Ê-phê-xô — Thư gửi tín hữu Ê-phê-xô

vi

Ê-phê-xô

DẪN NHẬP THƯ Ê-PHÊ-XÔ

Thư Ê-phê-xô là một trong nhóm các thư thường được gọi là “ngục thư” (Ê-phê-xô, Phi-líp-phê, Cô-lô-xê, Phi-lê-môn) ; bởi vì các thư đó cho biết : thánh Phao-lô đã viết khi ngài đang bị cầm tù (x. Ep 3,1 ; 4,1 ; 6,20 ; Pl 1,7.12-17 ; Cl 4,3.10.18 ; Plm 1.9.10.13.23). Thư này có liên hệ chặt chẽ với thư Cô-lô-xê cả về tư tưởng lẫn từ ngữ (giống như trường hợp thư Rô-ma với thư Ga-lát).

Tác giả

Đây là một trong những thư của thánh Phao-lô bị bàn cãi nhiều nhất về vấn đề tác giả. Người thì cho rằng do các đồ đệ của thánh Phao-lô viết, sau khi ngài qua đời ; người lại cho rằng do một người thư ký viết, thánh Phao-lô chỉ đưa ra những nét chính ... lý do nhất là vì bút pháp của thư Ê-phê-xô khác với các thư khác, các đề tài được bàn có tính cách long trọng hơn ...

Tuy nhiên, những vấn đề và những kinh nghiệm khác nhau trong mỗi giai đoạn của cuộc đời thánh Phao-lô có thể đã ảnh hưởng nhiều đến bức thư ; và dầu sao đi nữa, khó có thể loại bỏ ý kiến của truyền thống cho rằng : thánh Phao-lô là tác giả thư Ê-phê-xô.

Độc giả

Khó xác định độc giả thư Ê-phê-xô, bởi vì ở đầu thư (1,1) những chữ “tại Ê-phê-xô” không có trong các bản chép tay cổ (P 46, B, S...) và trong các giáo phụ xưa nhất (O-ri-giê-nê, Téc-tu-li-a-nô). Theo sách Công Vụ, thánh Phao-lô có đến Ê-phê-xô và ở lại đó một thời gian ít là ba năm, trong chuyến đi truyền giáo lần thứ ba (x. Cv 19,8.10.22 ; 20,31) ; vậy mà đọc thư Ê-phê-xô, người đọc lại thấy dường như thánh Phao-lô chưa giáp mặt các độc giả bao giờ (1,15 tt ; 4,21 ; 3,2-4), những lời khuyên nhủ, nhắn tin chung chung ; không thấy nói đến những vấn đề hoặc những khó khăn cụ thể của giáo đoàn này. Cuối thư không có tên của một cộng sự viên nào (khác với thư mục vụ, Ga-lát, Rô-ma).

Vì thế đúng hơn, đây là một thư luân lưu gửi cho nhiều giáo đoàn Tiểu Á, những giáo đoàn này có liên hệ chặt chẽ với nhau, chuyển cho nhau đọc các thư của thánh Tông Đồ (x. Cl 4,16).

Nơi biên soạn. Thời gian biên soạn.

Điều chắc chắn, đó là thánh Phao-lô đã viết thư Ê-phê-xô đang lúc ngài bị giam trong tù ; nhưng địa điểm và thời gian nào, lại có nhiều ý kiến khác nhau. Thánh Phao-lô bị tù nhiều lần (x. 2 Cr 11,23) : không kể vài giờ bị giữ ở Phi-líp-phê (Cv 16,23-40). Có hai lần sách Công Vụ cho biết thánh Phao-lô bị tù ; một lần ở Xê-da-rê (Cv 24,27) kéo dài hơn hai năm (58-60) ; một lần ở Rô-ma (Cv 28,16.30-31), thời gian tương tự như lần trước.

Có ý kiến cho rằng thánh Phao-lô viết thư này lúc ngài ở lại Ê-phê-xô một thời gian dài (53-56), trong chuyến đi truyền giáo lần thứ ba. Có thể vì ở đây thánh Phao-lô bị ngược đãi, và lưu lại một thời gian dài, nên người ta đã giả thiết như vậy. Tuy nhiên giả thuyết này không có cơ sở chắc chắn cả trong sách Công Vụ lẫn trong các thư thánh Phao-lô.

