Công vụ Tông Đồ — Sách Công Vụ Tông Đồ

vi

Công vụ Tông Đồ

DẪN NHẬP SÁCH CÔNG VỤ TÔNG ĐỒ

Tác giả

– Truyền thống Hội Thánh đồng ý nhận tác giả Sách Tin Mừng thứ ba cũng là tác giả sách Công vụ Tông Đồ. Chưa có ai đề xuất một tên tác giả khác. Thánh I-rê-nê, quy điển Mu-ra-to-ri, Lời tựa chống Mác-ki-ôn đều công nhận sách Công vụ Tông Đồ là của thánh Lu-ca.

– Đối chiếu với sách Tin Mừng thứ ba : cả hai lời tựa Lc 1,3 và Cv 1,1 đều đề tặng ông Thê-ô-phi-lô. Từ vựng, bút pháp, văn thể của hai sách giống nhau. Sách Công vụ Tông Đồ tóm tắt hoặc nhắc lại “những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy” (1,1) đã được sách Tin Mừng Lu-ca viết.

– Chính sách Công vụ Tông Đồ cũng cho ta những dấu hiệu để kết luận rằng tác giả là một bạn đồng hành của thánh Phao-lô. Đó là những đoạn tác giả kể trực tiếp ở ngôi thứ nhất số nhiều, người ta gọi là những đoạn “chúng tôi” : 16,10-17 ; 20,5-15 ; 21,1-18 ; 27,1 – 28,6.

– Trong các bạn đồng hành của thánh Phao-lô thì không ai thích hợp để được nhìn nhận là tác giả sách này hơn thánh Lu-ca.

– Quả vậy, đối chiếu sách Công vụ với các thư thánh Phao-lô, chúng ta biết được : thánh Lu-ca là người Xy-ri xứ An-ti-ô-khi-a, làm nghề thuốc, gốc dân ngoại (Cl 4,10-14). Thánh Phao-lô rất hài lòng, vì thánh Lu-ca ở bên cạnh trong hai lần bị cầm tù ở Rô-ma (Cl 4,14 ; Plm 24 ; 2 Tm 4,11). Hơn nữa, thánh Lu-ca còn là bạn đồng hành với thánh Phao-lô trong các chuyến đi truyền giáo (Cv 16,10 ; 20,6 ; x. 2 Cr 8,18).

– Theo các bút tích của chính thánh Lu-ca, người là một tín hữu thuộc thế hệ các Tông Đồ, rất thông thạo văn chương Hy-lạp, hoặc đúng hơn là người Hy-lạp được tiếp thụ nền giáo dục sâu sắc về văn hoá phong tục người Do-thái, và thông thạo Kinh Thánh Hy-lạp. Người có sở trường về thuốc, nên dùng từ ngữ y khoa, mô tả bệnh tật rõ ràng, chính xác (Lc 4,23).

Muốn hiểu thêm về thánh Lu-ca, độc giả có thể tham khảo phần dẫn nhập Tin Mừng Lu-ca, hoặc các thư của thánh Phao-lô.

Thời gian và nơi biên soạn

Chúng ta khó biết được thánh Lu-ca đã biên soạn sách Công vụ Tông Đồ ở đâu. Ở A-khai-a sau khi thánh Phao-lô chết ? hay là ở Rô-ma trước khi thánh Phao-lô mãn hạn tù năm 61-63 ? như ta biết : Công vụ Tông Đồ được viết sau Tin Mừng Lu-ca (Cv 1,1). Nếu Tin Mừng Lu-ca viết sau năm 70, thì chắc chắn Công vụ còn phải sau nữa. Dựa vào đoạn kết sách Công vụ, không nói đến cái chết của thánh Phao-lô, có người cho rằng Công vụ được viết trước khi thánh Phao-lô bị bắt lần thứ hai, năm 67. Cũng có người nghĩ rằng Công vụ được viết đồng thời với Tin Mừng Mác-cô, nghĩa là khoảng năm 64. Đa số đã nghĩ Công vụ được viết sau khi thánh Phao-lô tử đạo, nhưng sau không lâu lắm, vì để lâu khó có sự xác thực. Nếu viết sau lâu các biến cố, thì thánh Lu-ca sử dụng các thư của thánh Phao-lô làm nguồn tài liệu. Trong thực tế, thánh Lu-ca đã không dựa vào bằng chứng các thư của thánh Phao-lô. Vậy Công vụ được viết khoảng năm 80 – 90.

