1 Ma-ca-bê — Sách Ma-ca-bê quyển 1
1 Ma-ca-bê
DẪN NHẬP SÁCH MA-CA-BÊ Quyển 1
Bối cảnh lịch sử
Khi A-lê-xan-đê Đại Đế chinh phục được vùng Địa Trung Hải vào thế kỷ IV tCN, ông mơ ước lấy văn hoá Hy-lạp và tác hợp nó với những nền văn hoá của vùng Cận Đông. Cái chết của ông lúc còn trẻ đã làm giấc mơ của ông bị dang dở. Nhưng từ khi ông mất (323 tCN) cho đến thời Rô-ma cai trị, phong trào Hy-lạp hoá (hellénistique) có ảnh hưởng hết sức quan trọng trên vùng Cận Đông.
Sau khi A-lê-xan-đê qua đời, các tướng lãnh của ông (diadochi) không đủ khả năng duy trì sự thống nhất của đế quốc. Mỗi tướng lãnh được chỉ định cai trị trên một vùng (satrapie), nhưng rốt cuộc họ đã trở nên những nhà cai trị độc lập với nhau và bành trướng lãnh thổ của mình. Tướng Pơ-tô-lê-mai con của La-gốt (Lagos) lập ra nhà La-gít (Lagides) ; ông này kiểm soát vùng Ai-cập, Sýp, Pa-lét-tin. Tướng Xê-lêu-cô (Seleucus) lập ra nhà Xê-lêu-xít (Séleucides), có thủ đô là An-ti-ô-khi-a ; ông này kiểm soát vùng Xy-ri, Ba-by-lon, Tiểu Á, I-ran.
Giê-ru-sa-lem ở dưới quyền của nhà La-gít mãi cho đến năm 200 tCN. Trong thời gian này tiến trình Hy-lạp hoá diễn ra trong các lãnh vực chính trị, văn hoá, xã hội, nhưng người Do-thái vẫn có thể hành đạo một cách tương đối tự do. Bắt đầu có sự phân rẽ giữa những người Do-thái. Một số người đạo đức chống lại phong trào Hy-lạp hoá. Một số khác lại trở nên những người thân Hy-lạp (x. 1 Mcb 1,11 ; 7,5.13). Năm 200 tCN, Giê-ru-sa-lem rơi vào tay đế quốc Xê-lêu-xít. Lúc đầu dân Do-thái hồ hởi đón nhận vua An-ti-ô-khô III, và vua này cũng đối xử tốt với họ. Nhưng dần dần tình hình đổi khác. Vào năm 168 tCN, vua An-ti-ô-khô IV đi đến chỗ bách hại đạo Do-thái và xúc phạm Đền Thờ. Ông khoét sâu sự chia rẽ trong nội bộ người Do-thái, bằng cách ban nhiều ân lộc cho những người thuộc phe thân Hy-lạp, còn họ cho ông sự trợ giúp vật chất để tài trợ cho việc ông muốn sáp nhập Ai-cập vào đế quốc của ông. Vào lúc này sự sống còn của Do-thái giáo thực sự bị đe doạ.
Sách 1 Mcb kể truyện về một gia đình dám đứng lên chống lại việc Hy-lạp hoá Do-thái giáo. Trước hết người cha là Mát-tít-gia, sau đó lần lượt ba người con trai của ông. Khác với những người theo phái đạo đức (A-xi-đai-ô hay Kha-xi-đim, x. 1 Mcb 2,42) muốn chống đối một cách bất bạo động, gia đình ông Mát-tít-gia quyết định dùng vũ lực. Ông đã nổi giận khi thấy đồng bào của mình bội đạo (x. 2,23-46) và ông đã trở nên lãnh tụ của phe du kích chống lại vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê vào cuối năm 167 hay đầu năm 168 tCN. Khi ông Mát-tít-gia qua đời, Giu-đa Ma-ca-bê lên nối nghiệp cha. Ông đã thắng một số trận và làm được một việc có ý nghĩa lớn, đó là thanh tẩy và tái cung hiến Đền Thờ (164 tCN). Khi Giu-đa tử trận, Giô-na-than lên thay (160-143 tCN). Ông được vua A-lê-xan-đê Ba-la cử làm thượng tế. Ông lấy lại được những phần đất xưa kia thuộc vương quốc của Đa-vít và Sa-lô-môn, nhưng cuối cùng ông bị chết vì một viên tướng nham hiểm là Try-phô. Ông Si-môn tiếp tục sự nghiệp của Giô-na-than (143-134 tCN). Ông này chẳng những chấp nhận chức thượng tế từ vua Đê-mết-ri-ô II, mà còn trở nên một quốc trưởng (ethnarches) cai trị vùng Giu-đê từ năm 142 tCN.
