Thánh vịnh — Sách Thánh Vịnh
Thánh vịnh
DẪN NHẬP SÁCH THÁNH VỊNH
Tín hữu sống trong lịch sử, đứng trước Thiên Chúa
Những bài thơ mang hình thức cầu nguyện nằm rải rác đó đây trong Kinh Thánh Cựu Ước. Một số bài được ghép vào Ngũ Thư và các trình thuật lịch sử như Xh 15,1-18 ; Đnl 32,1-43 ; 33,2-5.26-29 ; 1 Sm 2,1-10 ... Có những đoạn nhập vào các sách Ngôn Sứ (Is 12,1-6 ; 26,1-19 ; Gn 2,3-10 ; Mk 7,18-20 ; Nk 1,2-8 ...). Trong loại sách Giáo Huấn như G và Hc, độc giả nhận thấy vài đoạn mặc hình thức bài thơ diễn tả lời cầu nguyện, chẳng hạn G 36,22 – 37,13 ; Hc 36,1-17 ; 51,1-12 ... Ngoài ra, phần nhiều các bài thơ thuộc loại này được gom lại trong một cuốn :Sách Thánh vịnh.
Đọc lên các bài thơ đó, người Ki-tô hữu không khỏi không sống những tâm tình phức tạp của các tác giả, nghe được bao tiếng kêu than não nuột, bao tiếng lòng thổn thức ... Các tác giả Tv diễn tả nỗi lo âu khắc khoải, khi bị cơn bệnh hành hạ giày vò, khi đứng trước thái độ thù nghịch của đối phương, khi cảm thấy đau khổ, phẫn uất và tuyệt vọng ; rồi cách này cách khác, các ngài cũng nói lên niềm hy vọng cậy trông vào Thiên Chúa. Nhiều khi các tác giả dâng lên Thiên Chúa lời ngợi khen cảm tạ, diễn đạt những tâm tình biết ơn chân thành, hoặc diễn tả niềm vui lớn vì được Thiên Chúa dạy dỗ bảo ban. Những tâm tình, thái độ và hành động tích cực vừa kể trên chỉ có thể phát xuất từ những tâm hồn sáng suốt, đầy đức tin và đức mến. Nhờ thế, họ có thể nhận ra trong mọi phạm vi sự hiện diện hữu hiệu và diệu kỳ của Thiên Chúa là Đấng đến cứu : Người muốn cứu và có thể cứu, nếu tín hữu và cộng đoàn Ít-ra-en thành tâm cầu khẩn Người.
Thi văn trong Cựu Ước
Trong Cựu Ước, có những cuốn hoàn toàn viết bằng thơ như : G,các Tv, Cn, Dc, Gv, Kn và Ac. Phần lớn các sách : Is, Gr và các tiểu ngôn sứ, một phần sách Ed là những đoạn tản văn có nhịp điệu. Có những bài ca hoặc mảnh bài ca đây đó được ghép vào Ngũ Thư và một số sách lịch sử, chẳng hạn : Bài ca đề cao ông La-méc (St 4,23-24), bài ca chiến thắng của ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en (Xh 15,1-18), bài ca giếng nước (Ds 21,17-18), bài ca khải hoàn của bà Đơ-vô-ra và ông Ba-rắc (Tl 5,2-31), điếu ca của vua Đa-vít khóc vua Sa-un và anh bạn Giô-na-than (2 Sm 1,19-27), bài ca tụng ông Giu-đa Ma-ca-bê (1 Mcb 3,3-9), bài ca tụng ông Si-môn (1 Mcb 14,4-15).
