Ga-lát — Thư gửi tín hữu Ga-lát
Ga-lát
DẪN NHẬP THƯ GA-LÁT
Không ai chối cãi thư Ga-lát và thư Rô-ma có một luận điểm chung : ơn công chính nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Từ luận điểm này, thánh Phao-lô minh chứng tính ưu việt của Tin Mừng và giá trị đích thực của người tín hữu là tự do sống theo Thánh Thần.
Hai thư có liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng được soạn thảo trong bối cảnh và thời điểm khác nhau. Thư Ga-lát được viết trong lúc tác giả nóng giận trong hoàn cảnh cụ thể đang bị tấn công. Thư Rô-ma ra đời trong trạng thái tâm lý ổn định, suy tư chín chắn. Thư Ga-lát được coi như một phác thảo của thư Rô-ma. Nói cách khác, thư Rô-ma hệ thống hoá tư tưởng của thư Ga-lát bằng những lời văn chải chuốt, ý tưởng thâm sâu, nhất là lý luận sắc bén.
Độc giả
Khác hẳn với các thư khác của thánh Phao-lô, thư Ga-lát không gửi cho một Hội Thánh ở một thành phố nhất định, mà gửi cho “các Hội Thánh miền Ga-lát” (Gl 1,2). Miền Ga-lát ở đâu ? Có hai Ga-lát : Ga-lát thượng và Ga-lát hạ. Vào thế kỷ thứ ba tCN, các bộ lạc Gô-loa từ phương Tây vượt biển, xâm chiếm miền Tiểu Á (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ) và định cư ở đây, rồi trở thành một vương quốc. Do đó, có tên gọi “Ga-lát” để chỉ những người dân thuộc vương quốc này. Thời thánh Phao-lô, người ta gọi miền đó là Ga-lát thượng (bắc). Lúc ấy, người Rô-ma đặt ách thống trị lên người dân miền Phy-gi-a, Pi-xi-đi-a, Ly-cao-ni-a và I-xau-ri-a, thiết lập một tỉnh cho các cư dân này và gọi là tỉnh Ga-lát, tức là miền Ga-lát hạ (nam).
Vậy độc giả của thư Ga-lát thuộc miền nào ? Cho đến thế kỷ mười chín, người ta công nhận rằng thư Ga-lát được gửi cho các cộng đoàn tín hữu do thánh Phao-lô thành lập ở nội địa Tiểu Á trong hành trình truyền giáo thứ hai (Cv 16,6) ; và thánh Phao-lô trở lại đây thăm trong chuyến thứ ba (Cv 18,23). Như vậy, đó là Ga-lát thượng. Trong Gl 3,1 thánh Phao-lô viết : “Hỡi những người Ga-lát”. Còn trong Cv 14,11tt người chưa bao giờ gọi những người ở Ly-cao-ni-a hay Pi-xi-đi-a là “Ga-lát”. Thư Ga-lát cũng cho thấy những người nhận thư thuộc gốc lương dân (4,8 ; 5,2-3 ; 6,12-13). Vả lại, ở miền Ga-lát hạ có nhiều tín hữu gốc Do-thái giáo sinh sống hơn ở miền thượng.
Từ cuối thế kỷ mười chín, nhờ khám phá của khảo cổ học, khoa học nhân văn và tiến bộ của khoa Thánh Kinh, nhiều người chủ trương thư Ga-lát viết cho những tín hữu được thánh Phao-lô giảng Tin Mừng trong hành trình truyền giáo thứ nhất (x. Cv 13,13 – 14,27). Đó là miền Ga-lát hạ. Thánh Phao-lô giảng Tin Mừng ở Ga-lát chỉ là do tình cờ ; vì bệnh tật, người phải lưu lại Ga-lát (4,3). Để biện minh cho lý thuyết Ga-lát hạ, các người chủ trương cố gắng giải thích lý do, dựa vào sách Công Vụ. Gl 2,1-10 nói đến chuyến lên Giê-ru-sa-lem lần thứ hai, tương đương với Cv 11,30 và 12,25, chứ không phải Cv 15,2-30.
