Xô-phô-ni-a — Sách Ngôn sứ Xô-phô-ni-a
Xô-phô-ni-a
DẪN NHẬP SÁCH XÔ-PHÔ-NI-A
Bối cảnh lịch sử xã hội
Là một đất nước nằm trên một hành lang quan trọng, ở giữa nhiều quốc gia thù nghịch và lắm cao vọng, Ít-ra-en không thể nào bình chân như vại đứng đó và dửng dưng với mọi biến động của lịch sử. Có lẽ chính vì tương lai của đất nước, vì sự tồn vong của một dân tộc tự nhận mình là dân riêng của Chúa mà họ đã rơi vào nhiều lầm lẫn đáng trách. Các đế quốc đang ào ạt thôn tính xứ này nước nọ, đang tiến quân ngay bên hông Ít-ra-en ; phải làm sao đây ? Phải cầu viện ? Phải liên minh ? Phải củng cố quân lực và trang bị vũ khí ? Hay phải tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và sống theo những chỉ thị của Người ?
Trước đây, vì muốn độc lập với đế quốc Át-sua, vua Khít-ki-gia-hu (716-687 tCN) đã bị vua Xan-khê-ríp kéo quân đến tấn công và cuối cùng phải nộp cho Xan-khê-ríp nhiều bạc vàng mới được yên (x. 2 V 18,7.13-19 ; 2 Sb 32,2-8.9-26 ; Is 36,1.21-37). Có lẽ vì học được bài học của vua cha nên suốt đời vua Mơ-na-se (687-642 tCN) đã cúi đầu tùng phục và làm chư hầu cho các vị vua Át-sua (Xan-khê-ríp, Ê-xa Khát-đôn, Át-náp-pa). Cũng vì thế Mơ-na-se đã du nhập vào Ít-ra-en nhiều việc tôn giáo ngoại lai, đi ngược với đức tin tinh tuyền của dân Chúa. Mơ-na-se phạm tội, kéo theo cả toàn dân phạm tội cùng với ông. Tội của Mơ-na-se thật lớn, và nhiều lần đã bị Thiên Chúa trách cứ. Hình ảnh của Mơ-na-se là một hình ảnh thật ảm đạm trong lịch sử cứu độ (x. 2 V 21,20 ; 23,12.26 ; 24,3 ; Gr 15,4). Theo sách Sử biên niên, vua Mơ-na-se đã bị bắt đi đày ở Ba-ben, sau đó vua đã thống hối trở về với Thiên Chúa và được trở về Giê-ru-sa-lem (x. 2 Sb 33,11-20). A-môn (642-640), con của vua Mơ-na-se lên ngôi cũng đi theo một đường lối như cha mình. Ông đã bỏ Thiên Chúa mà phụng thờ và sụp lạy các ngẫu tượng như vua cha (x. 2 V 21,19-26). Trị vì được hai năm, ông bị các thuộc hạ âm mưu giết chết, có lẽ cũng vì những mâu thuẫn chính kiến.
Đến lượt Giô-si-gia-hu lên ngôi (640-609 tCN), lúc này ông còn quá trẻ, chỉ mới có tám tuổi (x. 2 V 22,1-2). Những gánh nặng, những bóng mờ của quá khứ không thể thanh toán, xoá bỏ trong ngày một ngày hai, nhất là khi vị vua còn quá nhỏ tuổi, mọi việc triều chính hầu như nằm gọn trong tay các đại thần. Trong chế độ quân chủ cha truyền con nối thì quan tướng cũng thường kế tục từ đời vua này sang đời vua khác. Chính vì những điều đó mà chính sách của triều đình trong giai đoạn vua Giô-si-gia-hu còn nhỏ tuổi không có gì khác với chính sách của các vị vua trước. Đời sống chính trị, xã hội, tôn giáo cũng không có gì khác lạ so với thời gian trước đó và còn chịu nhiều hậu quả của hai triều vua trước.
