Ma-la-khi — Sách Ngôn sứ Ma-la-khi
Ma-la-khi
DẪN NHẬP SÁCH MA-LA-KHI
Tác giả
Đa số các nhà chú giải Kinh Thánh đều đồng ý rằng sách Ma-la-khi là của một tác giả vô danh. Ma-la-khi không phải là tên riêng của một tác giả cho bằng một tên chỉ chức vụ ; trong tiếng Híp-ri, Ma-la-khi có nghĩa làthần sứ của Ta. Có lẽ vì thế mà người ta không biết gì nhiều về con người của ông. Theo Ml 3,1 người ta chỉ biết ông là vị sứ giả, vị tiền hô đi trước để dọn đường cho Ngày Đức Chúa ngự đến. Và có thể ông cũng được đồng hoá với ngôn sứ Ê-li-a sẽ trở lại (x. 3,23-24).
Tác phẩm
Đặc điểm của sách Ma-la-khi là được biên soạn theo kiểu đối thoại. Đây là một cuộc đối thoại, hay nói đúng hơn là một cuộc tranh luận giữa dân và vị sứ giả của Thiên Chúa. Nhiều vấn đề được đặt ra, tranh luận và rồi vị sứ giả của Thiên Chúa đưa ra lời giải đáp dứt khoát, như một câu trả lời của Thiên Chúa cho dân. Đọc thoáng qua người ta có cảm tưởng sách được hình thành bởi các cuộc đối thoại rời rạc được đặt kề cạnh nhau. Nhưng nếu đọc kỹ, người ta sẽ nhận ra một sự thống nhất nào đó trong tác phẩm. Sự thống nhất đó được hình thành trước hết là do chính cái hoàn cảnh xã hội và tôn giáo đã hình thành nên tác phẩm. Sách Ma-la-khi phản ánh một hoàn cảnh không được tốt đẹp lắm trong đời sống đức tin và tôn giáo của cộng đoàn hồi hương. Những thực tế sau lưu đày không còn làm cho họ phấn khởi như thuở ban đầu. Niềm hy vọng mà các ngôn sứ Khác-gai và Da-ca-ri-a khơi lên trong lòng họ thật xa vời (x. Kg 2,21 tt ; Dcr 1,17 ; 2,14 ...). Nhiều người Do-thái hầu như không còn tin vào một Thiên Chúa chính trực và yêu thương. Làm sao mà tin tưởng được khi những kẻ gian ác cứ thịnh đạt, an cư, còn họ thì chẳng nhận được phúc lành của Thiên Chúa ! Trong khi đó các tư tế chỉ thi hành việc phụng tự một cách chiếu lệ, họ không chu toàn những nhiệm vụ được giao một cách nghiêm túc. Người ta không nộp hoặc nộp thuế thập phân cho đền thờ một cách miễn cưỡng. Nhiều người đi cưới vợ ngoại bang và nạn rẫy vợ cũng thường xảy ra. Trước hoàn cảnh đó, vị ngôn sứ của Thiên Chúa cảm thấy mình có nhiệm vụ vừa phải răn đe vừa phải củng cố niềm tin cho người Do-thái.
Bố cục
I.Giới thiệu(1,1)
II.Tình thương của Thiên Chúa đối với Ít-ra-en: Người Do-thái nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa trả lời : việc Người giáng phạt Ê-đôm là điều chứng tỏ Người vẫn yêu thương họ và yêu thương họ hơn hết (1,2-5).
III.Cáo tội các tư tế: Yêu thương dân riêng của Người không phải là làm ngơ trước những việc xấu xa họ làm. Như một người cha đầy tình hiền phụ, Người răn đe và sửa dạy họ. Trước hết, Người sửa dạy các tư tế : Các ông đã dám dâng cho Người những con vật tàn tật làm lễ tế và đã xao lãng bổn phận được giao phó (1,6 – 2,9).
IV.Hôn nhân hỗn hợp và ly dị: Người cũng sửa dạy cả dân chúng. Họ đã dám đi cưới vợ ngoại bang cũng như đã rẫy vợ. Đó là hai tội mà vị ngôn sứ lớn tiếng tố cáo (2,10-16).
V.Ngày của Đức Chúa: Có tội cần phải được thanh tẩy. Thiên Chúa sẽ đến thanh tẩy cả con cái Lê-vi lẫn toàn dân trong Ngày trọng đại của Người (2,17 – 3,5).
VI.Nộp thuế thập phân cho Đền Thờ: Mọi hoạt động của đời sống tôn giáo đều kết thúc ở đỉnh cao phụng tự. Để chu toàn được công việc đó và trong khi chờ đợi ngày của Chúa đến, người ta có bổn phận nộp đầy đủ thuế thập phân cho Đền Thờ một cách quảng đại. Nếu họ chu toàn, Thiên Chúa sẽ ban cho họ muôn phúc lành (3,6-12).
VII.Người công chính khải hoàn trong ngày Đức Chúa: Trong ngày Đức Chúa ngự đến, Người không chỉ thanh tẩy (3,1-5), Người còn đón nhận và làm cho những kẻ kính sợ Người được hân hoan vui sướng. Người công chính sẽ chà đạp kẻ gian ác như bụi dưới bàn chân (3,13-21).
VIII.Lời khuyên cuối cùng: Thiên Chúa khuyên họ hãy ghi nhớ Luật Mô-sê và hãy thi hành những chỉ thị và phán quyết của Người. Người sẽ sai Ê-li-a đến để chuẩn bị tâm hồn họ sãn sàng đón nhận ngày Người ngự đến (3,22-24).
Thời gian và nơi biên soạn
Sách Ma-la-khi không cho chúng ta biết nhiều về con người của tác giả, nhưng lại cho chúng ta biết khá rõ về hoàn cảnh trong đó cuốn sách được hình thành. Cộng đoàn trở về từ miền đất lưu đày đã lâu. Đền thờ đã được xây dựng lại (năm 515 tCN). Ét-ra và Nơ-khe-mi-a đang cố gắng phục hưng và canh tân lại xứ sở về nhiều mặt. Những chi tiết trong sách cho chúng ta thấy hoàn cảnh được diễn tả trong sách rất am hợp với hoàn cảnh trước cuộc canh tân tôn giáo của Nơ-khe-mi-a. Vì vậy có lẽ Ma-la-khi đã tuyên sấm vào giữa những năm 444-432 tCN. Sách Ma-la-khi cũng được biên soạn vào thời gian này hoặc sau đó không lâu.
Đặc điểm của sách Ma-la-khi
Sách Ma-la-khi có những đặc điểm sau đây :
– 1,11 : Loan báo và chuẩn bị cho hy tế hoàn hảo và phổ quát của kỷ nguyên Đấng Mê-si-a.
– 2,16 : Chống lại việc rẫy vợ. Sau này Chúa Giê-su sẽ đưa ra một quyết định mạnh mẽ và dứt khoát hơn về vấn đề ly dị (x. Mt 19,6-9).
– 3,19-20 : Giải quyết vấn đề thưởng phạt có tính cách cánh chung.
– 3,23-24 : Việc Ê-li-a trở lại và sứ mạng của ông trong ngày Chúa ngự đến là một đề tài lớn trong Cựu Ước và Tân Ước (x. Mt 11,14 ; 17,10-13 ; Mc 9,11-13 ; Lc 1,17).