióp và ba người bạn phải là một người Giu-đa vì ông biết tường tận các lời sấm của các ngôn sứ lớn, đặc biệt ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Ông thuộc lòng các thánh vịnh quen hát ở đền thờ Giê-ru-sa-lem, như Tv 38 ; 88 ; 102 và thuộc các câu châm ngôn quen dùng trong cung điện của các vua Giu-đa. Ông am tường bối cảnh xứ Pa-lét-tin và hiểu nhiều về các dân tộc láng giềng, đặc biệt Ai-cập (x. 8,11 ; 40-41 ; 39,13-18 ; 6,15-20 ; 28,1-11).

Tác giả là một người có chiều sâu tôn giáo, nhạy cảm trước những hoàn cảnh bi thương của nhân loại, nhất là đau khổ cá nhân. Hẳn ông đã trải qua kinh nghiệm buồn phiền thể lý và tinh thần nên mới có thể viết về nhân vật Gióp như vậy. Sự thành thật trong tư tưởng và tình cảm sâu sắc của ông, sự hiểu biết sâu rộng về bản tính nhân loại, vẻ đẹp sinh động và hiện thực, các ẩn dụ và các so sánh đem lại cho công trình của ông khả năng đưa tâm trí và trái tim con người vào mọi thời mọi nơi.

Có một điều chắc chắn : tác giả sách Gióp thuộc thành phần trí thức ưu tú của thời đại ông.

Thời gian biên soạn

Khuynh hướng chung coi sách Gióp được soạn sau thời lưu đày. Sau thời lưu đày, tại Giu-đa xuất hiện nền văn chương khôn ngoan. Dân Chúa đã mất tất cả : tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội ... Nỗi thất vọng của dân khiến một số người quy chiếu mọi giá trị ra hiện tại và đặt vấn đề đức tin của mình vào sự công bình của Thiên Chúa. Người ta có dịp suy tư về chính thân phận của mình.

Có người cho rằng lời mở đầu và đoạn kết là một câu chuyện dân gian của một hiền nhân ở Cận Đông vào cuối thiên niên kỷ thứ hai tCN, được viết lại bằng tiếng Híp-ri vào thời Sa-mu-ên, vua Đa-vít hoặc Sa-lô-môn (thế kỷ XI – IX). Ed 14,12-23 nói đến Gióp, Nô-ê và Đa-ni-ên.

Phần chính (3,1 – 31,40 ; 38,1 – 42,6) được sáng tác vào thời hậu lưu đày, tức thời kỳ Hy-lạp đô hộ, sau năm 538 tCN. Hơn nữa, G 3,1-9 ; 21,7-8 cho thấy đã chịu ảnh hưởng tư tưởng của ngôn sứ Giê-rê-mi-a, nên chắc chắn có sau Gr. G 9,23-24 nêu lên tình trạng xã hội giống như thời canh tân của ông Ét-ra và ông Nơ-khe-mi-a. Vậy sách Gióp không thể ra đời trước thế kỷ V tCN. Vả lại, chính vấn đề được đặt ra trong sách về quan niệm thưởng phạt cá nhân chưa được rõ ràng. Phải đợi đến sách Đa-ni-en quan niệm này mới sáng sủa. Cách dùng từ ngữ khá đặc biệt, có chen lẫn tiếng A-ram vào tiếng Híp-ri. Văn thể độc đáo trong Kinh Thánh : thể đối thoại bằng thi ca.

Người ta ước đoán sách được soạn trong khoảng giữa thế kỷ VI và thế kỷ IV tCN.

Thể văn

Sách Gióp thuộc loại giáo huấn, được viết dưới hình thức thi ca và được trình bày theo thể đối thoại xoay quanh một luận đề : thưởng phạt công minh.

Riêng về phần Thiên Chúa phán dạy gợi cho thấy hình thức văn chương cổ điển miền Cận Đông gọi là Onomasticom, nghĩa là khoa nghiên cứu tên riêng, kể tên các sự vật có đặc tính giống như thế, chẳng hạn vũ trụ học, khí hậu học, hoặc các hiện tượng thiên nhiên. Các danh mục này có lẽ là tiền khoa học cố gắng xếp loại các hiện tượng thiên nhiên. Điều này chứng tỏ con người cố gắng hết mình để hiểu biết vũ trụ. Tác giả sách Gióp đặt Thiên Chúa giữ vai trò thầy dạy khôn ngoan. Ông Thầy đặt ra những câu hỏi trao đổi với ông Gióp để thử xem ông Gióp hiểu biết đến đâu về những kỳ diệu của vũ trụ. Đây là một kiểu mẫu dạy thuật ngữ thuộc truyền thống khôn ngoan. Sử dụng thiên nhiên như phương tiện giáo huấn cũng là nét đặc trưng của truyền thống khôn ngoan.