Lịch sử các Thánh vịnh
Nhờ lịch sử các tôn giáo, miền Trung Đông, cách riêng ở Lưỡng Hà Địa, Ca-na-an và Ai-cập, chúng ta có thể nhận thấy : thi ca tôn giáo đã sớm xuất hiện trong dòng lịch sử văn hoá. Theo khoa bình luận về văn chương và tôn giáo, chắc nhiều nước lân cận đã gây ảnh hưởng trên thi ca Do-thái, cách riêng về văn thể : có lẽ thi luật trong Cựu Ước đã theo một phần nào thi luật của văn chương Ca-na-an (xem các văn kiện U-ga-rít). Số lượng các bài thi ca của những nước khác vượt hẳn số lượng các Tv Do-thái. Như thế, các Tv này không phải là những tác phẩm văn chương thuộc quyền sở hữu của dân Do-thái. Nhưng, các Tv và kinh nguyện trong Kinh Thánh Cựu Ước thì khác hẳn những bài thi ca thuộc các nước lân cận. Nội dung hoàn toàn mới trong các Tv và kinh nguyện Cựu Ước phát xuất từ đạo độc thần Do-thái : lòng tin và những tâm tình tôn giáo nơi người Do-thái chỉ quy hướng về một Thiên Chúa duy nhất, Đấng hằng can thiệp trong đời sống và lịch sử dân Người. Mối tương quan cụ thể đó đã mang lại cho các Tv và kinh nguyện Do-thái những sắc thái riêng biệt.
Nói đến lịch sử các Tv là nói đến ba vấn đề : 1. vấn đề những hình thức tiền Tv dẫn đến hình thức Tv ; 2. vấn đề niên biểu ; 3. vấn đề các tác giả.
Những hình thức tiền Thánh vịnh
Không hề thấy vết tích do những hình thức tiền Tv hoặc hình thức Tv thời các tổ phụ để lại. Cho nên, không rõ trong thời các tổ phụ có những hình thức đó hay không ? Có thể xảy ra hai trường hợp : hoặc trong thời ấy đã không có ai viết, hoặc trong thời ấy, các hình thức đó đều hoàn toàn mất tích.
Bài ca của nữ ngôn sứ Mi-ri-am, em ông A-ha-ron, là di tích của một bài ca cổ xưa nhất : “Hãy hát mừng Đức Chúa, Đấng cao cả uy hùng. Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương” (Xh 15,21). Đến thời sau, xuất hiện bài ca chiến thắng của ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en (Xh 15,1-18). Rồi đến bài ca của bà Đơ-vô-ra và ông Ba-rắc (Tl 5,2-31).
Ngày trước, người ta thường coi vua Đa-vít như người khởi xướng thánh ca và do đó như ông tổ các Tv. Thực sự, theo lời chứng của Cựu Ước, vua Đa-vít có tài chơi nhạc khí (1 Sm 16,16-19.23 ; 2 Sm 6,5 ; x. Am 6,5), có khiếu ca ngâm hát xướng (2 Sm 1,17 ; 3,33 ; 6,5 ; 23,1). Vua lại biết sáng tác những bài thơ (2 Sm 1,19-27 ; 3,33-34), thích lo việc tế tự (2 Sm 6,5.15-16). Những điểm này có thể đưa tới kết luận sau đây : chắc vua Đa-vít phải đóng một vai trò quan trọng vào giai đoạn đầu của nền thi ca tôn giáo trong dân Ít-ra-en.
Trong các sách ngôn sứ, có vài đoạn mang hình thức tương tự các Tv được ghép vào đó : Is 38,10-20 (ai ca cá nhân ; cc. 10-15, kèm theo bài ca tạ ơn : cc. 16-20) ; Đn 2,20-23 (lời ca ngợi Thiên Chúa) ; 3,26*-45* (Tv sám hối). Cc. 52*-90* (Thánh ca của ba thanh niên trong lò lửa) ; Gn 2,3-10 (Tv tạ ơn gồm những câu thuộc nhiều Tv khác nhau). Loại ai ca cá nhân chịu ảnh hưởng của ngôn sứ Gr khá nhiều.
Niên biểu các Thánh vịnh
Tv 137,1-4 (cách riêng c.3) cho thấy : trước thời lưu đày (597-538 tCN), đã có những “Thánh ca Xi-on”.
