A-mốt — Sách Ngôn sứ A-mốt

vi

A-mốt

DẪN NHẬP SÁCH A-MỐT

A-mốt và thời đại của ông

A-mốt là ngôn sứ đầu tiên có sách mang tên mình. Các lời sấm của ông đã được truyền miệng, và mãi sau này mới được gom lại thành sách. Sách A-mốt có thể do chính ông hay các môn đệ của ông soạn thảo.

A-mốt sống vào tk VIII tCN, lúc Gia-róp-am II đang làm vua Ít-ra-en (786-746 tCN). Ông là một người chăn đàn vật (x. Am 1,1 ; 7,14) ở vùng Tơ-cô-a, gần Bê-lem xứ Giu-đa. Chính Đức Chúa đã kêu gọi ông làm ngôn sứ và ông không sao cưỡng lại (x. 3,8). A-mốt biết mình không phải là một ngôn sứ chuyên nghiệp, nhưng ông được sai đi tuyên sấm ở Bết Ên, nơi có đền thờ chính của vương quốc Ít-ra-en. Đền thờ này được xây cất vào lúc đất nước bị phân đôi, để cạnh tranh với đền thờ Giê-ru-sa-lem. Am 7,10-17 kể lại cuộc gặp gỡ giữa A-mốt và vị tư tế trưởng ở Bết Ên. Vị này lo ngại vì A-mốt dám tuyên sấm chống lại nhà vua ngay ở trong đền thờ. Ông khuyên A-mốt nên trở về Giu-đa. Sứ vụ của A-mốt không kéo dài bao lâu. Ông lại trở về quê cũ và có lẽ sau một thời gian, ông hay nhóm môn đệ của ông đã bắt đầu ghi lại những thị kiến và lời sấm, rồi cho lưu hành trong dân. Sách A-mốt còn chứa đựng một số lời sấm khác, có thể đã được thêm vào sau này để hiện tại hoá sứ điệp của A-mốt trong hoàn cảnh mới, thí dụ như lời sấm chống Giu-đa (x. 2,4-5) hay lời hứa cuối cùng (x. 9,11-15).

Để hiểu được nỗi khó khăn của A-mốt trong sứ mạng làm ngôn sứ, chúng ta cần biết qua về bối cảnh thời đại của ông. Nói chung vương quốc Ít-ra-en đang ở trong thời hoà bình, thịnh vượng. Quân Xy-ri không còn là mối đe doạ. Vua Gia-róp-am đã chiếm lại phần đất ở bên kia sông Gio-đan (x. 2 V 14,25). Đời sống kinh tế tăng trưởng nhanh. Người ta xây biệt thự (x. 3,15), trang trí nội thất, ăn nhậu tiệc tùng (x. 6,4-6), buôn bán sầm uất (x. 8,5). Chính trong bối cảnh trên mà A-mốt phải lên tiếng báo cho mọi người biết về cảnh nước mất nhà tan sắp xảy đến bởi quân Át-xi-ri. Ông cũng lên tiếng tố cáo những bất công trong xã hội, người giàu lại giàu hơn, còn kẻ nghèo thì bị bóc lột mãi (x. 2,6 ; 5,12 ; 8,4). Như thế A-mốt đã lôi người ta ra khỏi cảnh an toàn giả tạo và bắt người giàu phải nhìn thấy những người cùng khổ do họ gây ra. Dĩ nhiên giới lãnh đạo và hạng phú hào không ưa A-mốt.

Bút pháp và sứ điệp

Để trình bày sứ điệp của mình, A-mốt đã sử dụng một bút pháp ngắn gọn, thẳng thắn, đanh thép, có khi không được thanh nhã mấy. Ông gọi những phụ nữ quý tộc ở Sa-ma-ri là “bò cái xứ Ba-san” (4,1), và bảo tư tế A-mát-gia rằng vợ ông ta sẽ làm điếm trong thành phố (x. 7,17). Ngôn ngữ của A-mốt đầy những hình ảnh sống động, đặc biệt là những hình ảnh lấy từ đời sống chăn nuôi. Nhiều lần ông chơi chữ, nhưng rất tiếc bản dịch không cho thấy hết được điều đó (x. 8,1).

Sau đây là một số nét đặc trưng trong sứ điệp của A-mốt.

A-mốt nhấn mạnh đến sự bình đẳng giữa Ít-ra-en với các nước khác. Sau khi tuyên sấm chống các nước lân bang, ông lại tuyên sấm chống Ít-ra-en (chương 1 và 2). Ít-ra-en là một dân được chọn, được giải phóng khỏi Ai-cập ; tuy nhiên, biến cố xuất Ai-cập không phải là một đảm bảo vững chắc cho nó, biến cố này chỉ chất thêm trách nhiệm cho nó thôi (x. 2,10 ; 3,2). Ít-ra-en là dân tộc được Đức Chúa giải phóng, nhưng các dân tộc khác cũng vậy. Người Phi-li-tinh và người A-ram cũng có “lịch sử cứu độ” của họ (9,7). Ít-ra-en chỉ có một đặc ân là biết rõ hơn các dân khác về những điều Chúa đòi hỏi mình.