Có người chủ trương thư Ga-lát gửi cho cả hai miền Ga-lát thượng và hạ. Thực ra, chính thư Ga-lát cho thấy thánh Phao-lô chống lại những người tín hữu gốc Do-thái quá khích. Từ quan điểm này, chúng ta thấy trong Pl 3,2 hoặc 2 Cr 10-13, thánh Phao-lô luôn biện hộ sứ mệnh Tông Đồ của mình. Như thế, không nên giới hạn độc giả của thư Ga-lát vào một miền nhất định. Hơn nữa, thư của các Tông Đồ có tính cách luân lưu và thời đó chưa có phương tiện in ấn để dễ dàng phổ biến, các Tông Đồ viết thư nhằm giải đáp một vấn đề thời sự cho một miền nhất định, nhưng cũng có dụng ý phổ biến sang các miền lân cận.
Thời gian và nơi biên soạn
Thư Ga-lát không đề cập gì đến nghị quyết của đại hội Giê-ru-sa-lem trong Cv 15. Phải chăng thư được viết trước đại hội này, khoảng năm 48 ?
Như nói ở trên, thư Ga-lát có liên hệ chặt chẽ với thư Rô-ma ; nên thư Ga-lát không thể được soạn thảo trước thư Rô-ma một thời gian lâu quá. Thư Rô-ma được viết ở Cô-rin-tô khoảng mùa đông năm 57-58. Thư Ga-lát có thể được viết trước hoặc sau thư 1 Cô-rin-tô. Thời điểm biên soạn thư Ga-lát có lẽ vào khoảng năm 54-57. Đó là lúc thánh Phao-lô đang lưu trú ở Ê-phê-xô hoặc ở Ma-kê-đô-ni-a. Như vậy, thư Ga-lát được viết sau đại hội Giê-ru-sa-lem. Sở dĩ thánh Phao-lô không nhắc đến chỉ thị của đại hội này, vì các tín hữu Ga-lát không quen với luật lệ Do-thái được đề cập tới trong thư đại hội gửi về An-ti-ô-khi-a, nên người không đề cập đến bức thư đó trong thư gửi tín hữu Ga-lát.
Mục đích
Sau khi thánh Phao-lô rời miền Ga-lát, các tín hữu gốc Do-thái giáo từ Giê-ru-sa-lem đến nơi ấy lung lạc đức tin non nớt của anh em tín hữu gốc lương dân. Họ đòi buộc các tín hữu Ga-lát phải giữ Luật Mô-sê, nhất là luật cắt bì. Họ đã “giả danh giả nghĩa anh em” (2,4) nại đến quyền bính các Tông Đồ, các vị lãnh đạo Hội Thánh, mà các vị này đều giữ Luật Mô-sê, để mê hoặc các tín hữu gốc dân ngoại. Họ hạ uy tín thánh Phao-lô, chê bai người là kẻ cơ hội. Họ không công nhận người là Tông Đồ, vì người không được Đức Giê-su chọn lúc Chúa đi giảng Tin Mừng ; họ cho rằng người thua kém Nhóm Mười Hai.
Khi biết được chuyện này, thánh Phao-lô nổi giận, vì tín hữu gốc Do-thái chia rẽ người với các Tông Đồ và đi ngược lại với Tin Mừng của Đức Ki-tô. Tín hữu gốc lương dân quá nhẹ dạ, ngây ngô dễ tin và bỏ giáo huấn của người. Người viết thư biện minh cho sứ vụ Tông Đồ của mình và tuyên bố cách quả quyết về bản chất đích thực của ơn công chính. Ơn công chính không do các việc Luật dạy làm, nhưng là do lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Các tín hữu đã được Đức Ki-tô giải thoát khỏi ách Lề Luật để sống tự do dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Người khuyên các tín hữu Ga-lát cố gắng bám chặt vào Đức Giê-su, sống theo ơn Thánh Thần, nhất là sống bác ái.
