Giu-đi-tha — Sách Gui-đi-tha
Giu-đi-tha
DẪN NHẬP SÁCH GIU-ĐI-THA
Theo Kinh Thánh nói chung, chỗ đứng của phụ nữ trong xã hội Do-thái thường rất khiêm tốn, xét về số lượng các bản văn đề cập đến họ, nhưng xét về nội dung thì có những nơi cho thấy các bà thật là siêu quần bạt chúng. Nói về họ thì có khi là những đoạn sách rất ngắn, có khi nguyên cả một chương, nhưng cũng có những tác phẩm lấy tên họ làm đề tựa, vì toàn bộ nội dung được soạn để tường thuật công trạng của họ. Đó là các sách Rút, Ét-te và Giu-đi-tha, cả ba quyển đều thuộc bộ sách lịch sử của Cựu Ước.
Sách Thánh còn cho thấy rằng trong quá trình gầy dựng và giáo dục dân riêng, nhất là trong những thời kỳ khủng hoảng, đường lối sư phạm của Thiên Chúa là cho xuất hiện những con người mà trong xã hội không ai chờ mong cả, nhưng lại là những công cụ đẹp lòng Thiên Chúa. Hơn nữa, những người này thường thuộc hạng người yếu thế, và riêng hạng người đang nói tới ở đây, họ có một điểm yếu đặc biệt : họ là đàn bà, trong một xã hội có thể nói là trọng nam khinh nữ. Nếu lịch sử Việt Nam đã từng được tô điểm bởi những “khách má hồng”, thì trong lịch sử dân Chúa, phần đóng góp của các bà không kém hơn chút nào. Sách Giu-đi-tha là một bằng chứng, và tác phẩm miêu tả nhân vật chính của mình như một trang nữ anh hùng thật sự, được dân tộc mình yêu kính suy tôn, chẳng khác nào Trưng Nữ Vương đối với dân tộc Việt Nam. Trong số các Sách Thánh, Gđt lại là cuốn sách kết hợp đậm nét nhất lòng sùng đạo với lòng yêu nước yêu dân, và hiếm khi chúng ta đọc được một cuốn sách cho thấy niềm tin vào Thiên Chúa đi đôi với chủ nghĩa quốc gia một cách trọn hảo như vậy.
Soạn giả và thời gian biên soạn
Bản văn gốc được dịch ra đây là bản LXX, mang dấu tích của việc biên soạn từ một bản văn Híp-ri (chẳng hạn dịch sát những lối nói, từ ngữ và ngay cả văn phạm của tiếng Híp-ri). Hiện nay, còn có hai bản Hy-lạp có vài dị biệt với LXX. Ngoài ra, đàng sau PT, cũng có thể đoán có một bản bằng tiếng A-ram nữa.
Tuy hai bản văn nguyên thuỷ Híp-ri và A-ram đó đã thất lạc, các nhà chuyên môn vẫn nhận ra, qua các bản dịch, bút tích của một tác giảngười Do-thái ở Pa-lét-tin, có lẽ thuộc phái Pha-ri-sêu, vì cách thức giữ luật tỉ mỉ của các nhân vật được mô tả hết sức chu đáo và trịnh trọng.
Điều gây khó khăn cho việc xác định thời gian và bối cảnh của câu chuyện là tác giả không theo một bản đồ địa dư chính xác nào, cũng không theo các sử liệu đã được xem như có cơ sở vững chắc. Hơn nữa, có khi tưởng chừng như tác giả cố ý làm cho độc giả phải rối mù với những dữ kiện sử địa không đâu vào đâu : đây là một cách gián tiếp làm nổi bật tính phi lịch sử của tác phẩm.
Tuy nhiên, căn cứ vào những tình tiết trong câu chuyện được dàn dựng, người ta nhận ra bối cảnh đất Pa-lét-tin, dưới thời đô hộ của Ba-tư. Câu chuyện còn cho thấy miền Sa-ma-ri tuyệt nhiên không thù nghịch với dân Do-thái ; ngược lại, tương quan rất tốt giữa người dân các miền khác nhau, tất cả đều cùng chung số phận trước sự đe doạ của cường quốc Át-sua. Trong bầu khí rất căng và đầy kinh hãi này, nhân vật Giu-đi-tha đứng lên, với thái độ quả cảm nhờ dựa vào niềm tin của dân tộc mình, đặt tất cả hy vọng vào sức mạnh của Thiên Chúa Ít-ra-en để đánh bại quân thù.
