Giê-rê-mi-a — Sách Ngôn sứ Giê-rê-mi-a

vi

Giê-rê-mi-a

DẪN NHẬP SÁCH GIÊ-RÊ-MI-A

Cuộc đời và sứ vụ của ông Giê-rê-mi-a

Tên của ông thường được hiểu theo tiếng Híp-ri, làĐức Chúa nâng lên. Ngay trong tác phẩm mang tên vị ngôn sứ vĩ đại này, chúng ta có khá nhiều dữ kiện để biết về thân thế và sự nghiệp của ông. Một số bản tường thuật theo lối tiểu sử do người khác kể về ông, xếp theo thứ tự thời gian : 19,1 – 20,6 ; 26 ; 36 ; 45 ; 28 – 29 ; 51,59-64 ; 34,8-22 ; 37 – 44. Độc đáo hơn cả là những đoạn văn do chính ông để lại, ghi những lời thổ lộ tâm tình với Thiên Chúa, quen gọi là các lời thổ lộ tâm tình của Giê-rê-mi-a : 11,18 – 12,6 ; 15,10-21 ; 17,4-18 ; 18,18-23 ; 20,7-18. Với giọng ai ca của các thánh vịnh, những lời tâm sự này là bằng chứng, độc nhất trong tất cả các sách ngôn sứ, về những khủng hoảng nội tâm của một con người của Thiên Chúa.

Giê-rê-mi-a chào đời quãng năm 650 tCN, hơn một thế kỷ sau ngôn sứ I-sai-a. Thân phụ ông là Khít-ki-gia-hu, và gia đình ông là một gia đình tư tế, từ lâu cư ngụ ở A-na-thốt, cách Giê-ru-sa-lem độ 5 km đường sa mạc về phía đông bắc, bây giờ là A-na-ta. Đây là một trong số mười ba nơi dành cho các tư tế (Gr 21,13-19). A-na-thốt cũng là nơi xưa thượng tế Ép-gia-tha đã sống, sau khi bị vua Sa-lô-môn khai trừ, vì ông phò hoàng tử A-đô-ni-gia (1 V 2,26). Biết đâu Giê-rê-mi-a lại không phải là con cháu vị thượng tế này.

Năm thứ mười ba triều vua Giô-si-gia-hu (640-609) tức là năm 626 tCN, Giê-rê-mi-a mới hai mươi bốn tuổi đời đã được Thiên Chúa gọi làm ngôn sứ, và ông đã thi hành sứ vụ xuyên suốt bốn đời vua kế tiếp, mãi tới sau biến cố đau thương năm 587 tCN. Đó là thời kỳ sôi động và bi đát nhất của lịch sử nước Giu-đa. Có thể phân sứ vụ của ông thành ba giai đoạn như sau :

1.Giai đoạn một :từ đầu tới trận đánh quyết định tại Các-cơ-mít (năm 605 tCN). Từ khi thủ đô Ni-ni-vê thất thủ (612 tCN), đế quốc Át-sua không còn nắm được quyền bá chủ thế giới nữa. Nước Giu-đa bấy giờ được hưởng một thời kỳ tương đối yên ổn. Năm 621, nhân vụ “Sách luật” của Đức Chúa được tìm thấy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem (2 V 23,25), vua Giô-si-gia-hu phát động một phong trào cải cách tôn giáo và chấn hưng đất nước theo một quy mô rộng lớn. Chắc chắn ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã tích cực cộng tác vào công cuộc cải tổ này. Thế nhưng niềm phấn khởi và hy vọng đang lên của Giu-đa bỗng nhiên xẹp xuống vì vua tử trận. Đó là năm 609 tCN, khi Giô-si-gia-hu đem quân chặn đường Nơ-khô II của Ai-cập tại Mơ-ghít-đô không cho ông này tiếp viện quân Át-sua đang ngày càng suy yếu dưới sức bành trướng của Ba-by-lon (2 V 23,29). Giô-a-khát lên kế vị vua cha ; nhưng chỉ ba tháng sau đã bị Nơ-khô truất phế. Ông này đặt En-gia-kim, một người con khác của vua Giô-si-gia-hu, lên thay, đổi tên là Giô-gia-kim (609-597 tCN). Như thế là Giu-đa được đặt trong quỹ đạo của Ai-cập một thời gian. Chính trong thời gian tương đối dễ chịu này, Giê-rê-mi-a công bố một sứ điệp lạ kỳ : bằng những vần thơ rất sinh động và gợi ý (ch. 4 – 6), ông loan báo một cuộc xâm lăng từ phương Bắc, ồ ạt tràn xuống Giu-đa và Giê-ru-sa-lem như vũ bão ; một đạo quân hết sức tàn bạo, sẽ không thương xót, không chừa lại một hy vọng nào cho những kẻ chiến bại, trừ phi là những người này biết kịp thời trở về với Đức Chúa.