Mục đích

Thời sách Gióp xuất hiện, quan niệm về thưởng phạt cá nhân ở đời sau nơi dân Ít-ra-en chưa được minh bạch. Quan niệm về tình trạng con người sau khi chết rất mơ hồ. Cái chết đến bất chợt và có một lần, nên người ta không biến mất hoàn toàn. Sau khi chết, người ta xuống âm phủ (Shéol) để sống buồn thảm. Trong nơi cư trú tối tăm này, tất cả mọi người đều như nhau, giàu hay nghèo, lương thiện hay bất lương. Do đó ý niệm về thưởng phạt hoàn toàn theo viễn tượng cuộc sống tại thế. Kẻ tội lỗi gánh chịu hậu quả việc làm bất chính của mình là đau khổ. Sách Gióp đã khai phá một con đường dẫn đưa người ta đi xa hơn quan niệm thưởng phạt đời này. Nhân vật Gióp là một kiểu mẫu cho những ai chịu thử thách đau khổ. Dù đớn đau trong tinh thần (con cái chết, bị vợ bỏ, bạn bè khinh), nơi thể xác (ghẻ lở hôi thối, gầy gò, mất hết tài sản), ông Gióp vẫn yêu mến trung thành phụng thờ Thiên Chúa, không dám oán trách Thiên Chúa. Ông quả quyết mình vô tội, vì ông là người ngay thẳng, vẹn toàn, kính sợ Thiên Chúa. Có công chính như vậy, ông mới chịu đựng nổi thử thách. Thiên Chúa tín nhiệm ông Gióp là kẻ phụng thờ Người, nên Người đã để cho Xa-tan hành hạ ông. Cuối cùng, câu trả lời cho vấn nạn “Thiên Chúa có công bình không ?” đã được giải đáp : Thiên Chúa hành động theo ý của Người, chứ không theo ý của phàm nhân.

Bài học

Người Việt Nam có câu : “Ở hiền gặp lành.” Đạo lý ấy có lẽ là cái nhìn chung về cuộc sống con người nơi các dân tộc. Nhận định ấy cũng được dân Ít-ra-en tán thưởng. Theo quan niệm cổ truyền nơi dân Ít-ra-en, người công chính luôn được thịnh vượng và may mắn ; còn kẻ gian ác phải đau khổ. Luật “quả báo” được ứng nghiệm ngay ở đời này. Sách Thánh nói nhiều đến thưởng phạt (x. Xh 23,20 ; Lv 26 ; Đnl 28 ; Tv 1 ; 37 ; 49 ; 73 ; Is 58,6-14 ; Gr 7,5-7 ; 12,14-17 ; 17,5-8 ; Ed 18).

Thế nhưng, sách Gióp đưa ra một vấn nạn qua nhân vật Gióp, “một người vẹn toàn, có lòng kính sợ Đức Chúa” : Tại sao người công chính lại đau khổ ?

Bản thân ông Gióp không hề biết đến những tai hoạ xảy đến cho mình là do Xa-tan gây ra. Mục đích cuộc thử thách này là xem lòng mộ đạo của ông Gióp có hoàn toàn vô vị lợi không. Các bạn quả quyết ông là một người tội lỗi và đáng chịu trừng phạt vì Thiên Chúa công bình nên thưởng phạt rất công minh. Còn ông, ông kịch liệt chống lại những lời buộc tội của các bạn. Ông không làm điều gì xấu ; ông vô tội nên phải được Thiên Chúa nâng đỡ, phù trì.

Ông Gióp cũng như các bạn đều không biết rằng Thiên Chúa coi ông là một người công chính. Chính vì thế ông như muốn chống lại án phạt của Người. Ông ước ao tranh luận với Thiên Chúa (13,3), nhưng lại không biết tìm Người ở đâu, cũng không thể bắt Người phải nghe lời biện hộ của ông. Ông tố cáo Thiên Chúa đã coi ông như kẻ thù (13,24), bắn mũi tên vào ông (6,4). Người đã dựng nên ông, rồi chính Người lại diệt trừ ông (10,8). Một khi ra hầu toà, ông muốn có người làm chứng (16,19.21), người trung gian hay người làm trọng tài (9,33). Ông hy vọng một Đấng bênh vực (19,25-27) sẽ bênh vực ông nơi thân xác ông (13,15-16 ; 23,7.10), sẽ cho ông được phục hồi (ch. 29). Đấng bênh vực hay người cứu chuộc sẽ bênh vực vụ kiện của ông, nói trước toà là ông vô tội, đưa ông trở lại sống thân thiện với Thiên Chúa. Ông không bao giờ từ bỏ niềm xác tín của mình là công chính phải thắng.