Nhưng một tác phẩm có văn phong đầy nhiệt huyết, với một khí phách hào hùng như thế, chỉ có thể chào đời sau cuộc nổi dậy chống bạo chúa bắt đạo là An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê, và dưới triều đại các vua nhà Hát-mo-nê (hậu duệ các anh em Ma-ca-bê). Vì thế có thể nói thời gian biên soạn Gđt làtừ cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ I tCN.
Vậy nên phân biệt thời gian biên soạn với thời gian được chọn làm bối cảnh cho câu chuyện :biên soạn là vào thời kỳ Hát-mo-nê(sau cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê), vàbối cảnh cho câu chuyện là vào thời kỳ Ba-tư đô hộ(sau lưu đày). Không nên lầm lẫn.
Thể văn : Mục đích và đạo lý của sách Giu-đi-tha
Như đã nói trên, Gđt không phải là một sách truyện có tính cách lịch sử. Tác giả như đã nháy mắt ra hiệu cho ta hiểu điều đó, qua những sai phạm ông rải khắp đó đây trong tác phẩm, khi viết các địa danh và một số tên riêng khác. Điều tác giả muốn độc giả học được qua câu chuyện Gđt làai tin vào Thiên Chúa thì được Người ban sức mạnh, vì Người luôn thành tín, luôn hiện diện và sãn sàng can thiệp để cứu Ít-ra-en: chính Người mới làm chủ lịch sử (x. Dẫn nhập tổng quát các sách Lịch Sử – quan niệm về lịch sử trong Sách Thánh). Tuy nhiên, mặc dù không thuộc loại lịch sử theo quan niệm chúng ta bây giờ, nhưng chắc chắn Gđt đã được hình thành từ một sự kiện lịch sử : hiện tượng Thiên Chúa dùng bàn tay một phụ nữ để cứu mạng một nhân vật hay một tập thể, trong một giai đoạn cực kỳ khẩn trương, không phải là hiếm có trong lịch sử Ít-ra-en. Vd : cô Ra-kháp (Gs 2), hai bà Đơ-vô-ra và Gia-ên (Tl 4 – 5), bà Rút (R), bà Ét-te (Et)...
Một số người cho rằng Gđt thuộc loại sách khải huyền, vì có vài yếu tố tương hợp ít nhiều với các ước lệ thể văn này : cuộc giao tranh giữa lành và ác, giữa Thiên Chúa và quyền lực thế gian (mà tiêu biểu là Na-bu-cô-đô-nô-xo và tướng lãnh Hô-lô-phéc-nê của ông), “chiến địa” là cánh đồng Ét-rê-lôn, nhắc nhớ nơi vua chúa và lực lượng của họ đã từng ngã gục cách thảm hại (x. Tl 5,19 ; 2 V 9,27 ; 23,29-30), và theo Dcr 12,11, đây cũng là địa điểm bại trận cuối cùng của quân thù – Kh 16,16 cũng sẽ gợi nhớ điều này.
Thật ra, trong Gđt, không có một phép lạ, một yếu tố siêu phàm nào, không có sự can thiệp trực tiếp của ma vương quỷ lực hay của thần thánh nào cả. Chỉ có một ông tướng oai vệ chỉ huy đạo binh hùng mạnh của một cường quốc, bị tửu sắc mê hoặc mà phải chết, và một “nhi nữ” không vũ khí nhưng đầy mưu lược. Bà là một đàn bà goá không con (tức là người vô dụng trong xã hội Do-thái thời bấy giờ), dũng cảm hơn các vị lãnh đạo đương chức. Bà dám kêu gọi toàn dân kháng cự trong khi các ông lại là thành phần chủ bại trước quân khiêu chiến. Yếu tố siêu nhiên duy nhất là đức tin và tinh thần cầu nguyện của bà. Nhưng bà không chờ mong, không xin Chúa làm phép lạ, mà chỉ đặt hết niềm trông cậy vào lòng thành tín của Thiên Chúa Ít-ra-en, rồi ra tay hành động theo sức mình. Chỉ có bấy nhiêu. Bởi vậy, quan niệm Gđt như một loại sách khải huyền là không thoả đáng.
