Kha-ba-cúc — Sách Ngôn sứ Kha-ba-cúc
Kha-ba-cúc
DẪN NHẬP SÁCH KHA-BA-CÚC
Tác giả
Đn 14,33-39 nói đến ngôn sứ Kha-ba-cúc như một người đồng thời với ngôn sứ Đa-ni-en. Lúc ấy, ngôn sứ Đa-ni-en đang bị lưu đày ở Ba-by-lon. LXX thêm vào sau tên gọi Kha-ba-cúc (x. Kb 1,1)con ông Giê-su, chi tộc Lê-vi. Dựa vào Kb 2,6-20 và chương ba, có người cho rằng ngôn sứ Kha-ba-cúc là một ngôn sứ thuộc giới tư tế ở Đền Thờ, đồng thời với ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Nhưng thực ra, chúng ta không biết gì về ngôn sứ Kha-ba-cúc, ngoại trừ chính tác phẩm (x. Kb 1,1).
Thời kỳ biên soạn
Kb 1,6 xác định dân Can-đê sẽ nổi lên đi chinh phục khắp nơi. Can-đê chính là Ba-by-lon. Quả thật, tân đế quốc Ba-by-lon triệt hạ đế quốc Át-sua vào năm 612 tCN ... Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thực hiện cuộc viễn chinh khoảng năm 610-605 tCN. Vua này chiến thắng liên quân Giu-đa Ai cập tại Các-cơ-mít năm 605 tCN, rồi đưa quân đánh chiếm Giu-đa, vây hãm Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất năm 597 tCN và bắt dân đi đày.
Ngôn sứ Kha-ba-cúc có lẽ đã tuyên sấm trước hoặc sau cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất. Lời sấm cho thấy rõ dân Can-đê thực sự là mối đe doạ nguy hiểm cho dân Giu-đa, trước khi Giê-ru-sa-lem thất thủ năm 587 tCN. Những lời than vãn của ông Kha-ba-cúc phản ánh sự bất công tàn nhẫn dân Giu-đa phải gánh chịu dưới thời cai trị hà khắc của vua Giơ-hô-gia-kim (609-598 tCN). Nhà vua đã bị ngôn sứ Giê-rê-mi-a lên án về tội lạm dụng quyền hành và báo cho biết sẽ được chôn cất như một con lừa (x. Gr 22,13-19 ; 2 V 23,27).
Vì thế, có người nghĩ rằng ngôn sứ Kha-ba-cúc sống đồng thời với ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Sách Kha-ba-cúc được soạn khoảng năm 600 tCN trở về sau.
Độc giả
Những lời sấm này được gửi đến dân Giu-đa đang thắc mắc về đức công chính của Thiên Chúa. Họ không hiểu tại sao Thiên Chúa là Đấng Thánh và là Đấng Chính Trực mà lại để dân ngoại tội lỗi xâm phạm Đền Thờ là nơi Người ngự, tàn sát dân riêng Người tuyển chọn. Ngôn sứ Kha-ba-cúc đã tìm được câu trả lời cho dân :Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình(2,4).
Mục đích
Đọc thoáng qua sách Kha-ba-cúc, người ta tưởng ngôn sứ Kha-ba-cúc hoài nghi về đức công chính của Thiên Chúa ! Người đối xử nghiệt ngã với dân Ít-ra-en, nhưng lại khoan hồng với dân ngoại tàn ác. Đọc kỹ, người ta khám phá ra tác giả giúp cho độc giả hiểu rõ tình thương của Thiên Chúa. Ngôn sứ kêu gọi dân sống công chính và tin tưởng vào Thiên Chúa. Người sửa trị dân bằng roi sắt. Người dùng con đường cong để vẽ đường thẳng.
Bố cục
Tên sách : 1,1
I. Cuộc đối thoại giữa ngôn sứ và Thiên Chúa : 1,2 – 2,4
1. Lời phàn nàn thứ nhất của ngôn sứ : 1,2-4
2. Sấm ngôn đầu tiên : 2,5-11
3. Lời phàn nàn thứ hai của ngôn sứ : 1,12-17
4. Sấm ngôn thứ hai : 2,1-4
II. Những lời chúc dữ cho kẻ áp bức : 2,5-20
1. Giáo đầu : 2,5-6a
2. Năm lời chúc dữ : 2,6b-20
III. Cầu xin Đức Chúa can thiệp : 3,1-19
Đạo lý
Sách Kha-ba-cúc nêu lên vấn nạn về đức công minh của Thiên Chúa. Làm sao Thiên Chúa ghét sự ác, lại có thể dùng sự tàn bạo của dân Ba-by-lon (Can-đê) mà trừng phạt dân Ít-ra-en. Cho dù dân Chúa có phạm tội đi nữa, thì cũng còn chính trực hơn kẻ áp bức mình (x. 1,13), vì Can-đê coi sức mạnh của nó như thần như thánh (x. 1,11). Vấn đề sự ác đặt ra trên bình diện quốc gia hơn là cá nhân, và có lẽ tập thể phải chịu trách nhiệm liên đới với cá nhân, đúng như ngạn ngữ :Đời cha ăn nho xanh, đời con ê răng. Người ta không thể hiểu nổi hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử. Người dùng con đường nghịch lý để cai trị các dân tộc (x. 1,13-14). Người là chủ tể của vũ trụ, của các đế quốc, các dân tộc (x. 1,6 ; 2,5 ; 3). Thiên Chúa chuẩn bị cho chiến thắng của đức công minh Người. Người đợi thời Người đã ấn định (x. 2,3). Thời ấy chắc chắn sẽ đến, dù có chậm. Hãy chờ đợi. Người công chính không phải thất vọng, khi thấy Thiên Chúa chưa ra tay hành động chống lại sự ác, vìĐức Chúa là Chúa Thượng, làm cho tôi mạnh sức(x. 3,19). Quả thật, Thiên Chúa cai trị vũ trụ bằng mầu nhiệm.