Vào đầu thế kỷ này, nhiều nhà chú giải không Công giáo thường chủ trương rằng trong thực tế mọi Tv đều được sáng tác vào thời sau lưu đày hoặc muộn hơn. Nhưng, theo khoa bình luận hiện đại, một số đông các Tv, cách riêng những Tv về nhà vua, đã xuất hiện dưới thời quân chủ. Các Tv về Nước Thiên Chúa (47 ; 75 ; 93 ; 96-98), các Tv nói về cảnh điêu tàn của Giê-ru-sa-lem và cuộc lưu đày (như Tv 137) được soạn thảo trong thời lưu đày.
Nhiều nhà chú giải công nhận rằng sau thời lưu đày, vào khoảng sau năm 440 tCN, một số lớn Tv được sáng tác và một số Tv cũ được sửa chữa lại cho hợp với hoàn cảnh cụ thể. Trong thời tái thiết Đền Thờ, nhiều tác giả viết Tv về tế tự. Cũng có những nhà hiền triết trong thời đó sử dụng hình thức Tv để đưa vào đó giáo huấn có tính cách văn chương khôn ngoan (Tv 1 ; 9 ; 12 ; 14 ; 15 ; 17 ; 36 ; 37 ; 49 ; 52 ; 53 ; 73 ; 94 ; 112 ; 119 ; 127 ; 128).
Tác giả các Thánh vịnh
Đây là một vấn đề rất khó xác định ! Vua Đa-vít có là tác giả đã sáng tác một số Tv hoặc toàn bộ sách Tv hay không ?73 Tv được quy cho vua Đa-vít(“le dawid” = “của vua Đa-vít”). 13 lần, sau những từ “của vua Đa-vít”, còn nói đến hoàn cảnh cụ thể đời ông : các Tv 3 ; 7 ; 18 ; 34 ; 51 ; 52 ; 54 ; 56 ; 57 ; 59 ; 60 ; 63 ; 142. Từ đó, người ta dễ gán cho vua Đa-vít toàn bộ sách Tv. Nhưng thực sự khi ghi “của vua Đa-vít”, tác giả Tv chỉ có ý cho thấy chủ đề, nội dung của Tv thích hợp cách nào đó với vua Đa-vít. Rất khó xác định Tv nào đã do vua Đa-vít sáng tác. Việc gán cho vua Đa-vít toàn bộ sách Tv bắt nguồn từ quan niệm của người Do-thái thời xưa : tác giả dấu tên và ẩn núp dưới tên một danh nhân ; do đó, tất cả loại văn chương được quy cho nhân vật đó. Các Tv được quy cho vua Đa-vít, cũng như các sách Khôn Ngoan cho vua Sa-lô-môn và Lề Luật cho ông Mô-sê.
Trong sách Tv, cósưu tập của ông A-xáp(= Asaph) (Tv 50 và 73 – 83) ; ông A-xáp là một người thuộc giới các thầy Lê-vi (x. 1 Sb 16,4) dưới thời vua Đa-vít. Cũng cósưu tập của con cái ông Cô-rắc(= Qôrahï) (x. 2 Sb 20,19) ; ông này thuộc hàng các thầy Lê-vi, sống dưới thời Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa (870-848 tCN) ; sưu tập gồm các Tv 42 – 49 và 84 ; 85 ; 87 ; 88. Theo nhiều nhà chú giải, có lý mà nhận rằng hai sưu tập vừa kể là do các ca viên trong Đền Thờ sáng tác.
Ngoài ra,các tư tếcó thể là tác giả củamột số Tv về tế tự, nhất là trong thời tái thiết Đền Thờ.Nhiều nhà hiền triếtcũng sáng táccác Tv khôn ngoan.