Giê-rê-mi-a dư biết đồng bào của ông chẳng mấy đếm xỉa tới lời cảnh cáo, mà họ cho là xa xôi huyền hoặc đó. Từ dân thường đến các nhà lãnh đạo vẫn bình chân như vại, rất tự tin rằng các thể chế của họ là không chuyển lay (x. 18,18 ; 8,8). Nếu có nguy cơ thì đã có Đền Thờ, nơi nương náu bất khả xâm phạm của họ (7,4-10). Vị ngôn sứ thấy rõ lý do đưa đến cuộc xâm lăng ấy : toàn thể đất nước đều hư hỏng, không cách chi sửa lại được (5,1-6).Chẳng lẽ người Cút lại đổi được màu da, và con báo lại đổi được những đốm đen trên mình ? Các ngươi là những kẻ quen làm điều ác lại có thể làm điều thiện được sao ?(13,23). Thật là tàn nhẫn và thẳng thắn ! Những lời nói như vậy, người dân Giu-đa cho là lý thuyết và không thực tế : làm gì có chuyện đen hoàn toàn và trắng hoàn toàn ; với lại Thiên Chúa bao giờ chả gần gũi, thân thiết với dân (23,23), làm sao Người bỏ họ được ? Cái nhìn của Giê-rê-mi-a về dân tộc, về Giê-ru-sa-lem, về đền thờ rất là tiêu cực (4,23-26), nhưng sứ điệp lạc điệu của ông lại khẩn thiết, đòi phải có những quyết định tận căn. Kết quả là Giê-rê-mi-a đã bị khinh thường, rồi căm ghét đến độ đã hơn một lần ông bị cầm tù và mưu sát (11,18 – 12,6 ; 26,1-19). Điển hình cho phản ứng bất lợi đối với sứ điệp của ngôn sứ là chuyện vua Giô-gia-kim bình thản xén từng phần cuốn sấm ngôn của ông và quăng vào lửa (ch. 36).

2.Giai đoạn hai :từ trận Các-cơ-mít tới khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ (năm 587 tCN). Năm 605, thái tử Na-bu-cô-đô-nô-xo lên ngôi Ba-by-lon kế vị cha là vua Na-bô-pô-lát-xa. Cùng năm, tại Các-cơ-mít ông giáng một đòn chí tử vào quân của Pha-ra-ô Nơ-khô và nắm trọn vùng Xy-ri / Pa-lét-tin (Gr 46,2). Ông quyết định bắt các vương quốc vùng này phải theo ý ông ; thế là xong đời nền độc lập mỏng manh của Giu-đa. Trong tình huống rối ren của đất nước, những người có trách nhiệm chính trị lại không nhất trí được với nhau. Đa số nhất định chọn đường lối cứng rắn : phải phục hồi nền độc lập bằng mọi giá, kể cả liên minh với Ai-cập và các nước láng giềng để chống lại Ba-by-lon. Vua chấp nhận theo đường lối này. Còn lại một thiểu số rất nhỏ chịu thần phục Ba-by-lon, với hy vọng đất nước sẽ được hưởng một quy chế tự trị nào đó. Sự lựa chọn giữa hai lập trường là một mất một còn : được ăn cả, ngã về không.