Chủ đích

Khi viết Công vụ, thánh Lu-ca coi Công vụ là phần thứ hai của một cuốn sách, mà Tin Mừng theo Lu-ca là phần đầu. Hơn nữa, truyền thống Hội Thánh trước kia nhìn nhận Lu-ca và Công vụ là một tác phẩm duy nhất. Mãi sau này, anh em tín hữu ước ao có bộ bốn sách Tin Mừng riêng, nên Lu-ca mới tách khỏi Công vụ. Đọc Công vụ, chúng ta nhận thấy sách này hầu như chỉ viết về những hoạt động truyền giáo của hai vị Tông Đồ chính là thánh Phê-rô và thánh Phao-lô. Tác giả dường như nhắm chủ đích viết tiểu sử của thánh Phê-rô và thánh Phao-lô. Thánh Phê-rô khởi đầu hoạt động tập trung ở Giê-ru-sa-lem, theo đúng lệnh truyền của Đức Giê-su (Lc 24,47). Còn thánh Phao-lô vượt ra khỏi giới hạn địa lý và đến tận Rô-ma, tức là tận cùng thế giới, cũng đúng lệnh truyền của Đức Giê-su. Qua hai vị Tông Đồ, tác giả cho thấy :

– Tin Mừng lan tràn khắp thế giới. Các Tông Đồ tiếp tục sứ mệnh của Đức Ki-tô, đã đi loan báo Tin Mừng trước hết cho người Do-thái, rồi mới đến các dân ngoại. Các Tông Đồ không phải chỉ gồm Nhóm Mười Hai, nhưng còn gồm những người khác nữa, như ông Ba-na-ba, ông Tê-pha-nô, ông Phi-líp-phê, hoặc ông A-pô-lô. Chính thánh Phao-lô cũng chẳng thuộc Nhóm Mười Hai.

– Sách Công vụ là sách lịch sử về Hội Thánh thời sơ khai. Từ ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn, tác động các Tông Đồ loan báo Tin Mừng. Mỗi biến cố làm cho Hội Thánh được lớn lên. Càng gặp khó khăn, thử thách, Hội Thánh càng có sức phát triển. Hội Thánh có một sức sống mãnh liệt nhờ Chúa Thánh Thần. Công vụ đã ghi lại tất cả sinh hoạt của anh em tín hữu ở Giê-ru-sa-lem, ở An-ti-ô-khi-a, ở Tiểu Á, ở Hy-lạp. Cuối cùng, Tin Mừng lan đến Rô-ma, trung tâm văn minh thời ấy. Hội Thánh bén rễ sâu vào dân ngoại.

– Ngoài ra, tác giả sách Công vụ nhắm đến hộ giáo. Người cho thấy Ki-tô giáo không gây nguy hại cho đế quốc như người ta tuyên truyền. Chính các viên chức Rô-ma như Xéc-gi-ô Phao-lô, Ga-li-on, Phê-lích, Phét-tô, Ác-ríp-pa II xác nhận rằng không thấy các hoạt động của thánh Phao-lô có lý do để kết án. Tác giả muốn Rô-ma nhìn nhận Ki-tô giáo được tự do loan báo và bình đẳng với các tôn giáo khác trong đế quốc.

Bố cục

Sách Công vụ Tông Đồ gồm 28 chương, được chia như sau :

Nhập đề (1,1-11).

I. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem (1,12 – 5,42).

1. Hoạt động của các Tông Đồ (1,12 – 2,41).

2. Sinh hoạt của Hội Thánh sơ khai (2,42 – 5,42).

II. Những bước đầu của công cuộc truyền giáo (6,1 – 12,25).

1. Hội Thánh lớn mạnh ; các trợ tá ; ông Tê-pha-nô tử đạo tiên khởi (6,1 – 8,3).

2. Ông Phi-líp-phê ở Sa-ma-ri ; viên thái giám xứ Ê-thi-ốp (8,4-40).

3. Ông Sao-lô trở lại (9,1-30).

4. Hoạt động mục vụ của ông Phê-rô (9,31 – 11,18).

5. Hội Thánh tại An-ti-ô-khi-a (11,19-30).

6. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem bị bách hại ; thánh Gia-cô-bê tông đồ tử đạo (12).