Tóm lại, chỉ có thể nói về các tác giả Tv như sau :
1) Vua Đa-vít:a. Có thể vua Đa-vít đã thực sự sáng tác vài Tv. Đó chỉ là sự kiện có thể xảy ra. Không có bằng chứng nào biện minh cho điều đó cách thật chắc chắn ;b. Tuy thế, một cách nào đó có thể coi vua Đa-vít như một thứ ông tổ ngành thánh ca và Tv, vì ông đã đặt nền tảng cho hai ngành đó nhờ tài chơi nhạc khí, khiếu ca ngâm hát xướng, khiếu làm thơ và lòng ưa thích tế tự.
2) Các tác giả khácđều là những nhân vật vô danh : ca viên trong Đền Thờ, tư tế, nhà hiền triết ... Có thể có những ngôn sứ đã viết Tv ; nhưng điều này không chắc chắn lắm !
Sách Thánh vịnh trong Cựu Ước
Trong HR, sách Tv :
– nằmsaucác sách : Ngũ Thư ; Gs, Tl, 1+2 Sm, 1+2 V và các sách Ngôn Sứ.
– nằmtrướccác sách : Cn, G, Dc, R, Ac, Gv, Et, Đn, Er, Nkm, 1+2 Sb.
Trong bộ Kinh Thánh của Hội Thánh Công Giáo, sách Tv :
– nằmsaucác sách : Ngũ Thư, các sách Lịch Sử (Gs, Tl, R, 1+2 Sm, 1+2 V, 1+2 Sb, Er, Nkm, Tb, Gđt, Et, 1+2 Mcb) ; G.
– nằmtrướccác sách : Cn, Gv, Dc, Kn, Hc và các sách Ngôn Sứ.
Sách Thánh vịnh
Sách Thánh vịnh nói chung
HR dùng “sëper(= sách)Tühillîm(= các thánh thi ngợi khen)” để chỉ “sách Tv.”
Hai từ Hy-lạp trong LXX (Bíblos psalmỗn) cũng chỉ “sách Tv” : “Bíblos” là Sách ; “Psalmoi” (số nhiều của psalmós) có nghĩa là các Tv.
Từ Hy-lạp “psalmós” được sử dụng để dịch “miz•môr” (từ Do-thái). Hai từ này chỉ một bài ca hoặc một bài thánh thi có đệm nhạc đàn dây.
Cách ghi số Thánh vịnh
Trừ 8 Tv đầu (1 – 8) và 3 Tv cuối (148 – 150), có sự khác biệt một đơn vị giữa HR và LXX (PT). Lý do :
1) HR có 2 Tv (9 – 10 ; 114 – 115), trong khi LXX (PT) chỉ có 1 Tv (9 ; 113).
2) HR chỉ có 1 Tv (116 và 147), trong khi LXX (PT) có 2 Tv (114 – 115 và 146 – 147).
HRLXX(PT)
1 đến 8 – 1 đến 8
9 – 9,1-21
10 – 9,22-39
11 đến 113 – 10 đến 112
114 – 113,1-8
115 – 113,9-26
116,1-9 – 114
116,10-19 – 115
117 đến 146 – 116 đến 145
147,1-11 – 146
147,12-20 – 147
148 đến 150 – 148 đến 150
Năm tập trong sách Thánh vịnh
Các Tv chia làm 5 tập, có lẽ theo kiểu mẫu Ngũ Thư :
– Tập I : Tv 1 – 41 (vinh tụng ca : Tv 41,14)
– Tập II : Tv 42 – 72 (vinh tụng ca : Tv 72,18-19)
– Tập III : Tv 73 – 89 (vinh tụng ca : Tv 89,53)
– Tập IV : Tv 90 – 106 (vinh tụng ca : Tv 106,48)
– Tập V : Tv 107 – 150 (vinh tụng ca : Tv 150)
Tv 1 là Tv dẫn vào sách Tv.
Tv 150 vừa là vinh tụng ca của tập V, vừa kết thúc sách Tv.
Các tiêu đề
Phần đông các Tv (115 Tv trong HR ; nhiều hơn trong LXX và PT) đều có tiêu đề. Tuy không phải là (những) câu Kinh Thánh có thần hứng, tiêu đề này đưa ra vài chỉ dẫn nhiều khi khó xác định.