Bố cục
Nhập đề : 1,1-10
– Lời mở đầu : 1,1-5
– Lời cảnh cáo : 1,6-10
I. Lời thanh minh : 1,11 – 2,21
– Ơn gọi của thánh Phao-lô : 1,11-24
– Đại hội ở Giê-ru-sa-lem : 2,1-10
– Xung đột với thánh Phê-rô ở An-ti-ô-khi-a : 2,11-14
– Tin Mừng của thánh Phao-lô : 2,15-21
II. Phần giáo thuyết : 3,1 – 4,31
– Kinh nghiệm của người Ga-lát : 3,1-5
– Kinh Thánh làm chứng : 3,6-14
– Vai trò tạm thời của Lề Luật : 3,15-22
– Ơn được nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô : 3,23-29
– Ơn làm nghĩa tử Thiên Chúa : 4,1-11
– Nhắc lại quá khứ : 4,12-20
– Hai giao ước : Ha-ga và Xa-ra : 4,21-31
III. Phần khuyên nhủ : 5,1 – 6,10
– Tự do của người tín hữu : 5,1-12
– Tự do và bác ái : 5,13-26
– Khuyên sống bác ái và nhiệt thành : 6,1-10
Lời cuối thư : 6,11-18.
Đạo lý
Đức tin và ơn cứu độ
Chủ đề chính của thư Ga-lát là ơn được nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô.
Người Do-thái vẫn quan niệm rằng Luật Mô-sê có một giá trị tuyệt đối về ơn cứu độ. Chu toàn mọi Lề Luật là người công chính. Trung thành với Lề Luật, người Do-thái giữ các nghi lễ bên ngoài. Cắt bì là dấu chỉ sự trung thành với Luật, đó là hình thức gia nhập dân Thiên Chúa để được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa với tổ phụ Áp-ra-ham. Luật là con đường duy nhất để đạt tới ơn cứu độ.
Thế nhưng thánh Phao-lô tuyên bố rằng vai trò giám hộ của Luật đã lỗi thời (3,25). Luật không có khả năng ban ơn được nên công chính (2,16). Trái lại, Luật còn là phương tiện cho người ta phạm tội (3,19). Đức Giê-su Ki-tô đã giải thoát ta khỏi ách tội lỗi và cho ta được làm con Thiên Chúa (4,5-7). Do đó, ơn cứu độ chỉ có thể nhờ Đức Giê-su ban cho.Nhưng vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những điều Luật dạy, nhưng nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su để được nên công chính, vì nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy(2,16).
Quả thật, người tín hữu được nên công chính hay được cứu độ là nhờ đức tin. Đức tin là phương thế Thiên Chúa dùng để ban ơn được nên công chính cho tội nhân. Chính trong bầu khí đức tin mà tất cả đời sống của người tín hữu, người được cứu độ, diễn tiến theo ơn Thần Khí. Đức tin đòi hỏi người tín hữu kết hợp với Đức Ki-tô trong mọi hành vi của mình. Như thế, ơn cứu độ hay ơn được nên công chính không phải do con người, mà do lòng thương xót Thiên Chúa ban cho người biết tin vào Đức Giê-su Ki-tô (x. Rm 4,7-8). Ơn được nên công chính trải dài suốt cuộc đời người tín hữu. Ơn này không do bản thân, hay do Luật Mô-sê, nhưng là do Thiên Chúa, do tin vào Đức Giê-su Ki-tô (x. Pl 3,9).
Người tín hữu phải biết chết đối với Luật Mô-sê, nghĩa là biết chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô (2,19) để tham dự đời sống của Đức Ki-tô Phục Sinh (2,20). Bởi vì, nhờ đức tin, người tín hữu cảm nghiệm thấy sức sống của Đức Ki-tô Phục Sinh đang tác động mãnh liệt đến cuộc đời trần thế của mình. Dù còn sống trong kiếp phàm nhân, như những người không tin Đức Ki-tô, người tín hữu đã được tham dự đời sống thần linh của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa (2,20).