III. Hành trình truyền giáo của ông Ba-na-ba và ông Sao-lô. Công đồng Giê-ru-sa-lem (13,1 – 15,35).

1. Hành trình truyền giáo lần thứ nhất của ông Ba-na-ba và ông Sao-lô (13 – 14).

2. Công đồng Giê-ru-sa-lem (15,1-35).

IV. Những cuộc hành trình truyền giáo của ông Phao-lô (15,35 – 19,20).

1. Ông Phao-lô cùng với ông Xi-la, ông Ti-mô-thê hoạt động truyền giáo ở Tiểu Á, Hy-lạp (15,35 – 18,22).

2. Ông Phao-lô ở Ê-phê-xô (18,23 – 19,20).

V. Kết thúc những cuộc hành trình truyền giáo. Ông Phao-lô, người tù của Đức Ki-tô (19,21 – 28,29).

1. Ông Phao-lô thăm viếng các Hội Thánh ở Hy-lạp ; về Giê-ru-sa-lem mang theo tiền lạc quyên (19,21 – 21,26).

2. Ông Phao-lô bị bắt ở Giê-ru-sa-lem, bị cầm tù 2 năm ở tại Xê-da-rê, giải đi Rô-ma (21,27 – 28,29).

KẾT : Ông Phao-lô bị tù ở Rô-ma, nhưng vẫn làm chứng cho Đức Ki-tô (28,30-31).

Giá trị lịch sử

Sách Công vụ Tông Đồ có phải là sách lịch sử không ? Câu trả lời tuỳ ở cách người ta quan niệm về lịch sử. Theo dàn bài và nội dung, sách này tường thuật những hoạt động của các Tông Đồ và sự phát triển của Hội Thánh sơ khai, Công vụ có thể được gọi là sách lịch sử. Tuy nhiên, Công vụ không phải là lịch sử Hội Thánh, mà là lịch sử ơn cứu độ. Qua các diễn từ của thánh Phê-rô, thánh Tê-pha-nô và thánh Phao-lô, sách Công vụ tường thuật lại một phần lịch sử ơn cứu độ, vào giai đoạn cuối cùng : thời đại của Chúa Thánh Thần.

Với tư cách là sử gia, thánh Lu-ca đã viết Công vụ một cách khoa học. Những hoạt động truyền giáo người tham gia hay biến cố nào người chứng kiến tận mắt, người mô tả mạch lạc và sử dụng “chủ từ” ở ngôi thứ nhất số nhiều “chúng tôi” : 16,10-17 ; 20,5-15 ; 21,1-18 ; 27,1 – 28,6.

Ngoài ra, khi sử dụng các nguồn tài liệu khác đang phổ biến trong Hội Thánh, người cố gắng trung thực theo tinh thần hơn là chi tiết có tính cách sử biên niên. Đọc 15 chương đầu sách Công vụ, ta có thể nhận thấy rõ điều ấy. Thực ra, dầu không sử dụng các thư của thánh Phao-lô, thánh Lu-ca tường thuật rất chính xác các biến cố, các dữ kiện truyền giáo. Với tâm hồn tế nhị, người cố gắng giảm thiểu những biến cố trầm trọng hoặc có thể bỏ qua, như trường hợp ở An-ti-ô-khi-a, khác với Gl 2,11-21.

Đọc Công vụ, người ta cũng có thể biết được lịch sử xã hội thời ấy. Hơn nữa, tác giả giúp độc giả xác định được địa lý, vị trí của biến cố xảy ra (1,12 ; 13,13 ; 14,6 ; 27,5 ; 27,8) ; hoặc người giải thích các địa chỉ (9,11 ; 10,6 ; 16,14-15 ; 17,5-7 ; 18,3.7 ; 21,8.16).