1) 102 Tv mangtên một hay nhiều nhân vật: vua Đa-vít, vua Sa-lô-môn, ông A-xáp, con cái ông Cô-rắc, ông Giơ-đu-thun, ông Ê-tan, ông Hê-man, ông Mô-sê. Có lẽ đó là tên sưu tập trong đó Tv chỉ là một thành phần.
2) Có những từ chỉvăn thể của bài thơ: “miz•môr” (57 lần) = Tv, nghĩa là bài thơ với giọng ca có đệm đàn ; “šîr” (30 lần) = bài hát ; “maSKîl” (13 lần) = bài thơ (?), Tv khôn ngoan (?) ; “mikTäm” (6 lần) = se sẽ, lời cầu thầm kín ; “Tüpillâ” (5 lần) = lời cầu nguyện ; “šiGäyôn” (1 lần) = ai ca ; “šîr yüdîdöt” (1 lần) = bài tình ca.
3) Vài thành ngữ chỉcách xướng hát, nhạc cụ sử dụng, cung giọng.
4) Có những chỉ dẫn vềphụng vụ: “vào dịp lễ khánh thành nhà” (Tv 30) ; “để tưởng nhớ” (Tv 38 ; Tv 70) ; “cho cơn bệnh” (Tv 53) ; “cho ngày sa-bát” (Tv 92) ; “để tạ ơn” (Tv 100) ; “ca ngợi lên Đền” (các Tv 120 – 134).
5) Có những câu chỉhoàn cảnhkhi các Tv được soạn thảo (13 Tv trong HR ; nhiều hơn trong LXX và PT).
Câu thơ trong tiếng Híp-ri
Bài thơ trong tiếng Híp-ri không tuỳ thuộc vần (ở cuối mỗi hàng), số câu, số vế, nhưng tuỳ thuộchai yếu tố:
1) Tiết điệu
Mỗi từ Híp-ri thường có một chủ âm và một hay những âm tiết không có trọng âm. Một câu có thể có một vế hay nhiều hơn. Mỗi vế có thể có từ hai đến bốn chủ âm. Một số chủ âm tạo nên tiết điệu. Như thế, một câu thơ hai vế chẳng hạn có thể gồm những chủ âm như sau : 4+4 ; 4+3 ; 3+3 ; 3+2 ; 2+2. Ví dụ (âm tiết có gạch ở dưới là chủ âm) :
4+4 (vế I : 4 chủ âm ; vế II : 4 chủ âm) :
häBû layhwh Bünê ´ëlîm(Hãy dâng Chúa, hỡi con cái Thiên Chúa).
häBû layhwh KäBôD wä`öz(Hãy dâng Chúa vinh quang và quyền lực).
4+3 (vế I : 4 chủ âm ; vế II : 3 chủ âm) :
wü´aTTâ yhwh mäGën Ba`aDî(Lạy Chúa, chính Ngài là khiên che thuẫn đỡ).
KübôDî ûmërîm rö´šî(là vinh dự của con, là Đấng cho con được ngẩng đầu bất khuất).
2) Biền ngẫu
Đây là một trong những yếu tố căn bản và đặc trưng của thi ca Híp-ri. Lối hành văn này đặt hai hay ba vế, đối chiếu với nhau trong một câu. Có hai loại biền ngẫu chính :
a. Biền ngẫu đồng nghĩa: vế sau lặp lại ý tưởng vế trước, tuy cách diễn tả của 2 vế hơi khác nhau. Ví dụ :
“Thuở Ít-ra-en rời khỏi Ai-cập,
iq1 thuở nhà Gia-cóp rời bỏ ngoại bang” (Tv 114,1)
b. Biền ngẫu đối nghĩa: vế sau diễn tả ý tưởng đối nghịch với ý của vế trước để củng cố ý này. Ví dụ :
iq1 “Vì Chúa cứu độ dân nghèo hèn,
iq1 bắt kẻ vênh vang phải cúi mặt” (Tv 18,28).