Như vậy, từ năm 142-63 tCN, coi như người Do-thái được hưởng độc lập. Các sử gia gọi giai đoạn này làtriều đại nhà Hát-mo-nê. Theo sử gia Giô-xếp, Hát-mo-nê là thân phụ của ông Mát-tít-gia. Năm 63 tCN, nhân việc Hiếc-can II và A-rít-tô-bu-lô II tranh nhau ngôi vua và chức thượng tế, tướng Rô-ma là Pom-pê đã chiếm Giê-ru-sa-lem, mở đầu cuộc đô hộ của đế quốc Rô-ma.
Tác giả, tác phẩm
Có người cho rằng Ma-ca-bê do từ “maqqabah” trong tiếng Híp-ri nghĩa là “cái búa”. Tuy nhiên nó cũng có thể do từ “maqqabyahu” nghĩa là “được Thiên Chúa chỉ định”. Ma-ca-bê là biệt danh của ông Giu-đa, người đứng ra lãnh đạo cuộc nổi dậy. Sau này, Ma-ca-bê được dùng để chỉ chung những người anh em khác kế vị ông trong vai trò lãnh đạo, như Giô-na-than, Si-môn.Thời kỳ Ma-ca-bêđược dùng để chỉ giai đoạn người Do-thái nổi dậy chống đế quốc Xê-lêu-xít.
Các giáo phụ đã lấy tên Ma-ca-bê mà đặt cho hai cuốn sách nay ta gọi là 1 Mcb và 2 Mcb. Hai sách này được Hội Thánh Công Giáo nhận là Sách Thánh, được linh hứng. Tuy nhiên, chúng lại không nằm trong quy điển Híp-ri, có lẽ là vì triều đại Hát-mo-nê đã bị mất uy tín và vì chúng còn mới quá, lại được viết bằng tiếng Hy-lạp. Người Tin Lành cũng không công nhận hai sách này là Sách Thánh.
Các giáo phụ trích dẫn và coi trọng hai sách Ma-ca-bê. Từ cuối thế kỷ IV, chúng đã nằm trong các danh sách quy điển, nhưng phải đợi đến Công Đồng Tren-tô (1546), cuộc tranh luận mới ngã ngũ đối với người Công Giáo.
1 Mcb và 2 Mcb không nối tiếp nhau theo thứ tự thời gian. 1 Mcb thuật lại những biến cố lịch sử trong cộng đoàn Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và các vùng phụ cận từ triều vua Xê-lêu-cô IV (175-164 tCN) đến khởi đầu triều đại của Hiếc-can (134 tCN). Còn 2 Mcb bắt đầu từ thời thượng tế Ô-ni-a III (180 tCN) đến lúc ông Giu-đa Ma-ca-bê đánh bại quân Xy-ri (161 tCN).
Dựa vào hai câu cuối cùng của 1 Mcb, người ta cho rằng sách này được viết vào khoảng năm 100 tCN, nghĩa là sau khi Hiếc-can mất. Hầu chắc 1 Mcb được viết bằng tiếng Híp-ri, nhưng nguyên bản không còn nữa. Nay ta chỉ có bản dịch bằng tiếng Hy-lạp, chứa đầy kiểu nói đậm nét Do-thái. Sách 1 Mcb có thái độ thân thiện với Rô-ma (x. 1 Mcb 8), nên nó không thể được viết sau năm 63 tCN, là năm người Rô-ma bắt đầu đô hộ dân Do-thái.
Chúng ta không rõ tác giả của 1 Mcb, nhưng hầu chắc đây là một người Do-thái ở vùng Pa-lét-tin. Ông thông thạo các truyền thống và các Sách Thánh của dân tộc ông. Ông cũng nắm được nhiều thông tin đáng tin cậy về lịch sử của đất nước ông trong thời kỳ Hy-lạp hoá. Có thể lúc còn trẻ, chính ông đã dự phần tích cực vào dòng lịch sử đó. Hẳn ông là người ái quốc và trung tín với Lề Luật. Ông ủng hộ cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê (x. 5,62) và đón nhận triều đại Hát-mo-nê.
Mục đích
Sách 1 Mcb được viết nhằm minh chứng triều đại Hát-mo-nê xứng đáng nắm quyền hợp pháp về mặt chính trị và tôn giáo ở Pa-lét-tin.