Người ta đặt vấn đề tính xác thực các bài giảng của các Tông Đồ. Công vụ được biên soạn sau các biến cố ; vậy thánh Lu-ca có trung thành ghi lại các bài giảng không ? Theo thói quen thời ấy, các sử gia thường biên soạn bài giảng và gán cho các nhân vật lịch sử. Thánh Lu-ca không tránh khỏi thông lệ ấy. Tuy nhiên, các cộng đoàn tín hữu còn nhớ kỹ giáo huấn các Tông Đồ. Nên, đó là nguồn tài liệu phong phú giúp thánh Lu-ca có thể thực hiện các bài giảng của các Tông Đồ. Ngoài ra, nhờ kinh nghiệm sống với thánh Phao-lô, hoặc với các ông Xi-la, Ti-mô-thê, thánh Lu-ca cũng có thể viết trung thực các bài giảng của các Tông Đồ.

Đạo lý

Chúa Thánh Thần

Người ta nói sách Công vụ Tông Đồ là Tin Mừng của Chúa Thánh Thần. Trước khi lên trời, Đức Ki-tô đã bảo đảm với các môn đệ là Người sẽ tuôn đổ trên các ông đặc sủng thời Đấng Mê-si-a, đó là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần mặc cho các ông sức mạnh từ trời và dẫn đưa các ông hoàn thành nhiệm vụ làm chứng nhân (Lc 24,47-49 ; Cv 1,5.8). Chính trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông Đồ đã chịu phép rửa bằng Thánh Thần (1,5). Chúa Thánh Thần đánh dấu khởi đầu thời đại của Hội Thánh như phép rửa ở sông Gio-đan khai mạc sứ vụ công khai của Đức Giê-su.

Hoạt động của Chúa Thánh Thần thể hiện qua sức mạnh phi thường của việc loan báo Tin Mừng của các Tông Đồ (2,5-6 ; 5,32 ; 6,10), qua nếp sống bác ái huynh đệ của anh em tín hữu thời Hội Thánh sơ khai (2,44-45 ; 4,32-36), qua việc truyền giáo. Chính Chúa Thánh Thần đã thúc đẩy các Tông Đồ phải rời bỏ lãnh địa Do-thái giáo để đến với các anh em dân ngoại, đòi hỏi họ tin vào Đức Giê-su là Đấng Ki-tô và là Đức Chúa. Các chương 10 – 11 là trọng tâm của sách Công vụ Tông Đồ. Trong mọi trường hợp, giây phút quyết định là Chúa Thánh Thần thúc bách các Tông Đồ đi truyền giáo (13,2-4 ; 16,6-7). Chúa Thánh Thần hoạt động mỗi ngày một nhiều hơn, như ơn nói tiếng lạ (10,46 ; 19,6), ơn làm ngôn sứ (11,28 ; 21,11-12 ; 13,1 ; 15,32 ; 21,9).

Nhờ những hoạt động của Chúa Thánh Thần, ta có thể nói về ngôi vị của Người, vì Người luôn tỏ ra là quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần được gọi là Thần Khí Chúa (5,9), vì chính Đức Giê-su đã cử Người đến, khi nhận từ nơi Thiên Chúa Cha (2,33). Thực ra, chính Thiên Chúa Cha đã hứa ban Thánh Thần (1,4 ; 2,33). Do đó, Thánh Thần vừa là Thánh Thần của Đức Giê-su, vừa là Thánh Thần của Chúa Cha, như Đức Giê-su đã giới thiệu (Mc 13,2 ; Lc 21,15 ; Ga 14,15-17 ; 15,26-27 ; 16,7.11). Thánh Phê-rô đồng hoá Thánh Thần với Thiên Chúa (5,3). Những hoạt động của Thánh Thần chứng tỏ Người là một ngôi vị biệt lập (8,26.29 ; 10,3.13.19 ; 19,21).

Đức Ki-tô

Sách Công vụ Tông Đồ không nói nhiều về đời sống trần gian của Đức Giê-su. Qua các bài giảng của các Tông Đồ, người ta biết được đôi nét căn bản quan trọng cuộc đời của Đức Giê-su. Người là con cháu vua Đa-vít (2,30 ; 13,23) ; sinh sống ở Na-da-rét (2,22 ; 3,6 ; 4,10 ; 6,14 ; 10,37 ; 22,8 ; 26,9). Mẹ Người là bà Ma-ri-a và anh em Người ai cũng biết (1,14). Những việc Người làm, những lời Người dạy (1,22 ; 10,37-38 ; 13,34). Cuộc Thương Khó, chết và sống lại của Người chiếm một chỗ quan trọng trong các bài giảng (2,23 ; 3,15 ; 4,28 ; 5,30 ; 7,52 ; 13,27.29). Các Tông Đồ là những chứng nhân đặc biệt của Người, vì các Tông Đồ chia sẻ cuộc đời trần thế của Người, đã đi theo Người từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem (13,31), đã thấy Người sau khi Người Phục Sinh.