Các loại Thánh vịnh
Tiêu chuẩn phân loại các Thánh vịnh
Ba tiêu chuẩn chính yếugiúp công việc phân loại cho đúng mức :1)Hoàn cảnh cụ thể tương tự: Đó là những sự kiện xảy ra trong thời tác giả soạn thảo, những gì liên quan đến thời gian và không gian, tức là trạng huống lịch sử trong đó Thánh vịnh đã ra đời. Một trong những yếu tố căn bản của hoàn cảnh cụ thể chính là nền phụng tự của Ít-ra-en, nơi các tác giả đến múc nguồn cảm hứng. Nền phụng tự bao trùm tất cả những gì có liên hệ tới những mối tương quan của cá nhân hay tập thể Ít-ra-en với Thiên Chúa, với Đền Thờ, các ngày lễ và nghi thức phụng vụ, với Lề Luật và Giao Ước ...2)Cùng một văn thể: Văn thể là hình thức và kiểu nói con người thường sử dụng để diễn đạt ý tưởng và tâm tình vào một thời và ở một nơi nhất định. Hai loại lớn nhất là tản văn và thi văn. Ngoài ra, còn có những loại như : trình thuật lịch sử, bài thơ mang tính cách anh hùng ca, tiểu thuyết luận đề, truyện giả tưởng, cách nói bóng, nói mỉa, nói xéo, bản văn mang tính cách khải huyền, lời sấm, v.v... Mỗi văn thể có một cách hành văn và một thứ cấu trúc riêng.3)Nội dung tương tự: Nội dung bao hàm mọi tâm tình và ý tưởng diễn đạt ; đó chính là ý nghĩa của bản văn.Ba tiêu chuẩn nàyphải có mặt cùng một lúc.
Các loại Thánh vịnh
Dựa vào ba tiêu chuẩn nói trên, có thể phân loại các Tv như sau :
1) Các Ai ca của cá nhân
Loại Tv này gọi là “ai ca của cá nhân” (hoặc “Tv van xin” hay “Tv kêu cứu”) có nhiều Tv nhất trong sách Thánh vịnh (từ 33 đến 38 Tv). Đó là những lời than van, rên siết của một kẻ sống trong hoàn cảnh bi đát muốn bày tỏ nỗi niềm đau khổ với Thiên Chúa để xin Người ra tay cứu giúp, ủi an, nâng đỡ, phù trì.
Cấu trúc:a. kêu cầu Thiên Chúa ;b. than vãn về hoàn cảnh cụ thể (hiểm nguy đe doạ sự sống ; đau khổ ; bệnh tật ; những lời cáo gian, vu khống, gièm pha, nhạo cười ...) ;c. cầu xin Thiên Chúa đến cứu giúp và giải thoát ;d. đưa ra những lý do thúc đẩy Thiên Chúa cứu nguy ;đ. hứa dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ tri ân và hy lễ ;e. biết ơn Thiên Chúa và cảm tạ Người.
Loại ai ca này của cá nhângồm38 Tvsau đây : 5 ; 6 ; 7 ; 13 ; 17 ; 22 ; 25 ; 26 ; 38 ; 31 ; 35 ; 38 ; 39 ; 41 ; 42 ; 43 ; 51 ; 54 ; 55 ; 56 ; 57 ; 58 ; 59 ; 61 ; 63 ; 64 ; 69 ; 70 ; 71 ; 86 ; 88 ; 109 ; 120 ; 130 ; 140 ; 141 ; 142 ; 143.
Ngoài ra, còn có10 “Tv tín thị”(= “Tv tín nhiệm” = “Tv tin tưởng”) : 3 ; 4 ; 11 ; 16 ; 23 ; 62 ; 91 ; 121 ; 129 ; 131. Những Tv này diễn tả lòng tin cậy phó thác vào Thiên Chúa được coi là nơi ẩn náu, là Đấng phù hộ chở che. Tín hữu được sống hạnh phúc và an toàn bên Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của Người. Các Tv này được liệt kê vào loại ai ca của cá nhân.