Bối cảnh chính trị, xã hội và tôn giáo lúc ngôn sứ Xô-phô-ni-a bắt đầu rao giảng thật thảm thương. Về mặt đời sống tôn giáo, người ta từ bỏ Thiên Chúa để thờ lạy các ngẫu thần mà vua Mơ-na-se và A-môn đã đưa vào Giu-đa (x. Xp 1,4-7). Về mặt đời sống đức tin, người ta nghi ngờ sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cũng như trong cuộc đời của họ. Họ chỉ cậy dựa vào vật chất, bạc tiền (x. Xp 1,10-11), và không còn mảy may quan tâm đến Thiên Chúa (x. Xp 1,12-13). Về mặt đời sống xã hội và văn hoá người ta chạy theo những thói đời, những cách sống ngoại lai, từ bỏ chính cái gốc rễ và bản sắc dân tộc của mình (x. Xp 1,8-9). Dân chúng thì như thế, còn các nhà lãnh đạo Ít-ra-en cũng chẳng hơn gì ! Như hậu quả còn sót lại của hai triều vua vô đạo và yếu nhược trước kia, các thủ lãnh thì như sư tử rống, các thẩm phán như sói ăn đêm, các ngôn sứ là hạng khoác lác ba hoa, là những quân phản bội, các tư tế làm ô uế đền thờ và vi phạm lề luật (x. Xp 3,1-5). Về mặt đường lối và chính sách của triều đình, người ta vẫn còn đi theo đường lối “thân Át-sua” (x. Xp 1,8-9).
Trong bối cảnh đó, ngôn sứ Xô-phô-ni-a được Thiên Chúa sai đến để cảnh tỉnh, để kêu gọi mọi người thay đổi và canh tân đời sống may ra sẽ thoát được ngày nổi giận của Chúa (x. Xp 1,4 – 2,3).
Tác giả
Xô-phô-ni-a có nghĩa làĐức Chúa đã giấu, đã gìn giữ, đã giữ lại, có lẽ vì ông là người đã được Thiên Chúa tách riêng và gìn giữ một cách đặc biệt để thi hành sứ mạng trong một thời kỳ khó khăn. Có nhiều chỉ điểm cho phép người ta suy đoán về nguồn gốc của ngôn sứ Xô-phô-ni-a. Theo Xp 1,1 có người cho Xô-phô-ni-a là một người mang dòng máu da đen, là con của một người Ê-thi-óp (Cu-si), một đất nước mà ít ra đã hai lần ông đề cập đến trong tác phẩm của mình (x. Xp 2,12 ; 3,10). Người khác cũng dựa vào Xp 1,1 để cho rằng Xô-phô-ni-a là cháu chắt của vua Khít-ki-gia (716-687 tCN). Lý do những người này đưa ra là : không một ngôn sứ nào mà phổ hệ được đề cập đến bốn đời và chấm dứt với một cái tên khá quen thuộc, trùng tên với một vị vua nổi tiếng của Giu-đa, vua Khít-ki-gia. Người khác nữa lại dựa vào thái độ không mấy thiện cảm của ngôn sứ Xô-phô-ni-a đối với đế quốc Át-sua và dựa vào một vài chỉ dẫn khác trong tác phẩm để cho rằng : Xô-phô-ni-a là một người gốc ở Sa-ma-ri đang cư ngụ ở trongthành mới(1,10), do vua Khít-ki-gia xây dựng cho họ sau khi Sa-ma-ri bị quân Át-sua thôn tính (năm 721 tCN). Tuy nhiên không một điều suy đoán nào là chắc chắn cả.
Bố cục
I. Lời mở đầu (1,1)
II. Ngày của Đức Chúa tại Giu-đa (1,2 – 2,3)
– Lời mở đầu liên quan đến vũ trụ (1,2-3)
– Hạch tội thờ các thần ngoại bang (1,4-7)
– Hạch tội các quan chức triều đình (1,8-9)
– Hạch tội những kẻ buôn bán tại Giê-ru-sa-lem (1,10-11)
– Hạch tội những kẻ không tin (1,12-13)
– Ngày của Đức Chúa (1,14-18)
– Kết luận : Kêu gọi trở lại (2,1-3)
III. Hạch tội chư quốc (2,4-15)
– Kẻ thù ở phương tây : quân Phi-li-tinh (2,4-7)
– Kẻ thù ở phương đông : Mô-áp và Am-môn (2,8-11)
– Kẻ thù ở phương nam : Ê-thi-óp (2,12)
– Kẻ thù ở phương bắc : Át-sua (2,13-15)
IV. Hạch tội Giê-ru-sa-lem (3,1-8)
– Hạch tội các nhà lãnh đạo quốc gia (3,1-5)
– Bài học của các nước (3,6-8)
V. Các lời hứa (3,9-20)
– Các dân tộc trở lại (3,9-10)
– Thiểu số Ít-ra-en còn sót lại (3,11-13)
– Thánh vịnh mời gọi Xi-on vui mừng (3,14-18)
– Những kẻ tản lạc được hồi hương (3,19-20)
Các chủ đề lớn
1.Ngày của Đức Chúa: Ngày của Đức Chúa là một chủ đề lớn trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước (x. Am 5,18-20 ; Ge 4,9-17 ; Dcr 12,1 tt ; Is 2,6-22 ; Ed 7,7-27 ; Ml 3,2-5.19-21 ; Cv 2,20 ; 1 Cr 1,8 ; 2 Cr 1,14 ; 1 Tx 5,2 ; 2 Tx 2,2 ; 2 Pr 3,10 ...). Tuy nhiên, nơi sách Xô-phô-ni-a, Ngày của Đức Chúa được diễn tả một cách thật đặc biệt làm cho lời sấm về Ngày của Đức Chúa của ông trở thành nổi tiếng. Chính bản văn này (Xp 1,14-18) đã gợi hứng cho thánh thi “Dies irae” thời Trung Cổ. Ngày của Đức Chúa nơi sách Xô-phô-ni-a là một ngày tận diệt có tầm vóc vũ trụ. Ngày đó như một “trận lụt hồng thuỷ” thứ hai, nhằm thanh tẩy và tuyển lựa cho Chúa một trời mới, một đất mới và một dân mới (x. Xp 1,2-3.7.14-18). Nhưng ngày đó lại không kết thúc một cách bi thảm ; “số còn sót lại” là một nốt nhạc vui, một niềm hy vọng mới cho cả Thiên Chúa lẫn con người.
