Giô-na — Sách Ngôn sứ Giô-na
Giô-na
DẪN NHẬP SÁCH GIÔ-NA
Thể loại văn chương
Sách Giô-na vẫn được xếp vào bộ “12 ngôn sứ nhỏ” trong quy điển Do thái giáo Pa-lét-tin. Nhưng ai cũng thấy sách này không giống như các sách ngôn sứ khác, mà chỉ là một câu chuyện hài hước, dí dỏm, châm biếm về một vị ngôn sứ. Ông Giô-na con ông A-mít-tai là một ngôn sứ thời vua Gia-róp-am II của vương quốc Ít-ra-en (786-746 tCN), được nói đến trong 2 V 14,25.
Cuốn sách mang tên Giô-na kể lại cuộc phiêu lưu của ông khi ông được sai đi rao giảng cho thành Ni-ni-vê, thủ đô của đế quốc Át-sua, kẻ thù truyền kiếp của Ít-ra-en. Những yếu tố phóng đại (thành phố rộng ba ngày đàng, cả người lẫn thú vật đều khoác áo vải thô, ăn chay ...), thậm chí hoang đường (con cá nuốt ông Giô-na vào bụng rồi mửa ông ra trên bờ ...) cho thấy đây không phải là một trình thuật lịch sử.
Nhân vật chính là Thiên Chúa. Sự tương phản giữa thái độ của ông Giô-na với thái độ của các thuỷ thủ ngoại đạo và của dân Ni-ni-vê được tô đậm hết mức. Tất cả đều vâng lệnh Thiên Chúa : gió, biển, con cá, cây thầu dầu, con sâu, mặt trời, gió nóng đều thi hành lệnh của Thiên Chúa. Các thuỷ thủ chuyển từ thái độ khiếp sợ sang kính sợ và tế lễ cho Thiên Chúa. Dân Ni-ni-vê nghe lời rao giảng thì ăn năn thống hối, từ vua chí dân, từ người tới súc vật. Chỉ có ông Giô-na chống đối, cự nự với Thiên Chúa từ đầu đến cuối. Chuyện kết thúc với câu hỏi Thiên Chúa đặt ra, chờ ông Giô-na trả lời.
Lối kết cấu gần giống dụ ngôn “người cha nhân hậu” trong Lc 15,11-32. Đứa con cả tự phụ trung thành nhưng chẳng hiểu gì về lòng nhân hậu của người cha, còn đứa con hoang đàng thì biết đón nhận lòng nhân hậu.
Những nhận định trên đây khiến ta có thể coi sách Giô-na là một câu chuyện, một dụ ngôn dài, mượn danh một vị ngôn sứ trong lịch sử Ít-ra-en.
Thời kỳ biên soạn
Tính cách phổ quát của ơn cứu độ hàm chứa trong toàn câu chuyện khiến ta phải tìm thời điểm biên soạn ở thời lưu đày hoặc sau lưu đày. Nhận thức sâu sắc về sự công chính của Thiên Chúa, sự cần thiết phải hoán cải và sự có thể hoán cải cũng phù hợp với thời kỳ này.
Dựa vào một số ý tưởng tương đồng với Giê-rê-mi-a (x. 18,7-8), Giô-en (x. 2,13), Ê-dê-ki-en (x. 33,11) và thời điểm bộ sách “12 ngôn sứ” được định hình (x. Hc 49,10), người ta có thể xác định được giới hạn thời kỳ biên soạn từ thế kỷ VI đến trước năm 200 tCN.
Nếu sự nhấn mạnh vào tính phổ quát của ơn cứu độ và khả năng sám hối của dân ngoại trong sách Giô-na là một cách phản kháng chủ trương “thanh lọc giống nòi” cực đoan của thời Ét-ra và Nơ-khe-mi-a, thì có lẽ cuốn sách đã xuất hiện vào cuối thế kỷ V tCN.
Bố cục
Bố cục được đánh dấu bằng hai trình thuật về lệnh Thiên Chúa truyền cho Giô-na : 1,1-3 và 3,1-4.