2) Các ai ca của tập thể
Các ai ca của tập thể thường bắt nguồn từ một biến cố bi đát nào đó của dân tộc Ít-ra-en, của toàn đất nước Do-thái : chiến tranh, cuộc bại trận, cuộc xâm lăng, Thành và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, cảnh người giàu áp bức người nghèo, tình trạng mất mùa, nạn đói ...
Bố cục ai ca của tập thểtương tự như bố cục ai ca của cá nhân :a. kêu cầu Thiên Chúa đến cứu giúp ;b. miêu tả những tai hoạ ập xuống dân tộc ;c. liệt kê những lý do khiến Thiên Chúa can thiệp nhằm mưu ích cho dân của Người : Giao Ước và các lời hứa của Thiên Chúa, những lần Người ra tay giải thoát trong quá khứ, vinh quang của Thiên Chúa, thái độ ngạo ngược của đối phương, tình trạng thê thảm của cộng đoàn ;d. tha thiết khẩn cầu Thiên Chúa đến cứu giúp.
Loại ai ca của tập thể gồm 10 Tv: 44 ; 58 ; 60 ; 74 ; 79 ; 80 ; 83 ; 85 ; 123 ; 126.
3) Các thánh thi(= Các Tv ca ngợi hoặc ngợi khen, các Tv tán tụng)
Trong thánh thi, tác giả hân hoan ca ngợi vinh quang Thiên Chúa vì những kỳ công Người thực hiện trong vũ trụ (công trình sáng tạo) và trong lịch sử cứu độ. Vinh quang đó còn được tỏ bày nhờ Lề Luật ban cho dân Ít-ra-en và nhờ sự che chở phù trì của Thiên Chúa đối với những kẻ nghèo hèn, bé nhỏ, bị áp bức.
Cá nhân tác giả hoặc một tập thể (một nhóm hoặc cộng đoàn Ít-ra-en) đã gặp gỡ trong vũ trụ và trong lịch sử cứu độ Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã tỏ mình ra trong thiên nhiên, Đấng đã giải thoát, bảo vệ và hướng dẫn cá nhân tác giả hay cộng đoàn trong nhiều biến cố cụ thể khác nhau. Các thánh thi diễn tả phản ứng và những tâm tình đầy lòng yêu mến và khâm phục, ngưỡng mộ của một cá nhân hay một tập thể trước những kỳ công đó của Thiên Chúa.
Đây làbố cục chung của các thánh thi:a.Nhập đề : lời kêu mời ngợi khen Thiên Chúa ;b. Phần giữa : tác giả trình bày những lý do thúc đẩy cá nhân hay cộng đoàn ngợi khen Thiên Chúa ;c. Phần kết : tác giả lấy lại công thức nhập đề hoặc đưa ra một lời cầu nguyện.
Về số lượng các thánh thi, không có sự nhất trí giữa các học giả. Một trong các học giả công nhận22 thánh thi và một phần của Tv 92: Tv 8 ; 29 ; 33 ; 68 ; 75 ; 92 (1 phần) ; 100 ; 103 ; 104 ; 111 ; 113 ; 114 ; 115 ; 117 ; 134 ; 135 ; 136 ; 145 ; 147 ; 148 ; 149 ; 150.
4) Các Thánh vịnh về vương quyền của Thiên Chúa
Có lẽ loại Tv này phát xuất từ các lễ phụng vụ của Ít-ra-en. Trong những dịp này, các tín đồ đạo Do-thái tới đền thánh thờ phượng Thiên Chúa, công nhận vương quyền, quyền tối thượng của Người trên họ. Những Tv thuộc loại này ca tụng Thiên Chúa là Vua cai trị và xét xử Ít-ra-en, là Chúa có quyền tuyệt đối trên muôn dân.