2.Kẻ nghèo hèn, đức khiêm nhường và số còn sót lại: Kẻ nghèo hèn, đức khiêm nhường và số còn sót lại cũng là những chủ đề phong phú trong Kinh Thánh. Tuy nhiên nơi sách Xô-phô-ni-a, kẻ nghèo hèn, đức khiêm nhường và số còn sót lại đã được nối kết một cách đặc biệt. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a chắc đã cảm nghiệm được sự ghê tởm của tính kiêu căng đắc thắng của con người trước mặt Thiên Chúa. Chính vì tội đó mà Thiên Chúa đã quyết định quét khỏi mặt đất này loài người cũng như loài vật, chim trời lẫn cá biển (x. 1,2-3 ; 3,11). Chính vì thế mà đã nhiều lần ông lớn tiếng tố cáo những kẻ nghênh ngang, những kẻ đắc thắng tự kiêu (x. 2,8.10.15 ; 3,4.11-13), và hết sức đề cao những kẻ nghèo hèn và bé nhỏ (x. 2,3 ; 3,12-13).
Với Xô-phô-ni-a, những người nghèo hèn trước hết không phải là những kẻ đói cơm rách áo cho bằng những kẻ chỉ biết tìm kiếm Thiên Chúa, nương ẩn nơi Danh của Người, sống một cuộc đời khiêm nhường và công chính. Chính họ là số còn sót lại của Ít-ra-en sau ngày nổi giận của Chúa, sau cuộc thanh luyện vĩ đại của Người.
Thời gian biên soạn
Việc xác định thời gian biên soạn sách Xô-phô-ni-a không khó khăn lắm. Chúng ta biết rằng ngôn sứ Xô-phô-ni-a thi hành sứ mạng dưới thời vua Giô-si-gia-hu (640-609 tCN) (x. Xp 1,1). Trong tác phẩm, ngoại trừ Xp 1,1 không một nơi nào đề cập đến vua mà chỉ nói đến các thủ lãnh, các hoàng tử ; điều đó làm cho người ta nghĩ rằng Xô-phô-ni-a thi hành sứ mạng ngôn sứ lúc vua Giô-si-gia-hu còn nhỏ tuổi, khi mà mọi việc triều chính đều nằm trong tay các đại thần (x. 2 V 21,26 – 22,1 ; 2 Sb 33,25 – 34,1 ; Xp 1,8-9 ; 3,1-5). Lúc đó, thế lực và ảnh hưởng của đế quốc Át-sua còn khá mạnh (x. 1,5.8 ; 2,15). Tác phẩm cũng phản ảnh đời sống chính trị, xã hội, văn hoá và tôn giáo của Giu-đa còn khá bất ổn ; như vậy, Xô-phô-ni-a phải thi hành sứ mạng ngôn sứ trước cuộc canh tân tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (x. 2 Sb 34,3-33), tức là trước năm 628 hay ít là trước năm 622 tCN. Như thế, Xô-phô-ni-a chắc đã thi hành sứ mạng ngôn sứ vào giữa những năm 640-622 tCN, và có lẽ vào những năm gần hơn với cuộc canh tân tôn giáo của vị vua trẻ. Xô-phô-ni-a tuyên sấm cùng lúc với ngôn sứ Na-khum và có lẽ cùng với những năm đầu tiên của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã chịu nhiều ảnh hưởng của ngôn sứ Xô-phô-ni-a.