I. Lần sai đi thứ nhất (1,1 – 2,11)
A. Giô-na và các thuỷ thủ (1,1-16)
a) Giô-na nghe lệnh và đi trốn (1,1-3)
b) Cơn bão, phản ứng của các thuỷ thủ và của Giô-na (1,4-16)
B. Giô-na và con cá lớn (2,1-11)
a) Con cá nuốt Giô-na vào bụng rồi mửa ông lên bờ theo lệnh Thiên Chúa (2,1.11)
b) Lời cầu nguyện của Giô-na trong bụng cá (2,2-10)
II. Lần sai đi thứ hai (3,1 – 4,11)
A. Dân thành Ni-ni-vê thống hối (3,1-10)
a) Hoạt động của ngôn sứ (3,1-4)
b) Phản ứng của toàn thành phố (3,5-10)
B. Ông Giô-na nổi giận và Thiên Chúa tìm cách hoán cải tâm hồn ông (4,1-11)
a) Ông Giô-na nổi giận và từ chối đối thoại với Thiên Chúa (4,1-5)
b) Thiên Chúa cho ông một bài học thực tế và mời gọi ông suy nghĩ lại về thái độ khoan dung tha thứ của Thiên Chúa (4,6-11)
Sứ điệp của sách Giô-na
Bằng một lối văn châm biếm mạnh mẽ và sâu sắc, sách Giô-na phản kháng một số quan niệm của dân Ít-ra-en đã trở nên cứng ngắc.
Giô-na tự nhận là người kính sợ Chúa, nhưng lại hành động ngược với lệnh Thiên Chúa rồi nổi giận vì hành động tha thứ của Thiên Chúa và vẫn “ngồi chờ xem”, như muốn Thiên Chúa sẽ thay đổi ý định tha thứ !
Trong khi đó những người ngoại đạo mà người Do-thái khinh chê và muốn xa lánh (ở đây được tiêu biểu bằng các thuỷ thủ và dân Ni-ni-vê), khi nghe biết Thiên Chúa thì thật lòng kính sợ, kêu cầu Thiên Chúa, ăn năn hối cải và được cứu. Thiên Chúa không phá đổ Ni-ni-vê nhưng phá đổ tội lỗi Ni-ni-vê, làm cho họ bỏ đường gian ác mà trở lại.
Giô-na biết Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu... nhưng ông không muốn cho dân ngoại được hưởng lòng thương xót của Thiên Chúa. Ông muốn chết đi cho rồi vì thấy dân ngoại đã được tha thứ. Ông tiếc xót cây thầu dầu đã che mát cho ông chứ không thương dân Ni-ni-vê.
Câu hỏi cuối cùng của Thiên Chúa vạch cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người chỉ vì họ là thụ tạo của Người, chứ không phải vì họ là dân này hay dân khác.
Chân dung hiếm hoạ của vị ngôn sứ mời gọi người ta suy nghĩ lại về vai trò đích thật của ngôn sứ : đi rao giảng để cho người ta trở lại chứ không phải đi công bố sự trừng phạt.
Nếu Ni-ni-vê bị phá đổ thì người Do-thái hả hê vì thấy kẻ thù bị trừng phạt, nhưng Thiên Chúa không phải là Đấng đi báo thù giùm họ, như trước kia họ vẫn chờ đợi (x. Is 13 – 23 ; Gr 46 – 51). Thiên Chúa muốn cho mọi người hối cải và được cứu độ.
Sách Giô-na trong Tân Ước
Hai yếu tố trong sách Giô-na được Đức Giê-su sử dụng :
1.Chuyện ông Giô-na ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm được dùng để tượng trưng việc “Con Người ở trong lòng đất ba ngày ba đêm” (x. Mt 12,40).
2.Việc dân thành Ni-ni-vê sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng được nêu lên như một sự tương phản tố giác thái độ cứng lòng của dân Do-thái đối với Đức Giê-su (x. Mt 12,39-41 ; Lc 11,29-32).
Ngoài ra, hai chủ đề cơ bản trong sách Giô-na là tính cách phổ quát của ơn cứu độ và sự đề cao lòng tin của người dân ngoại cũng là những chủ đề lớn trong toàn thể Tân Ước (x. Mt 8,5-13 ; 15,21-28 ; 28,19-20 ; Lc 2,30-32 ; 24,27 ; Cv 1,8 ; 11,18 ; Rm 1,16 – 3,31.
Trong phụng vụ
Câu chuyện ông Giô-na được cứu khỏi đáy biển đã được dùng làm biểu tượng cho bí tích thánh tẩy.