A-mốt nhấn mạnh về những tội phạm đến con người, tội phạm đến luật tự nhiên. Mô-áp bị kết án vì tội đốt xương vua Ê-đôm (x. 2,1). Các tội của Ít-ra-en (x. 2,6-16) không phải chỉ là tội phạm đến Giao Ước, mà còn là tội phạm đến đức công bằng mà lương tâm con người ai cũng rõ. Về điểm này, A-mốt khá gần với văn chương khôn ngoan (nhất là sách Châm ngôn). Nền văn chương này tập trung vào luật luân lý phổ quát, chứ không vào mặc khải đặc thù cho Ít-ra-en.

Đối với A-mốt, Đức Chúa là Chủ của thiên nhiên và lịch sử. Các vinh tụng ca (x. 4,13 ; 5,8-9 ; 9,5-6) là lời ca ngợi Đức Chúa, Đấng dựng nên vũ trụ. A-mốt coi mọi biến cố xảy ra là do bàn tay Chúa. Người chịu trách nhiệm về cả cái tốt lẫn cái xấu : “Giả như trong thành xảy ra tai hoạ, lẽ nào lại không do Đức Chúa ?” (3,6). Không có chỗ cho sự ngẫu nhiên hay hoạt động của ma quỷ trong thế giới này. Nếu Đức Chúa phải trừng phạt, thì điều đó cho thấy một tình yêu bị tổn thương, bị phản bội, một tình yêu vẫn sãn sàng trao ban ơn cứu độ. Lời cầu khẩn của con người có thể làm Đức Chúa xét lại điều Người đã quyết (x. 7,3.6).

A-mốt đưa ra nhiều lời sấm chống lại việc phụng tự ở Bết Ên (x. 4,4 ; 5,18-25). Ông không coi mọi nghi lễ là xấu, nhưng theo ông, nghi lễ không phải là điều cốt yếu của tôn giáo. Ông chú trọng hơn đến công bằng xã hội. Nghi lễ đích thực phải dẫn đến công bằng. Phụng tự của Ít-ra-en làm cho giai cấp lãnh đạo thêm tự mãn và họ chẳng để tâm gì đến cảnh túng thiếu của người nghèo. Khi ngày đại lễ kết thúc, người ta lại tiếp tục chuyện buôn bán lọc lừa (x. 8,5).

Qua các thị kiến của A-mốt, ta thấy Ít-ra-en đã đến thời cùng tận. Các đền thờ sụp đổ, người chết la liệt, các thiên tai như động đất, nhật thực, đói kém xảy ra. Tuy nhiên, sách A-mốt vẫn cho ta một niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng. Đức Chúa sẽ không tiêu diệt tất cả (x. 9,8), Người vẫn còn thương số còn sót lại của Ít-ra-en (x. 5,15). Những ai trung tín, được thử thách sàng lọc, sẽ làm cho dân Chúa tiếp tục tồn tại (x. 9,9). Lời sấm cuối cùng mở ra một viễn tượng phục hồi đất nước dưới sự lãnh đạo của một vị vua dòng Đa-vít (x. 9,11-12).

Bố cục

Sách A-mốt có một bố cục khá rõ, nhưng bên trong ta lại thấy có những đoạn văn dường như nằm không đúng chỗ. Thí dụ 7,10-17 lại nằm giữa thị kiến thứ ba và thứ tư, hay 8,4-14 nằm giữa thị kiến thứ tư và thứ năm. Sau đây là một bố cục đề nghị.

I. ÁN PHẠT TRÊN CÁC QUỐC GIA, TRONG ĐÓ CÓ ÍT-RA-EN (1,1 – 2,16)

II. NHỮNG LỜI CỦA ĐỨC CHÚA DÀNH CHO ÍT-RA-EN (3,1 – 6,14)

– Lời thứ nhất (3,1-15)

– Lời thứ hai (4,1-13)

– Lời thứ ba (5,1-9 ; trừ câu 5,7 chuyển xuống trước câu 5,10)

– Lời “khốn cho” thứ nhất (5,7-17)

– Lời “khốn cho” thứ hai (5,18-27)

– Lời “khốn cho” thứ ba (6,1-14)

III. NHỮNG THỊ KIẾN : LỜI ĐE DOẠ VÀ LỜI HỨA (7,1-9,8b)

– Thị kiến 1 : châu chấu (7,1-3)

– Thị kiến 2 : lửa (7,4-6)

– Thị kiến 3 : dây dọi (7,7-9)

– Cuộc đụng độ giữa A-mốt và A-mát-gia (7,10-17)

– Thị kiến 4 : giỏ trái cây mùa hạ (8,1-3)

– Chống bọn người gian lận và đầu cơ (8,4-14)

– Thị kiến 5 : Đền Thờ (9,1-10)

IV. LỜI KẾT : VIỄN TƯỢNG PHỤC HƯNG ĐẤT NƯỚC THỜI THIÊN SAI (9,11-15)

Không một ngôn sứ nào gần gũi với thế giới ngày nay bằng A-mốt. Ông đã can đảm tố cáo những bất công trong xã hội nước Ít-ra-en ở thế kỷ VIII. Ông đã trở nên lương tâm của đất nước và cất tiếng nói thay cho những người thấp cổ bé miệng. Bài học quan trọng mà A-mốt vẫn còn muốn nhắc nhở các Ki-tô hữu hôm nay là : công bằng xã hội là chuyện của tôn giáo. Lòng đạo đức thực sự được đo lường bằng lối sống ở phố chợ hơn là ở nhà thờ.