Gđt không có tính khoa học lịch sử, không thuộc loại khải huyền, vậy phải xếp vào loại nào đây ? Trong văn chương Do-thái, có một thể văn chuyên lấy một sự kiện có thật làm nền tảng, từ đó dựng lên nguyên một câu chuyện (như có thật trăm phần trăm), cốt để rút ra một bài học khả dĩ củng cố niềm tin của độc giả. Khi dàn dựng câu chuyện, tác giả rất tự do, có thể giảm nhẹ phần này, cường điệu phần kia, vay mượn hoặc gợi nhớ nhiều đoạn Kinh Thánh, để cho những điểm ông muốn làm nổi bật được thêm đậm nét và mang âm hưởng truyền thống Kinh Thánh. Đây là sở trường của các thầy ráp-bi, và một tác phẩm thuộc thể văn này có tên làmid•räš. Vậy dựa trên những gì đã được trình bày ở phần trên, có thể nóiGđt là mộtmid•räš, và một tác giả tây phương đã tóm gút “bài học thuộc lòng kết thúc câu chuyện” này một cách thật ngắn gọn và ngộ nghĩnh : “Giu-đi-tha là một bà thánh đã phạm tội giết người để cứu dân tộc”.
Chỗ đứng của sách Giu-đi-tha trong các quy điển
Trớ trêu thay : trong lúc đối với Do-thái giáo, sách Ét-te đường đường chính chính là một cuốn “Sách Thánh”, thì sách Giu-đi-tha, nức mùi Do-thái giáo như vậy, lạikhông được liệt vào quy điển Do-tháimà được quy điển công giáo đón nhận ! Từ nhiều góc cạnh, các nhà chuyên môn đã tìm hiểu lý do tại sao Gđt bị Do-thái giáo chối từ. Sau đây là những lý do chính yếu đã được nêu ra :
– bối cảnh được chọn đặt câu chuyện là miền đất Sa-ma-ri, mà người Do-thái rất kỵ từ sau những năm lưu đày lần thứ nhất (cuối thế kỷ VIII), vì họ xem như nó đã bị tha hoá : những cuộc hôn nhân tạp chủng giữa người Do-thái và người ngoại bang đã kéo theo một nếp sống không còn trung thành với những điều luật của giao ước nữa. Vậy làm sao có thể công nhận Sa-ma-ri là một miền đất sản sinh anh hùng dân tộc và thánh nhân được ? Nói cách khác, một cuốn sách đề cao đất Sa-ma-ri và người dân trong đó khó lòng có chỗ đứng trong quy điển thánh của người Do-thái. Có người còn hồ nghi rằng chính vì lý do này mà người Do-thái đã cố tình huỷ đi bản Híp-ri gốc !
– một lý do khác nữa là trong Gđt, có những đoạn đi ngược lại luật Mô-sê : ông A-khi-ô, người Am-mon, mà được phép gia nhập cộng đồng Do-thái giáo (x. 14,10 với chú thích) ! Điểm này, cũng như điểm vừa nêu trên, cho thấy các cơ cấu Do-thái giáo vẫn khó chấp nhận quan niệm đại đồng, tuy sách I-sai-a đã có nhiều đoạn ca mừng việc đón nhận dân ngoại vào cộng đồng dân Ít-ra-en như một dấu cho thấy lòng từ bi của Thiên Chúa thật lớn rộng, và ơn gọi Ít-ra-en trong lịch sử cứu độ đã thành tựu mỹ mãn (Is 49 ; 56 ; 60 ; 66 ).
– lý do thứ ba được coi như có liên hệ trực tiếp với hàng ngũ các thầy ráp-bi : các vị này khó chấp nhận một phụ nữ tự động đứng ra làm chủ tình hình mà không có sự “uỷ nhiệm” của các vị lãnh đạo ; hơn nữa, bà Giu-đi-tha còn có thái độ “dạy đời” các vị này nữa, như ta đã thấy trên. Điều dễ hiểu là chính bởi vì các thầy ráp-bi tự đồng hoá với hàng lãnh đạo, bậc thầy của dân, nên họ khó lòng tha thứ cho cái “bà thầy” bỗng dưng xuất hiện đầy uy tín này, một người đã chẳng có công học hành gì như họ !
Về phía công giáo, bản dịch Hy-lạp của Gđt đã được xếp vào loại đệ nhị quy điểnvà được trích dẫn từ thời các Giáo Phụ, được bảo lưu như một di sản của cộng đồng Do-thái thành A-lê-xan-ri-a để lại. Các Giáo Phụ cũng đã thường liên kết Gđt với Et, và cả hai bản đều được lưu trữ cẩn thận như nhau.Quy điển Tin Lành thì xếp Gđt vào loại nguỵ thư.
Ngày nay, để yên một bên vấn đề quy điển, người Ki-tô giáo cũng như Do-thái giáo đều nhất trí nhìn nhận tầm quan trọng của các nguỵ thư, xem đây là những mấu chốt ghi lại hướng đi của lịch sử Do-thái giáo cũng như sự biến chuyển của tư tưởng Do-thái qua các thời đại, kể từ tác phẩm Kinh Thánh cuối cùng cho tới thời kỳ Ki-tô giáo xuất hiện.