Các Tông Đồ xác tín rằng Đức Giê-su phục sinh ngự bên hữu Chúa Cha. Người có mọi quyền năng như Chúa Cha và cử Thánh Thần ngự xuống trên nhân loại, như thánh Phê-rô đã khẳng định trong ngày lễ Ngũ Tuần (2,33). Ông Tê-pha-nô chiêm ngắm Người đang ngự bên hữu Chúa Cha (7,55-56). Hội Thánh sơ khai đồng tâm nhất trí tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã phục sinh Con của Người )2,24.32 ; 3,26 ; 13,34 ; 17,31 ; 3,15 ; 4,10 ; 5,30 ; 10,40) và đã siêu tôn Người (2,33-34 ; 3,13 ; 5,31). Chính Kinh Thánh đã minh chứng điều ấy (Tv 19,6 ; 116,3). Vua Đa-vít đã tuyên sấm về Đấng Ki-tô (Tv 132,11 ; 89,4-5).

Đức Giê-su thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo (3,18.24 ; 10,43 ; 13,27). Người thực là tôi trung của Thiên Chúa (Dcr 13,7 ; Tv 22 ; Is 53,12). Trách nhiệm của người Do-thái trong vụ án Đức Giê-su không thể nào bỏ qua, vì họ đã không nghe tổng trấn Phi-la-tô (3,13-15). Họ đã buộc Người phải chết và đóng đinh Người vào thập giá (2,23 ; 3,13-15 ; 4,10 ; 10,40). Thực ra, họ hành động mù quáng và thực hiện các sấm ngôn (3,17-18 ; 13,27-29).

“Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô” (2,36). Danh xưng này hàm chứa đức tin sâu xa của anh em tín hữu thời sơ khai, đồng thời diễn tả niềm tin của người tín hữu : xưa kia dân Do-thái tôn thờ Thiên Chúa là Đức Chúa, nay người tín hữu cũng tôn thờ Đức Giê-su là Đức Chúa. Người tín hữu kêu cầu danh Đức Giê-su (2,21 ; 9,14.21 ; 22,16). Như vậy, Đức Giê-su là Thiên Chúa. Tin vào Danh Đức Giê-su, sẽ được cứu độ (4,12). Các Tông Đồ rao giảng, hoạt động hay chịu đau khổ đều vì Thánh Danh (3,6.16 ; 4,10.17-18 ; 5,28.40-41 ; 8,12.16 ; 9,15-16 ; 27,28).

Các Tông Đồ

“Chúng tôi đi theo Chúa Giê-su trong suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được ông Gio-an làm phép rửa cho đến ngày Người lià bỏ chúng ta và được rước lên trời... chứng nhân về cuộc Phục Sinh của Người” (1,21-22).

Các Tông Đồ là những người đi theo Đức Giê-su và được chọn để làm chứng cho cuộc đời và sự Phục Sinh của Người.

Sau lễ Ngũ Tuần, các ông theo lệnh truyền của Đức Giê-su (1,8) đã khởi sự làm chứng cho Người từ Giê-ru-sa-lem (2,14-36), cho đến tận cùng trái đất (28,31).

Trước hết các ông làm chứng cho người Do-thái (2,22-24) biết Đức Giê-su Na-da-rét mà họ đã giết chết, nay đã sống lại và đang sống. Chính Người thực hiện kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ ; ông Mô-sê và các ngôn sứ đã loan báo. Qua các bài giảng của thánh Phê-rô (2,14-36.38-39 ; 3,12-26 ; 4,8-12 ; 5,17-40), hay của thánh Phao-lô (13,16-41 ; 26,22-23), chúng ta có thể rút được một ít điểm giáo lý các Tông Đồ :

– Thời kỳ hoàn thành đã đến. “Ngày của Đức Chúa” bắt đầu từ Đức Giê-su (2,16 ; 3,18.24).

– Các sấm ngôn được thực hiện, đúng theo kế hoạch Thiên Chúa, xuyên qua sứ vụ, cái chết và sống lại của Đức Giê-su (2,30-31 ; 3,22 ; 4,10).