Cũng có ý kiến khác cho rằng thư Ê-phê-xô được viết trong thời gian thánh Phao-lô bị giam tại Xê-da-rê (58-60). Tuy nhiên, hầu hết các tác giả công giáo cho rằng thư Ê-phê-xô đã được viết trong thời gian thánh Phao-lô bị giam ở Rô-ma (61-63). Đó cũng là ý kiến của truyền thống.

Nội dung

Không kể phần mở đầu (1,1-2) và phần kết (6,21-24), nội dung chính của Ê-phê-xô là trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ mà Người đã sắp đặt từ bao đời trước. Mầu nhiệm đó là “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một Thủ Lãnh là Đức Ki-tô” (1,10). Nội dung này được khai triển thành hai phần :

1. Phần một (1,3 – 3,21) : chiêm ngưỡng công trình Thiên Chúa thực hiện trong Đức Ki-tô (1,3 – 2,10) ; cho thấy Thiên Chúa đã kết hợp những người không phải là Do-thái (độc giả thư Ê-phê-xô) với dân Do-thái, để làm thành một dân mới của Người như thế nào (2,11 – 3,21).

2. Phần hai (4,1 – 6,20) : khuyên độc giả sống hiệp nhất, xứng với đời sống mới, đời sống kết hợp với Đức Ki-tô, qua những tương quan cụ thể trong đời sống hằng ngày : giữa cộng đoàn Ki-tô hữu, trong gia đình, trong xã hội ...

Bố cục

Lời mở đầu (1,1-2)

I. Mầu nhiệm cứu độ : Đức Ki-tô và Hội Thánh (1,3 – 3,21)

1. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa (1,3-14)

2. Đức Ki-tô được siêu tôn (1,15-23)

3. Chính do ân sủng mà chúng ta được cứu độ (2,1-10)

4. Người Do-thái và người ngoại được hoà giải với nhau và với Thiên Chúa (2,11-22)

5. Thánh Phao-lô là người phục vụ mầu nhiệm Đức Ki-tô (3,1-13)

6. Lời cầu xin của thánh Phao-lô (3,14-21)

II. Khuyên nhủ (4,1 – 6,20)

1. Kêu gọi hiệp nhất (4,1-16)

2. Đời sống mới trong Đức Ki-tô (4,17 – 5,20)

3. Gia đình sống đạo (5,21 – 6,9)

4. Cuộc chiến đấu thiêng liêng (6,10-20)

Tin tức. Lời chào cuối thư (6,21-24).

Giáo lý

Thư này khai triển rộng hơn những điểm giáo lý đã được nêu lên trong thư Cô-lô-xê :

Mầu nhiệm Chúa Ki-tô

Chúa Ki-tô được siêu tôn, Người là Thủ Lãnh của tất cả vũ trụ, kể cả các quyền năng thiên giới. Đích điểm của chương trình Thiên Chúa đã hoạch định và giữ kín từ muôn đời, rồi được thực hiện trong lịch sử, là “quy tụ” tất cả vũ trụ dưới quyền một Thủ Lãnh duy nhất là Đức Ki-tô (1,10) ; Người trổi vượt mọi quyền năng thiên giới (1,21) bởi vì Người đã vượt lên trên các tầng trời (4,10) qua việc Người phục sinh và thăng thiên ngự bên hữu Chúa Cha.

Mầu nhiệm Hội Thánh

Mầu nhiệm đã được Thiên Chúa giữ kín từ trước muôn đời, nay được thực hiện : dân ngoại được kết hợp với dân Do-thái để làm nên Hội Thánh, thành một thân thể, có Chúa Ki-tô là Đầu. Thánh Phao-lô được kêu gọi làm người phục vụ mầu nhiệm này.

Thánh Phao-lô dùng ba hình ảnh để minh hoạ mầu nhiệm Hội Thánh : Hội Thánh là Thân Thể, có Chúa Ki-tô là Đầu ; Hội Thánh là công trình xây dựng, có Chúa Ki-tô là viên đá góc ; Hội Thánh là hiền thê của Chúa Ki-tô.

Chúa Ki-tô là sự viên mãn của Thiên Chúa (x. Cl 1,19 ; 2,9-10) và Hội Thánh là sự viên mãn của Chúa Ki-tô (x. Ep 1,23).