Bố cục và đặc điểm
Bố cục sách Giu-đi-tha trong bản dịch này chỉ đơn thuần theo tiến trình các biến cố :
I. Cuộc viễn chinh của Hô-lô-phéc-nê (1,1 – 6,21)
II. Vây hãm Bai-ty-lu-a (7)
III. Bà Giu-đi-tha (8 – 9)
IV. Bà Giu-đi-tha và tướng Hô-lô-phéc-nê (10 – 13)
V. Chiến thắng [của Ít-ra-en] (14 – 16)
Để giúp cho việc đọc cuốn sách này thêm phần hứng thú, có thể ghi lại đây một đặc điểm mà các nhà chú giải đều đã lưu ý :óc khôi hài và châm biếm của soạn giả. Tính khôi hài nàyđã tạo cho bản văn những mẩu đối thoại đầy hậu ý, vẽ lên những bức hoạ tương phản và dàn dựng những tình cảnh trớ trêu rất ý nhị.
Chính những tình tiết này làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn, và tiến trình vụ việc thêm khởi sắc. Xin kê ra những tình tiết ấy như sau :
– ông A-khi-ô là người dân ngoại mà rất thông lịch sử Ít-ra-en và đường lối của Thiên Chúa dân này (5,5-21) ; đang lúc chiến tranh bùng nổ, ông lại được một trong các dân “tham chiến” (Ít-ra-en) tin tưởng đón tiếp và khoản đãi một cách vô điều kiện (5,14-21) ; cuối cùng sẽ được tiếp nhận vào cộng đồng con cái Ít-ra-en nữa (14,10) ;
– các thủ lãnh Ít-ra-en lúc bấy giờ là những người bạc nhược, dễ khiếp đảm, thua xa một người đàn bà đơn chiếc mà có chí lớn (8,9-36) ;
– riêng một mình bà Giu-đi-tha tập họp nhiều nét đáng chú ý :
+ tuy là một phụ nữ chồng chết không con -xã hội Do-thái đương thời coi hạng người này là một con số không hiển nhiên-, nhưng bà có quyết tâm cứu dân cứu nước, nổi bật giữa hàng ngũ những người lẽ ra là “đấng bậc trượng phu” phải ra tay cứu vãn tình thế ;
+ bà là một người đức hạnh mà đã không ngần ngại lừa phỉnh để dùng mỹ nhân kế và ra tay giết người ;
+ bà không con nhưng đã trở thành người mẹ trong đức tin, chẳng những cho người đồng hương và đồng thời, mà còn cho người của mọi nơi mọi thời nữa ;
+ sắc đẹp phụ nữ thường bị xem là tai hại cho tiền đồ một cá nhân hay cả một đất nước, nhưng đây lại là khí cụ giải thoát Ít-ra-en.
+ Thật ra, chính gương mặt nữ xuất chúng này mới là điển hình cho người anh hùng dân tộc Do-thái : có vai trò giữ gìn truyền thống dân tộc Ít-ra-en khỏi ảnh hưởng ngoại bang, thật đúng là “cô gái Giu-đa” (nghĩa của tên “Giu-đi-tha”).
– giữa hai nhân vật chính của câu chuyện (tướng Hô-lô-phéc-nê và bà Giu-đi-tha), trong giai đoạn quyết liệt và căng thẳng nhất (hai chương 11 và 12), soạn giả đã khéo cho cuộc đối thoại của họ xoay quanh hai mục đích ngược chiều với nhau. Đó là hai ý đồ nghịch, nhưng lại dùng những mỹ từ tương ứng, nên đã tạo được hai dòng tư tưởng song song mà độc giả biết chắc chúng sẽ không bao giờ gặp nhau, nên điều đọc lên là một sự hiểu lầm kéo dài, có tính cách khôi hài và châm biếm vì những hậu ý chất chứa trong đó. Thật là một đoạn văn thú vị.
– cái trớ trêu ngoài ý muốn của soạn giả là tác phẩm của ông, tuy đầy lòng kính sợ Chúa và yêu thương dân Người, lại không được liệt vào quy điển Sách Thánh của Do-thái giáo.
Với những “chìa khoá” được nêu ra như trên, bố cục bản văn sẽ được thêm tính cách “chiến lược”, một sắc thái phù hợp với áng văn Gđt – thật xứng được kể là một anh hùng ca trong di sản văn chương Do-thái.