Giê-rê-mi-a dứt khoát chọn lập trường thứ hai : phải chấp nhận quyền của Ba-by-lon vì đó là ý muốn của Đức Chúa. Ông không phải là một nhà chính trị xu thời ; nhưng trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, ông biết Thiên Chúa đòi hỏi phải có một dân trung tín với Người, biết đáp lại tiếng gọi hiền phụ của Người (3,22 – 4,4), biết bảo vệ công lý và sống Nam Bắc một nhà (22,13 ; 23,5-6). Những người chủ trương cứng rắn bị Giê-rê-mi-a đánh giá là coi rẻ những giá trị mà Thiên Chúa ưa thích, và người đáng trách nhất là vua (22,13-17). Chính vì thế mà Thiên Chúa đã quyết định xoá bỏ Giu-đa như một quốc gia. Ngôn sứ nghĩ đến một dự định mới : giữa lòng đế quốc Ba-by-lon và từ những người suy phục phán quyết của Thiên Chúa, Người sẽ gầy dựng một cộng đoàn mới khác hẳn trước, một cộng đoàn không còn tìm vinh quang của riêng mình, nhưng biết lo cho mọi người hết thảy được sung túc, bởi vì sự thịnh vượng của kẻ khác chính là điều kiện bảo đảm hạnh phúc cho bản thân (x. 29,5-7). Rồi, một khi được sung sướng trở về quê cha đất tổ, cộng đoàn này sẽ được điều khiển bởi những nhân vật hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa (3,15 ; 23,6). Điều tuyệt diệu là lúc ấy sẽ có một cuộc nội tâm hoá quy mô trong mọi mối tương quan với Thiên Chúa : tự đáy lòng, không cần trung gian nào cả, người ta sẽ thực thi trọn vẹn những điều cam kết với Chúa (31,31-34).

3.Giai đoạn ba :từ khi Giê-ru-sa-lem thất thủ năm 587 tCN. Vai trò của ông trong giai đoạn này không phải là không quan trọng, vì mặc dù quân Ba-by-lon đã phát lưu nhiều người, nhưng đa số dân cư vẫn còn lại trong xứ. Giữa đám quần chúng mất hướng này xuất hiện ba khuynh hướng khác nhau. Những người đứng đầu nhóm thân Ba-by-lon, trong đó ông Gơ-đan-gia là chính, chủ trương tái thiết xứ sở nhờ núp bóng Ba-by-lon. Quả thật, ông Gơ-đan-gia đã được vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đặt làm tổng trấn cai quản xứ Giu-đa. Ông Giê-rê-mi-a cũng ở trong số những người này (40,1-6). Nhóm thứ hai, do ông Gít-ma-ên lãnh đạo, chủ trương dùng khủng bố để tiếp tục đấu tranh. Ông là một viên chức cao cấp của triều đình, cũng thuộc hoàng tộc (41,1). Ông dựa thế vua Ba-a-lít của Am-môn bấy giờ vẫn còn chống cự Ba-by-lon (40,14 ; 41,15) và dùng thủ đoạn ám sát tổng trấn Gơ-đan-gia (41,1-3). Nhóm thứ ba, do Giô-kha-nan con ông Ca-rê-ác điều động, đã chọn con đường xuống Ai-cập để khỏi bị Na-bu-cô-đô-nô-xo tàn sát bù cho cái chết của Gơ-đan-gia. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a hết sức can ngăn chuyện này mà không được ; họ còn lôi cả ông theo, mặc dù ông không muốn (42). Tại Ai-cập ông vẫn tiếp tục sứ vụ của ông (43,8 – 44,30). Một truyền thuyết Do-thái cho rằng ông đã bị đồng bào ông ném đá chết ở đây. Theo một truyền thuyết khác, không có cơ sở đáng tin lắm, thì ông đã được vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đưa sang Ba-by-lon trong cuộc tấn công Ai-cập vào quãng năm 567 tCN và đã qua đời tại đây.