Vềcấu trúccủa loại Tv này, có ba yếu tố chính không nhất thiết luôn có mặt đầy đủ trong mỗi Tv và theo thứ tự ghi ở đây :a. kêu mời : đó là lời mời gọi ca ngợi vương quyền của Thiên Chúa và diễn tả niềm vui ;b. miêu tả : tác giả cho thấy Thiên Chúa là Đấng oai phong lẫm liệt, ngự trên toà ngai vinh hiển ;c.bày tỏ vương quyền của Thiên Chúa : trong công cuộc tạo thành và cứu chuộc, trong các nghi lễ phụng vụ.
Có6 Tv về vương quyền của Thiên Chúa: 47 ; 93 ; 96 ; 97 ; 98 ; 99.
5) Các Thánh vịnh về Xi-on
Vua Đa-vít chiếm thành chính yếu của người Giơ-vút là Xi-on sau này, dần dần biến nơi ấy thành thủ đô. Rồi một khi dân đưa Hòm Bia về đó, Xi-on được coi như một thứ đền thánh, nơi Thiên Chúa ngự. Sau khi vua Sa-lô-môn xây xong Đền Thờ, Xi-on trở thành trung tâm tôn giáo của vương quốc. Trong thời lưu đày, mặc dầu Xi-on bị tàn phá, người Do-thái vẫn hướng về Xi-on khi mong đợi Đấng Mê-si-a (Is 60,1tt ; 66,10tt ; Dcr 8,2-8). Nhìn về tương lai, tác giả Tv 87 đề cao Xi-on như quê hương tôn giáo của các dân tộc. Khách hành hương hay sử dụng (đọc hoặc hát) các Tv về Xi-on, khi cùng nhau tiến lên Thành Thánh và Đền Thờ. Mỗi năm, người Do-thái trưởng thành thuộc nam giới ở gần Giê-ru-sa-lem phải tham dự ba cuộc hành hương (x. Xh 23,17 ; 34,23 ; Đnl 16,16).
Vì Tv về Xi-on cũng là một thứ thánh thi, nêncấu trúc của các Tv về Xi-oncũng tương tự như cấu trúc của các thánh thi. Mỗi Tv cũng gồm ba nhân tố :a. lời kêu mời ca ngợi Xi-on hoặc ngợi khen Thiên Chúa đã chọn Xi-on ;b. những lý do ca ngợi Xi-on ;c. phần kết thường lặp lại lời kêu mời đầu tiên.
Loại Tv về Xi-ongồm có7 Tv: 46 ; 48 ; 76 ; 84 ; 87 ; 122 ; 137.
6) Các Thánh vịnh tạ ơn
Tv tạ ơn là cách diễn tả những tâm tình tri ân đối với Thiên Chúa đã ban ân huệ chomột cá nhânhaymột tập thể(một nhóm hoặc cộng đoàn Ít-ra-en).
Ngoài ra, vài Tv được soạn thảo vào dịp các lễ mang tính cách quốc gia và những nghi thức cử hành theo hình thức khác thường, nhân một cuộc chiến thắng hay một hiểm hoạ mà một nhóm, một tập thể (quốc gia, dân tộc) đã thoát khỏi, sau một năm sung túc và thành công trong lãnh vực canh tác hay chăn nuôi. Chỉ có3 Tv tạ ơn của tập thể: 67 ; 118 ; 124.
7) Các Thánh vịnh về nhà vua và Đấng Mê-si-a
8) Các Thánh vịnh giáo huấn
9) Các Thánh vịnh lịch sử
10) Các Thánh vịnh ngôn sứ
11) Các Thánh vịnh hỗn hợp
Cái nhìn tổng quát về các loại Thánh vịnh
Tv – Loại
2 vua, Mê-si-a
3 tín nhiệm
4 tín nhiệm
5 ai ca của cá nhân
6 ai ca của cá nhân
7 ai ca của cá nhân
8 thánh thi