– Sau khi sống lại, Đức Giê-su được tôn vinh ngự bên hữu Chúa Cha, trở thành thủ lãnh của dân Ít-ra-en mới (2,33-36 ; 3,13 ; 5,31).

– Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh là dấu hiệu về quyền năng và vinh quang của Đức Ki-tô (2,33 ; 5,32).

– Thời cứu độ sẽ hoàn tất khi Đức Ki-tô giáng lâm (3,20.21 ; 10,42).

Còn khi rao giảng cho người ngoài Do-thái giáo, các Tông Đồ nhấn mạnh đến con người lịch sử của Đức Giê-su (10,34-43), hoặc trình bày Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và làm chủ lịch sử như bài giảng của thánh Phao-lô tại Lýt-ra (14,15-17) hay ở A-then (17,22-31).

Trong khi giảng dạy, các Tông Đồ được các đặc sủng, như đặc sủng “ngôn ngữ” : trường hợp của thánh Phê-rô ở Giê-ru-sa-lem (2,4-13), đặc sủng “làm phép lạ” : thánh Phê-rô chữa một người què (3,1-10), chuyện Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra chết (5,1-12), người tê bại ở Lốt (9,32-35), bà Ta-bi-tha được sống lại (9,36-43), người bại chân ở Lýt-ra (14,8-18), người chết sống lại ở Trô-a (20,7-12).

Các Tông Đồ làm nhiều dấu lạ điềm thiêng (5,12 ; 19,11), đến nỗi bóng của thánh Phê-rô che phủ (5,15-16), hay áo của người ta chạm đến da thánh Phao-lô cũng đủ sức mạnh chữa lành nhiều người bệnh (19,12).

Các Tông Đồ làm chứng đến mức độ hy sinh mạng sống ; trường hợp của phó tế Tê-pha-nô (7,59-60), tông đồ Gia-cô-bê (12,2).

Hội Thánh không phải là một đám đông ô hợp, nhưng là một cộng đoàn. Do đó cần phải có tổ chức để việc phục vụ anh em tín hữu đạt hiệu quả hơn. Các Tông Đồ chuyên lo giảng dạy Lời Thiên Chúa (6,14), rao giảng Đức Giê-su (2,22), nên không thể nào quan tâm đúng mức đến những anh em nghèo, các bà goá ... vì vậy các Tông Đồ đặt các trợ tá (6,1) trông coi việc ăn uống của cộng đoàn cũng như tài sản chung.

Ngoài ra, sách Công vụ còn nói đến các kỳ mục (11,30). Hai thánh Phao-lô và Ba-na-ba “chỉ định cho mỗi Hội Thánh những kỳ mục” (14,23). Hẳn nhiên, các kỳ mục này rất khác với các kỳ mục Do-thái giáo. Đọc ch.15 và 16, ta thấy các kỳ mục được nói ngay sau các Tông Đồ (15,2.4.6.22.23 ; 16,4). Như vậy các kỳ mục là cộng sự viên quan trọng bên cạnh các Tông Đồ và sẽ thay thế các Tông Đồ, khi các ông vắng mặt (20,17) hoặc chết.

Như thế các Tông Đồ xây dựng Hội Thánh vững chắc không những bằng lời giảng dạy, mà còn bằng cả nhân sự : các kỳ mục và phó tế. Đó là giới lãnh đạo của “đạo” mới. Chưa có quy chế về các trợ tá và kỳ mục thời các Tông Đồ. Sau này, Hội Thánh phát triển, thêm nhiều tín hữu, thì cần có nhiều kỳ mục. Tất nhiên lúc ấy phải có quy chế.