Con người của lời Chúa

Không ngôn sứ nào công bố và sống lời Chúa khít khao như Giê-rê-mi-a. Tính tình ông dịu dàng và nhạy cảm, vậy mà ông được gọiđể nhổ, để lật, để huỷ, để phá(1,10). Thích yên hàn, mà cứ phải đấu tranh,để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với mình(15,10). Yêu quê hương yêu đất nước, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (14,11), cứ phải cổ vũ sự thần phục ngoại bang, để bị lên án là kẻ phản quốc (20,8 ; 38,4). Ông không thể tin ai, ngay cả những người thân thích của ông (12,6) ; không thể hội nhập với người ta, dù là trong tang chế hay trong lễ hội (16,5-9) ; ngay cả niềm vui của một tổ ấm riêng cũng không được hưởng (16,1-4). Tóm lại, ông phải sống như một kẻ đơn chiếc nhất trên đời, luôn luônphải ngồi riêng một mình(15,17). Đúng là một thảm kịch.

Lý do ? Thưa : Lời Chúa đã áp đặt lên ông. Lời Chúa tấn công ông, lay lắc giày vò ông, đòi buộc ông phải hoàn toàn gắn bó với ý định của Chúa : sống thảm kịch cuộc đời như một phương tiện để Thiên Chúa hành động giữa lòng dân tộc ông. Một đànggặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ, làm vui thoả lòng con(15,16). Nhưng đàng kháctâm can tôi tan nát, xương cốt tôi rã rời. Tôi nên như người say, nên như kẻ bứ rượu, cũng chỉ vì Đức Chúa, vì thánh ngôn của Người(23,9). Lời Chúa giống như ngọn lửa, như chiếc búa đập tan đá khối (23,29). Được đặt vào môi miệng ngôn sứ (1,9), lời Chúacứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốtông (20,9), và đối với dân Giu-đa ngoan cố, Chúa sẽ làm cho lời của Người thành lửa nơi miệng Giê-rê-mi-a để biến họ thành củi ... (5,14). Trong cuộc đời của vị ngôn sứ này, lời Chúa là nhân tố chủ chốt, vừa là kẻ phá đám lại vừa là lẽ sống của ông, như là một thứ bạo chúa thất thường xem ra muốn đòi ông phải đánh mất chính mình và xa lánh đồng loại, nhưng thật ra để đẩy ông chìm sâu hơn vào thực tại.

Hơn mọi ngôn sứ khác, Giê-rê-mi-a phải gồng mình để chấp nhận lời Chúa và chấp nhận chính mình trong tương quan với lời ấy. Những lời thổ lộ tâm tình của ông với Thiên Chúa cho thấy rõ ý nghĩa của cuộc đời ông như một ngôn sứ :Tại sao con cứ phải đau khổ hoài ?(15,18). Ông chua chát phàn nàn với Chúa về sự cô đơn của ông, như là bịtha hoá, về một kiếp sống phù du ... nhưng tất cả chỉ đơn giản để nói rằng cuộc đời ông bị xâu xé bởi một sứ mệnh mà ông không thoái thác được. Trong những cuộc đối thoại nội tâm này, lời con người phải đương đầu với lời Thiên Chúa và kết cục là bao giờ lời Thiên Chúa cũng thắng. Không dễ gì biết rõ được tâm lý của Giê-rê-mi-a trong kinh nghiệm ngôn sứ của ông, nhưng những cuộc đối thoại ấy có diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nào đi nữa, thì chúng ta cũng phải nhận rằng mối bận tâm sâu sắc và liên lỷ của Giê-rê-mi-a vẫn là lời Thiên Chúa.

Sách Giê-rê-mi-a

Thường thường các tác phẩm ngôn sứ được phân chia thành ba phần theo lược đồ sau đây : các lời sấm lên án Ít-ra-en (Giu-đa) – các lời sấm lên án các dân tộc – các lời sấm báo phúc cho Ít-ra-en (Giu-đa). Về sách Giê-rê-mi-a, trong bản Hy-lạp, các lời sấm lên án các dân tộc được đặt liền sau Gr 25,33, trong khi bản Híp-ri lại để ở cuối sách (ch. 46-51). Có lẽ cách xếp đặt của Hy-lạp phản ảnh trung thực hơn tình trạng nguyên thuỷ của tác phẩm. Bản dịch của chúng tôi phân chia sách theo lược đồ của BJ, như sau :

Mở đầu (1,1-3)