Có nhiều người không nhìn nhận tính hợp pháp này vì :
– họ nghĩ rằng người lãnh đạo chính trị duy nhất hợp pháp phải là hậu duệ của Đa-vít. Mà người của nhà Hát-mo-nê chẳng là hậu duệ của Đa-vít, cũng chẳng thuộc chi tộc Giu-đa của ông ;
– họ nghĩ rằng vị thượng tế hợp pháp phải là hậu duệ của A-ha-ron theo như truyền thống đòi hỏi. Mà người của nhà Hát-mo-nê tuy thuộc gia đình tư tế (x. 2,1) nhưng lại không thuộc dòng dõi A-ha-ron. Đối với người Kha-xi-đim, ông Giô-na-than không xứng đáng làm thượng tế, vì ông là một chiến binh tay vấy máu quân thù. Ngoài ra, có những người không chấp nhận Giô-na-than làm thượng tế, vì Ô-ni-a IV, con của vị thượng tế hợp pháp cuối cùng, vẫn đang sống lưu đày ở Ai-cập. Hẳn họ muốn đưa ông này về để làm thượng tế.
Tác giả 1 Mcb đã cố chứng minh tính hợp pháp này bằng nhiều con đường :
– anh em nhà Ma-ca-bê đã cứu dân Do-thái khỏi cảnh bách hại, đã lấy lại độc lập cho dân tộc và tự do tôn giáo ;
– họ làm cách mạng vì lòng nhiệt thành với Lề Luật và tôn giáo của cha ông ;
– họ đã mở ra một thời kỳ thái bình thịnh vượng ;
– Thiên Chúa đã hành động qua anh em Ma-ca-bê. Những chiến thắng Chúa ban cho họ là một dấu chỉ tính hợp pháp của triều đại Hát-mo-nê ;
– triều đại này được các cường quốc thời ấy công nhận (Xê-lêu-xít, Xi-pác-ta, Rô-ma).
Cuối cùng, tác giả 1 Mcb khuyên ta nên chấp nhận triều đại Hát-mo-nê cho đến khi một ngôn sứ đích thực xuất hiện và dạy cho biết ý Chúa muốn (x. 4,46 ; 14,41).
Thể văn, tính sử
Tác giả viết 1 Mcb theo thể văn của những sách Lịch Sử như Thủ lãnh, 1 và 2 Sm, 1 và 2 V. 1 Mcb không giống như các sách Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, dùng những biến cố và những nhân vật lịch sử như tấm phông cho các truyện hư cấu. 1 Mcb là một trình thuật lịch sử, nhưng sách này không chỉ kể lại các biến cố mà còn cho thấy ý nghĩa của chúng.
Sánh với những nguồn tài liệu khác cùng thời, tác giả 1 Mcb khá đáng tin cậy khi ông mô tả những biến cố lịch sử, mặc dầu rõ ràng ông là người ủng hộ cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê. Có những yếu tố cho thấy giá trị lịch sử của 1 Mcb.
Tác giả 1 Mcb kể lại những thành công và cả những thất bại, những cái chết thảm thương của anh em Ma-ca-bê. Về những thất bại, ông kể một cách ngắn gọn, không bóp méo sự kiện. Sách 1 Mcb phản ánh thái độ “thực dụng” của anh em Ma-ca-bê. Khi thấy khó tấn công về mặt quân sự, họ sãn sàng thoả hiệp với ngoại bang để đạt được mục tiêu (Thí dụ : 1 Mcb 8 ca ngợi Rô-ma hết lời). Họ nhiệt thành giữ Luật, nhưng lại rất uyển chuyển khi áp dụng Luật vào hoàn cảnh cụ thể. Thí dụ : họ sãn sàng chiến đấu trong ngày sa-bát để tự vệ ; Giô-na-than nhận chức thượng tế, dù theo truyền thống, ông không đủ điều kiện. Sách 1 Mcb cho ta những ghi chú chính xác về các địa danh và thời điểm. Những người nhà Ma-ca-bê được tác giả mô tả như những vị anh hùng tài đức vẹn toàn, nhưng ông cũng không giấu một số lầm lỗi của họ (x. 11,4tt ; 13,17-19).
1 Mcb là một sử liệu đáng tin cậy. Sử gia Giô-xếp đã dùng nó để viết bộlịch sử nước Do-thái(Antiquités juives). Dĩ nhiên chúng ta không nên hiểu sử tính của 1 Mcb theo nghĩa ngày nay. Tác giả có thể đã phóng đại một số sự kiện (Thí dụ : số quân địch lớn quá). Ngoài ra, như những sử gia khác cùng thời, tác giả đã đặt những bài diễn từ, những lời cầu nguyện do ông sáng tác lên miệng các nhân vật của ông (x. 2,49-68 ; 3,50-53 ; 4,30-33).