Người tín hữu, một khi tin vào Đức Giê-su Ki-tô, tất nhiên muốn được đồng hình đồng dạng với Người, “cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô vào thập giá” (2,19). Vì thế, người tín hữu còn lãnh nhận phép rửa. Theo cái nhìn của thánh Phao-lô, ơn được nên công chính không biệt lập với phép rửa (3,27), đức mến (5,6) và ơn Thánh Thần (4,6 ; 5,16-25). Phép rửa làm cho người tín hữu được liên kết với cái chết và sự sống lại của Đức Giê-su Ki-tô và cho họ tham dự vào đời sống mới của Người. Phép rửa làm cho tín hữu trở nên thụ tạo mới (6,15). Chính Thánh Thần làm cho người lãnh nhận phép rửa được nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô làtrưởng tử giữa một đàn em đông đảo(Rm 8,29), và làm cho người ấy có một đời sống xứng đáng làm con Thiên Chúa (4,6). Khi đã thuộc về Đức Ki-tô (5,24), được sống nhờ Người, được giống như Người (2,20) và mặc lấy Người (3,27), người tín hữu trở nên con cháu đích thực của tổ phụ Áp-ra-ham, thừa hưởng gia nghiệp của Thiên Chúa, lời Người hứa (3,26-29).
Chắc chắn người được lãnh phép rửa vẫn còn phải đương đầu với bao dục vọng của tính xác thịt, còn muốn sống độc lập với Thiên Chúa và thích hưởng thụ (5,19-21). Nhưng, nhờ Thánh Thần, người tín hữu có thể sống một cuộc sống xứng đáng làm con Thiên Chúa (x. 1 Ga 3,1).
Tự do của người tín hữu
Trong thư Ga-lát, thánh Phao-lô nói nhiều đến tự do. Chính trong bối cảnh chống lại khuynh hướng đề cao Lề Luật của người Do-thái, thánh Phao-lô trình bày giáo lý về tự do của người tín hữu. Trước hết, người tín hữu là người được kêu gọi để hưởng tự do (5,13). Tự do không theo nghĩa triết học, xã hội hay chính trị, nhưng theo nghĩa tôn giáo. Có tự do này là nhờ Đức Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại ban cho chúng ta (5,1). Đó là ý muốn của Đức Ki-tô. Người giải thoát chúng ta khỏi ách Lề Luật (3,19), cứu chuộc chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi. Tự do của người tín hữu biểu thị đời sống làm con Thiên Chúa (4,4-7). Vì thế,người tín hữu phải loại bỏ mọi ý niệm sai lầm về Thiên Chúa, để nhận biết Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su. Nhờ Người, chúng ta dám kêu lên : “Áp-ba : Cha ơi !” (4,6). Người tín hữu chiêm ngắm tình yêu “mâu thuẫn” của Thiên Chúa, được mặc khải qua thập giá của Đức Ki-tô. Nhờ Người, chúng ta chiến đấu chống lại tội ác. Nhờ kết hợp với Đức Ki-tô, tín hữu có thể chống lại những dục vọng và đam mê (5,24).
Tự do của tín hữu triển nở trong công cuộc phục vụ lẫn nhau, trong bầu khí yêu thương (5,22-23). Tình yêu là dấu hiệu của người tự do (5,13). Như Đức Ki-tô đã thí mạng cho ta vì yêu mến (2,20), người tín hữu không khép kín mình trong tính tự mãn, nhưng biết thí mạng cho tha nhân, biết mang gánh nặng cho nhau (6,2). Phải biết tránh những tiêu cực trong cách xử thế (5,15.26). Thánh Thần là động lực mãnh liệt, ta hãy để Thánh Thần hướng dẫn (5,25), bởi vì Thần Khí của Chúa ở đâu, thì ở đấy có tự do (x. 2 Cr 3,17).
Cung cách người tín hữu phải khác với người Do-thái. Người Do-thái sống dưới sự hướng dẫn của Lề Luật, chẳng khác nào một người nô lệ. Tín hữu nào muốn lệ thuộc những thực hành bên ngoài thì cũng sống trong tình trạng tương tự (4,1 – 5,9). Sống theo kiểu Do-thái 2,4 người tín hữu không còn Đức Ki-tô nữa, đi vào ngõ cụt. Nhờ Thần Khí của Đức Ki-tô ngự trong tín hữu, tín hữu cảm nghiệm được rằng tự do không phải là sống cách buông thả theo tính xác thịt (5,19-21), nhưng tự do phải trả một giá rất đắt (2,19). Có như vậy, tín hữu mới có khả năng yêu mến (5,14) và hành động vì lòng mến (5,6). Chính lúc đó, người tín hữu thật sự nói như thánh Phao-lô :Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi(2,20 ; x. Pl 3,12).