I. Những lời sấm lên án Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (1,4 – 25,13a)

1. Thời vua Giô-si-gia-hu (1,4 – 6,30)

2. Các lời sấm, đặc biệt dưới thời vua Giô-gia-kim (7,1 – 20,18)

3. Các sấm ngôn, đặc biệt sấm ngôn sau triều đại vua Giô-gia-kim (21,1 – 24,10)

4. Ba-by-lon, tai ương Đức Chúa gửi đến (25,1-13a)

II. Mở đầu các lời sấm lên án các dân ngoại (25,13b-38)

III. Các lời tuyên sấm báo phúc (26,1 – 35,19)

1. Mở đầu. Ông Giê-rê-mi-a là ngôn sứ thật (26,1-24)

2. Tập sách nhỏ gửi dân lưu đày (27,1 – 29,32)

3. Sách An ủi (30,1 – 31,40)

4. Phụ thêm vào sách An ủi (32,1 – 33,26)

5. Sự kiện tản mác (34,1 – 35,19)

IV. Những nỗi thống khổ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a (36,1 – 46,1)

V. Những lời sấm lên án các dân tộc (46,2 – 51,64)

VI. Phụ chương (52,1-34)

Nếu theo dõi những chỉ dẫn của sách về thứ tự niên đại, chúng ta thấy ngay rằng cách sắp xếp tài liệu hiện nay là không bình thường ; nó phản ánh một sự gom nhặt thực hiện qua nhiều đợt khác nhau và không theo một tiêu chuẩn nào duy nhất. Ngoài những lời sấm bằng thơ và những bản tường thuật kể tiểu sử, còn có những bài dài bằng văn xuôi kiểu đệ nhị luật. Bản Hy-lạp không những xếp khác bản Híp-ri, như đã nói ở trên, mà còn ngắn hơn bản Híp-ri khá nhiều (đến 1/8) và nhiều khi cũng khác về chi tiết. Sự thật thì trước khi thành sách như hiện nay, đã có những đơn vị nhỏ, những sưu tập riêng rẽ, những khối sấm ngôn v.v... Nói chung, người ta nhìn nhận có ba thành phần : a. Các sấm ngôn ở ngôi thứ nhất (ch. 1-25) ; b. Các sấm ngôn ở ngôi thứ ba (ch. 26-35) ; c. Tiểu sử ông Giê-rê-mi-a (kể ở ngôi thứ ba) xếp theo thứ tự niên đại (ch. 36-45). Phần thứ nhất có thể coi như chính ông Giê-rê-mi-a để lại, trong đó cónhững lời thổ lộ tâm tìnhđã ghi ở trên. Phần thứ hai, hầu hết bằng văn xuôi, có thể là công trình của ông Ba-rúc. Tuy nhiên trong phần này, phải để riêng các ch. 30,1 – 31,40 thành một tập thơ an ủi, loan báo cuộc phục hưng Ít-ra-en sau này. Trong phần ba, cũng văn xuôi, vẫn tiếp tục nói về Giê-rê-mi-a và kể lại những thống khổ ông phải chịu đang và sau khi Giê-ru-sa-lem bị vây. Phần này kết bằng 45,1-5 như là dấu ấn của ông Ba-rúc.

Ch. 36 nói về cuộn sách ông Ba-rúc viết theo lời ông Giê-rê-mi-a đọc, sách bị đốt lại được viết lại,còn thêm vào đó nhiều điều tương tự(36,22). Các nhà chú giải đã cố gắng để xác định nội dung của cuộn sách này, nhưng xem chừng chỉ đưa ra được những giả thuyết mà thôi.

Các ch. 46-51 có lẽ không phải tất cả là của ông Giê-rê-mi-a : các lời sấm lên án Mô-áp và Ê-đôm đã được trau chuốt lại khá nhiều, còn lời sấm dài chống lại Ba-by-lon (50-51) có từ cuối thời lưu đày. Ch. 52 là một phụ chương lịch sử song song với 2 V 24,18 – 25,30).