Hội Thánh

Từ “Hội Thánh” xuất hiện lần đầu tiên trong Cv 5,11. Xưa kia, dân Ít-ra-en đã được Thiên Chúa tập họp trong sa mạc và được thánh hiến (Xh 19,6). Từ đó, Ít-ra-en được gọi là dân thánh. Sau này các ngôn sứ gọi cộng đoàn Đấng Mê-si-a (x. Đn 7,18) là dân thánh. Thiên Chúa là Đấng chí thánh (Is 6,3), nên những ai hiến thân phục vụ Người cũng được gọi là thánh (x. Lv 17,1). Sách Công vụ gọi đoàn thể những người đi theo Đức Ki-tô là Hội Thánh, vì các tín hữu đã nhận “phép rửa bằng Thánh Thần” (1,5) “nhân danh Đức Giê-su Ki-tô” (2,38). Họ được Thiên Chúa kêu gọi (2,39). Đoàn thể ấy trước ngày lễ Ngũ Tuần chỉ có một trăm hai mươi (1,15), sau lễ Ngũ Tuần số tín hữu càng ngày càng gia tăng (2,41.47 ; 4,4 ; 5,14 ; 6,1.7 ; 9,31 ; 11,24 ; 14,1 ; 16,5).

Hội Thánh khai sinh từ môi trường Do-thái giáo với những truyền thống nghi thức khắt khe. Nhưng dần dần Hội Thánh được Chúa Thánh Thần tác động, hướng dẫn đi tới dân ngoại. Hội Thánh quy tụ các dân tộc thuộc mọi nền văn hoá khác nhau, như người Sa-ma-ri (8,4-25), quan thái giám người Ê-thi-ốp (8,26-40), ông Co-nê-li-ô đại đội trưởng Rô-ma (10,1-48), những người gốc Sýp, Ky-rê-nê, An-ti-ô-khi-a (11,20). Những chuyến truyền giáo của thánh Phao-lô cho dân ngoại miền Tiểu Á và Hy-lạp (13,2 – 21,30), ở Rô-ma (28,17-31). Trong chính môi trường ngoại giáo, những người tin theo Đức Ki-tô được gọi là Ki-tô hữu (11,26). Gọi thế để phân biệt người không theo Đức Ki-tô với môn đệ Đức Ki-tô, hoặc phân biệt nhóm người theo tôn giáo mới với Do-thái giáo. Các Ki-tô hữu xưng tụng Đức Giê-su là Chúa và kêu cầu danh Người. Về danh xưng các tín hữu, cũng có nhiều tên gọi. Các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem gọi là “anh em” (1,15 ; 11,1 ; 12,17 ; 14,2 ; 21,17-18). “Tín hữu” vì tin vào Đức Giê-su (2,44 ; 4,32 ; 18,27 ; 19,18 ; 21,20). Nếu tín hữu ở ngoài Pa-lét-tin, thì họ đựoc gọi là “môn đệ” (9,1.26 ; 16,1 ; 18,23) hoặc theo “đạo” (9,2 ; 19,9.23 ; 22,4 ; 24,14.22) hoặc “theo đường của Chúa, của Thiên Chúa” (18,25-26), “con đường cứu độ” (16,17). Còn những người tố cáo các Tông Đồ và tín hữu, thì gọi các ngài là “phái Na-da-rét” (24,5).

Hội Thánh là cộng đoàn các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy (2,42). Đức tin có là nhờ người giảng dạy. Thật vậy, các Tông Đồ là những chứng nhân của Đức Ki-tô, nên các ông loan báo các việc Người làm, các điều Người dạy (x. 1,1), đồng thời cũng chứng minh Người hoàn tất lịch sử cứu độ, khi Người chấp nhận chết trên thập giá và Thiên Chúa cho Người trỗi dậy từ cõi chết (3,15) và đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô (2,36). Ai tin vào danh Người, thì được ơn tha thứ tội lỗi (10,43). Không phải chỉ có Nhóm Mười Hai, mà còn có nhóm Bảy, thánh Phao-lô và các bạn đồng hành giảng dạy cho tín hữu. Trung thành với giáo huấn các Tông Đồ, anh em tín hữu tránh được những gièm pha, đe doạ từ phía anh em Do-thái giáo, giữ vững đức tin, đi theo đúng đường của Đức Ki-tô.

Hội Thánh là một cộng đoàn hiệp thông (2,42) ; bác ái huynh đệ (20,35). Anh em tín hữu sống một lòng một ý với nhau (4,32 ; 2,44 ; 6,1 ; 2,46 ; 5,12 ; 15,25). Hơn nữa họ còn để chung của cải (2,44 ; 4,32), chia sẻ giữa anh em với nhau (9,36 ; 20,34), trợ giúp giữa các cộng đoàn (11,29), thông cảm giữa tín hữu cắt bì và không cắt bì (15,1-25).