Cô-lô-xê — Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê

vi

Cô-lô-xê

DẪN NHẬP THƯ CÔ-LÔ-XÊ

Cô-lô-xê là thành phố thuộc miền Tiểu Á, nằm trong thung lũng Ly-cô, cách Ê-phê-xô 200 km về phía Đông. Dường như cho tới lúc viết thư này, thánh Phao-lô chưa bao giờ đặt chân đến giáo đoàn Cô-lô-xê (x. Cl 1,4 ; 2,1). Có thể ông Ê-páp-ra, một trong những người bạn đồng hành với thánh Phao-lô và là người quê quán ở Cô-lô-xê, đã đem Tin Mừng đến thành phố này cũng như đến Lao-đi-ki-a và Hi-ê-ra-pô-li (x. 4,13).

Cơ hội, nội dung, nơi và thời gian viết thư

Thánh Phao-lô đang bị cầm tù (4,3.10.18), có lẽ ở Rô-ma. Ông Ê-páp-ra đã tới gặp người để trình bày cho người rõ tình hình giáo đoàn (x. 1,3-4) và xin người giúp ý kiến để sửa chữa những điểm giáo lý không lành mạnh đang đe doạ đời sống đức tin của anh em tín hữu mới trở lại. Những người chủ trương giáo lý mới ấy cho rằng : muốn biết Thiên Chúa và muốn được cứu độ thì phải tôn thờ các sức mạnh thiêng liêng (thiên thần, 2,18 ; các quyền lực thần thiêng, 2,15), phải giữ một số quy tắc (cắt bì, 2,11 ; đồ ăn thức uống, 2,16-17).

Thánh Phao-lô đã viết thư này và nhờ ông Ty-khi-cô mang về (4,7-9). Người nhắc cho các tín hữu nhớ rằng : Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho anh em qua một mình Đức Giê-su Ki-tô.

Thư này có liên hệ mật thiết với thư gửi các tín hữu Ê-phê-xô cả về từ ngữ lẫn tư tưởng, có lẽ đã được viết ở Rô-ma, năm 61-63.

Bố cục

Sau lời mở đầu và tạ ơn (1,1-14), thánh Phao-lô nói đến quyền tối thượng của Chúa Ki-tô : Chúa Ki-tô vượt trên mọi quyền lực thần thiêng và là Thủ Lãnh của Hội Thánh (1,15 – 2,3).

Tiếp đến, thánh Tông Đồ nhắn nhủ anh em tín hữu ở Cô-lô-xê cảnh giác đối với những người đến gieo rắc những sai lầm (2,4-25). Người nhắc lại một số điểm cần phải thực hành trong cộng đoàn, trong gia đình, trong xã hội, xứng đáng là người đã sống đời sống mới, đời sống kết hiệp với Chúa Ki-tô (3,1 – 4,6).

Cuối cùng là một số lời dặn dò và chào hỏi do chính tay thánh Tông Đồ viết (4,17-18).

KHAI ĐỀ (1,1-14)

1. Lời mở đầu (1,1-2)

2. Tạ ơn và cầu xin (1,3-14)

I. PHẦN GIÁO THUYẾT (1,15 – 2,5)

1. Đức Ki-tô đứng hàng đầu (1,15-20)

2. Người Cô-lô-xê được chung hưởng ơn cứu độ (1,21-23)

3. Ông Phao-lô vất vả phục vụ dân ngoại (1,24-29)

4. Ông Phao-lô lo lắng cho đức tin của người Cô-lô-xê (2,1-5)

II. ĐỀ PHÒNG GIÁO LÝ SAI LẠC (2,6 – 3,4)

1. Sống theo đức tin chân chính chứ không theo những tư tưởng sai lạc (2,6-8)

2. Đức Ki-tô, Thủ Lãnh duy nhất của thiên thần và loài người (2,9-15)

3. Đề phòng lối sống khắc khổ theo “các quyền lực vũ trụ” (2,16-23)

4. Nguyên lý của đời sống mới : kết hợp với Đức Ki-tô Phục Sinh (3,1-4)

III. PHẦN KHUYÊN NHỦ (3,5 – 4,18)

1. Chỉ thị chung cho các tín hữu (3,5-17)

2. Chỉ thị riêng cho đời sống gia đình (3,18 – 4,1)

3. Tinh thần tông đồ (4,2-6)

4. Tin tức (4,7-9)

5. Lời chào và lời chúc cuối thư (4,10-18)

Giáo lý

Thư này có liên hệ chặt chẽ với thư gửi các tín hữu Ê-phê-xô. Những điểm giáo lý trong thư này được thư gửi các tín hữu Ê-phê-xô khai triển rộng hơn.

Mầu nhiệm Chúa Ki-tô

Trong tương quan với Chúa Cha, Chúa Ki-tô là hình ảnh tuyệt hảo của Chúa Cha. Trong tương quan với vũ trụ đã được sáng tạo, Chúa Ki-tô là Đấng sáng tạo và là Đầu của toàn thể vũ trụ, kể cả các thiên thần. Vạn vật đã nhờ Người mà tồn tại, Người là cùng đích của vạn vật (1,15-17). Trên bình diện cứu chuộc, Người là Đầu của Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể của Người. Người đứng hàng đầu trên vạn vật, vì Người là Thiên Chúa và là một con người hoàn hảo nhất (x. 1,18-19).

Mầu nhiệm Hội Thánh

Chúa Ki-tô đã thực hiện công trình hoà giải và liên kết toàn thể vũ trụ qua cái chết và phục sinh của Người. Công cuộc hoà giải này được cụ thể hoá nơi các tín hữu nhờ Tin Mừng, được những người phục vụ trung thành loan báo. Tất cả những người đón nhận ơn hoà giải, tức là ơn cứu độ, được quy tụ lại để làm nên Hội Thánh, làm thành một thân thể, trong đó Chúa Ki-tô là Đầu.