Cũng nên lưu ý rằng có nhiều chỗ trong Giê-rê-mi-a rất giống Ê-dê-ki-en (vd. Gr 3,6-10 và Ed 16 ; 23 ; Gr 7,16 ; 11,14 và Ed 14,12-20), chứng tỏ các lời sấm của hai vị ngôn sứ có thể đã được truyền thống hoà lẫn với nhau và một nhà biên soạn muộn thời nào đó, chỉ lo cẩn thủ, nên đã đưa vào Sách Thánh mà không cần biết của ai trong hai vị.

Tóm lại, những nhận xét đã đưa ra cũng như tình trạng mất thứ tự của sách Giê-rê-mi-a hiện nay là hậu quả của một công trình sáng tác dài hơi, nhiều đợt, mà bây giờ muốn tìm lại được tất cả thì không dễ gì.

Trong tiến trình mặc khải, ông Giê-rê-mi-a xuất hiện như một mắt xích hết sức quan trọng trong cả một sợi xích(Gelin). Hơn các ngôn sứ khác, thần học của ông gắn liền với con người và kinh nghiệm cuộc sống. Trong đường nét chung, ông cũng nhắc lại những tư tưởng cổ truyền của I-sai-a, Hô-sê, A-mốt, các vị tiền bối của ông, nhưng ông đóng ấn riêng của ông vào, nhiều khi nổi rõ vì tính cảm xúc sâu xa, hoặc vì chất thơ trữ tình, nhất là những lúc ông diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc nói riêng, cũng như hậu quả của sự hiện diện đó nơi con người nói chung. Lòng tin của ông là một niềm xác tín sống động và thể hiện trong khuôn khổ một giao ước long trọng và không bãi bỏ được. Chính trong khuôn khổ ấy mà ông quan niệm, triển khai và trình bày tương lai tân kỳ của dân Chúa (để xây, để trồngtrong 1,10d), một khi đã dẹp được những gì nghịch với giao ước đó (để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, nt. 10bc).

Sau đây chúng ta theo dõi một vài nét chính trong đạo lý của ông.

Về Thiên Chúa

Ông Giê-rê-mi-a có quan niệm cổ truyền, chung với các ngôn sứ khác : một mình Đức Chúa là Thiên Chúa, Người sẽ tồn tại mãi ; còn các ngẫu thần sẽ biến tan, vì chúng là sản phẩm con người làm ra (x. 10,11). Cũng vì thế mà tất cả tạo thành đều tuân thủ các luật lệ Đức Chúa đã thiết lập. Nhưng ông Giê-rê-mi-a thường nại đến tư tưởng này để gay gắt lên án tội dân Giu-đa chống lại ý muốn của Thiên Chúa (5,22 ; 10,13 ; 14,22 ; 31,35 ; v.v...).

Một trong những ưu phẩm của Thiên Chúa được nhấn mạnh nhất, đó là sức mạnh và uy quyền của Người, thường là khi Giê-rê-mi-a đề cập đến mối tương quan giữa Thiên Chúa với ngẫu tượng (x. 10,1-16 ; 46,25 ; 47,17 ; 49,3 ; v.v...) ; trước mặt Đức Chúa, tượng thần chỉ làvô tích sự, hoàn toàn bất lực (x. 2,8.27 ; 10,3-5). Thiên Chúa dùng sức mạnh để biểu dương đức công minh của Người, bởi vì Người là Đấng cầm cân nảy mực đời sống luân lý và đạo đức của con người :Ngài thấu suốt tâm can từng gang tấc... Ngài dò xét lòng con(11,20 ; 12,3 ; x. 16,17 ; 17,10 ; 20,12 ; v.v...).

Tuy nhiên, khi thi hành đức công minh, Đức Chúa không quên lòng thương xót. Hai ưu phẩm này vẫn xuất hiện song song với nhau :Ta sẽ không nghiêm nét mặt với các ngươi nữa, sấm ngôn của Đức Chúa, và Ta không giận dữ mãi đâu(3,12 ; x. 4,27 ; 5,18 ; 9,23 ; 30,11 ; 31,3 ; 32,18). Giê-rê-mi-a nhìn thấy hoàn cảnh thời của ông khó khăn và nghiêm trọng không khác gì thời tôi mọi bên Ai-cập ; nhưng chính lúc đó là lúc lộ rõ nhất sức mạnh, đức công minh và lòng thương xót của Thiên Chúa (16,14-18).