Khi tố cáo chống lại Thiên Chúa, liệu ông Gióp còn nhớ lại lời tuyên xưng đức tin son sắt của mình :

“Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi :

xin chúc tụng danh Đức Chúa” (1,21)

hoặc

“Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa,

còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao ?” (2,10)

Tuy vậy, ông Gióp vẫn nhận quyền năng cao cả của Thiên Chúa (9,5-13 ; 12,7-12.13-25 ; 23,13-17 ; 27,7-10). Cho dù ông tố cáo : Thiên Chúa phủ nhận sự công chính của ông, đối xử tàn nhẫn với ông, thế mà ông vẫn tin tưởng Thiên Chúa sẽ nghe lời ông nói (23,3-6).

Ông tập trung can đảm như là chuẩn bị ra toà tranh luận với Thiên Chúa. Nhưng ông Ê-li-hu cho biết Thiên Chúa không ra toà với ai cả ; hơn nữa, ông Gióp phải chịu đau khổ vừa để phòng ngừa các lỗi lầm nặng hơn, vừa để chữa tính kiêu căng (33,15-24). Thiên Chúa in dấu ấn của Người nơi các thọ sinh, nên ông Gióp phải biết quan sát và giải thích các thụ tạo cho đúng.

Thiên Chúa xuất hiện và nói với ông Gióp trong cơn gió bão. Người đưa ra một loạt câu hỏi để ông Gióp nhận biết quyền năng sáng tạo của Người. Người không chú ý đến cuộc mặc cả với Xa-tan, cũng chẳng coi ông Gióp như một anh hùng. Người không hề tranh luận với ông Gióp và các bạn của ông. Người chẳng nói đến công chính hay bất chính, cũng chẳng đếm xỉa đến đau khổ kẻ công chính phải chịu. Vì thế, sách Gióp không giải quyết vấn nạn nóng bỏng do ông Gióp và các bạn nêu lên. Quyền năng khôn sánh của Thiên Chúa khiến một kẻ khốn khổ và không tự vệ nổi như ông Gióp phải khuất phục và sám hối. Sự khôn ngoan và quan phòng của Thiên Chúa qua công trình sáng tạo buộc ông Gióp phải suy nghĩ về chính mình. Thiên Chúa cho thấy các mầu nhiệm nơi các thụ sinh (hiện tượng thiên nhiên, hay các loài mãnh thú, ác điểu) mà ông không thể điều khiển hay bắt giữ được. Thiên Chúa để cho ông Gióp thấu hiểu nơi bản thân mình rằng đau khổ cuối cùng là một mầu nhiệm. Thiên Chúa là Đấng ông Gióp không thể tìm thấy, lại đến và nói với ông qua cơn gió bão. Chính Người dùng quyền năng, vinh quang mà chăm sóc các loài thọ sinh với tất cả tình yêu thương của Người. Như vậy, ông Gióp học biết rằng gặp đau khổ không hiển nhiên là Thiên Chúa bỏ rơi ông. Người đã biểu thị tính siêu việt và thánh ý của Người qua lời dạy bảo ông Gióp. Vì thế, cuối cùng ông Gióp phải thốt lên :

“Trước kia, con chỉ được biết về Ngài

nhờ người ta nói lại,

nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến.

Vì thế, điều con đã nói ra, con xin rút lại,

trên tro bụi, con sấp mình thống hối ăn năn” (42,5-6)

Chính lòng tin dẫn đưa con người trên đường nhận biết Thiên Chúa. Trong đêm tối đức tin, con người phải kiên trì, dầu trí khôn không được toại nguyện. Sách Gióp chưa có thể đi xa hơn mầu nhiệm đau khổ của kẻ vô tội. Phải đợi Đức Ki-tô đến : Người sẽ dạy cho nhân loại hiểu biết thế nào là mầu nhiệm thập giá khi chính Người chấp nhận chịu đau khổ vì yêu thương.