Bố cục
Dẫn nhập : Phong trào Hy-lạp hoá ở Tiểu Á (1,1-9)
Khởi đầu cuộc nổi dậy của tư tế Mát-tít-gia (1,10 – 2,70)
Giu-đa Ma-ca-bê (3,1 – 9,22)
Giô-na-than (9,23 – 12,53)
Si-môn (13,1 – 16,24)
Thần học của sách 1 Ma-ca-bê
Điều nổi bật hơn cả ở sách 1 Mcb là tầm quan trọng của việc trung tín với Giao Ước, với Lề Luật. Không giữ Luật sẽ dẫn tới hình phạt của Thiên Chúa. Những người Do-thái, vì thoả hiệp với phong trào Hy-lạp hoá mà vi phạm Lề Luật, bị coi là những kẻ chịu trách nhiệm về những tai ương mà dân tộc phải gánh chịu trong thời kỳ Xê-lêu-xít. Trung thành với Lề Luật là cách diễn đạt tình yêu của dân Ít-ra-en đối với Thiên Chúa. Cuộc đấu tranh nơi 1 Mcb không phải chỉ xảy ra giữa người Do-thái và dân ngoại, nhưng giữa những người giữ Luật và không giữ Luật (dù là Do-thái hay dân ngoại). Những lời kết án gay gắt nhất không nhắm vào nhà Xê-lêu-xít, nhưng vào những người Do-thái bỏ đạo, bỏ giữ Luật.
Mặt khác, sách 1 Mcb còn cho thấy : sự tôn trọng những huấn lệnh của Thiên Chúa sẽ dẫn đến một kết thúc tốt đẹp. Anh em Ma-ca-bê vẫn giữ lòng tín trung, bất chấp bao hiểm nguy đe doạ. Dầu phải chết, dân Do-thái được hưởng tự do sống theo Luật Chúa. Thiên Chúa vẫn trung tín với dân Người.
Về mặt thần học, đế quốc Xê-lêu-xít có thể được coi là khí cụ của Thiên Chúa nhằm trừng phạt dân Người, vì họ đã vi phạm giao ước. Tuy nhiên, một số nhà lãnh đạo Xê-lêu-xít lại ngạo nghễ coi thường quyền uy của Thiên Chúa. Họ theo đuổi những kế hoạch riêng, nghịch với ý định của Người, vì thế họ chuốc lấy thất bại bẽ bàng.
Mọi chiến thắng thành công của anh em Ma-ca-bê, theo 1 Mcb, đều do sự trợ giúp của Thiên Chúa. Tuy nhiên, vì lòng kính trọng, tác giả 1 Mcb tránh dùng từ “Thiên Chúa” ; ông gọi Người là Trời trong suốt tác phẩm (3,18-19.50.60 ; 4,10.40 ; 9,46 ; 12,15 ; 16,3). Cũng có khi ông gọi Thiên Chúa bằng một đại từ (2,61 ; 3,22.52tt).
Trong sách 1 Mcb không thiếu những lời cầu nguyện, mặc dầu ở đó ta không thấy có sự gần gũi thân tình với Thiên Chúa như trong những trình thuật về các tổ phụ và trong văn chương ngôn sứ. Giu-đa cầu nguyện trước khi lâm trận (3,46 ; 4,30-33 ; 5,33 ; 7,40-42), cách thức ông chuẩn bị cuộc chiến (3,47-49), việc ông cho về nhà những người theo sách Đệ nhị luật không phải đi chiến đấu (3,56 ; x. Đnl 20,5-8), cách thức ông đối xử với quân bại trận và chiến lợi phẩm (5,28.35.51), thái độ ca ngợi Thiên Chúa khi ông được chiến thắng (4,24.33.55) : tất cả cho thấy : ông xác tín mình chiến đấu đúng với thánh ý Chúa.
Anh em nhà Ma-ca-bê đã cầm vũ khí chống lại đế quốc Hy-lạp Xê-lêu-xít, và chống lại những người Do-thái cộng tác với họ. Hành động đó dựa trên những truyền thống tôn giáo của Ít-ra-en xưa (x. Đnl 20).
Các người Do-thái đạo đức đều thấy phải chống An-ti-ô-khô, nhưng họ có nhiều lập trường khác nhau về việc chống như thế nào. Bằng bạo động như anh em Ma-ca-bê, hay cam chịu tử đạo, chống một cách bất bạo động hay thậm chí có thái độ chủ hoà trước những đe doạ. Sách 2 Mcb cũng ủng hộ chuyện cầm vũ khí, nhưng lại nhìn cuộc cách mạng chống lại Xê-lêu-xít dưới một quan điểm có phần khác. Ngoài những ý tưởng bình thường về cuộc thánh chiến, 2 Mcb còn thêm cái nhìn coi tử đạo như một cách qua đó người tín hữu có thể góp phần vào chiến thắng chung cục trên quân thù. Chiến công không phải là con đường duy nhất dẫn đến chiến thắng. Máu của những vị tử đạo, thà chết hơn là phạm Lề Luật, đòi Thiên Chúa báo oán và qua đó ấn định chiến thắng cho người Do-thái. Vậy biện pháp quân sự của 1 Mcb chỉ là một cách phản ứng trước cơn bách hại. Còn có những cách khác mà chúng ta phải tìm kiếm.