Giao ước cũ, giao ước mới

Chính vì cuộc đời ngôn sứ của ông chìm sâu trong thống khổ mà tâm hồn ông đã được tôi luyện để sống một nền đạo đức chân tình, nội tâm. Cũng như các ngôn sứ khác, Giê-rê-mi-a gớm ghét mọi thứ sống đạo hình thức (6,20 ; 11,15 ; 14,12). Ông cực lực lên án chuyện ỷ vào Đền Thờ như một thứ bái vật để tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (7,4 tt ; 31,34 ; 33,8). Sống đạo thật sự thì phảicắt bì lòng dạ(4,4) tức là tuân thủ Luật Chúa (x. 7,23), là thực thi công bình cho người nghèo khó (22,16).

Căn bản của mối tương quan giữa Đức Chúa với Ít-ra-en là Giao ước Xi-nai mà công thức cổ điển làTa sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Taluôn luôn được Giê-rê-mi-a nhắc tới (x. 7,23 ; 11,4 ; 24,7 ; 30,22 ; 31,1). Thế nhưng người ta đã phản bội Giao Ước này và bắt buộc Thiên Chúa phải có biện pháp trừng phạt : ông nhìn nhận rằng tình trạng đất nước là hậu quả do dân không giữ giao ước đã lập (22,8-9). Thực tế là Giao ước Xi-nai đã tỏ ra bất lực trong việc hướng dẫn đời sống đạo đức của dân được tuyển chọn ; những đòi hỏi và nghi thức bên ngoài không khơi lên nổi tâm tình bên trong, lại còn trở thành cái nê cho người ta dễ sống giả hình. Nên biết : mỗi lần đưa ra những lời đe doạ trừng phạt, là Giê-rê-mi-a lại hứa hẹn chắc chắn sẽ có sự phục hồi, miễn là dân biết ăn năn trở lại. Chính trong điều kiện như thế mà ông báo trước mộtgiao ước mới(31,31-34). Đây là lần đầu tiên trong Cựu Ước xuất hiện từ này, và cũng căn cứ vào chỗ này mà phát xuất từTân Ướcsau này để chỉ thời Tin Mừng nói chung, và đặc biệt, theo lời chính Chúa Ki-tô, chỉ Giao Ước được thiết lập trong máu Người (Lc 22,20 ; x. Mt 26,28 ; Mc 14,24 ; 1 Cr 11,25 ; Hr 8,8-13 ; 10,15-18 ; 2 Cr 3,6). Về bản chất và điều kiện của giao ước mới này, xem câu chú thích vào 31,31-34.

Về tội lỗi

Tình nghĩa với Đức Chúa, ví như tình nghĩa vợ chồng (2,2 ; 3,4), bị tội lỗi làm cho rạn nứt, đứt đoạn. Tội là cái gì con người hoàn toàn ý thức (2,20.23.25.27 v.v...), xuất phát từ trái tim hư hỏng (4,4 ; 17,9 ; 18,12). Trách nhiệm nặng nhất là ở nơi thành phần lãnh đạo (vua, tư tế, nhất là ngôn sứ) chỉ ru ngủ dân để đưa họ vào con đường xấu (5,31). Đề cập tới những sai trái vi phạm Giao Ước, Giê-rê-mi-a kể ra một chuỗi những bất công xã hội dưới mọi hình thức (x. 5,1 tt ; 7,9 ; 2,8.26 ; 8,10 ; 4,9 ; 5,31 ; 14,13 ; 23,1 tt ; 5,28 ; 6,6 ; 21,12 ; 22,3.13 ; v.v...) : thế quân bình giữa người với người bị phá vỡ, nên Thiên Chúa phải can thiệp để công lý được tái lập. Riêng về tộingoại tình, không hẳn phải hiểu về điều nghịch điều răn thứ sáu hay thứ chín, nhưng chủ yếu về việc thờ thần ngoại, phạm đến Giao Ước khoản một (x. Xh 20,2-5).

Viễn ảnh về thời Mê-si-a

Ảnh hưởng của Giê-rê-mi-a