Chương 15 — Thư gửi tín hữu Rô-ma

vi

1 Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của mình () .

2 Mỗi người chúng ta hãy chiều theo sở thích kẻ khác, vì lợi ích của họ, và để xây dựng () .

3 Thật vậy, Đức Ki-tô đã không chiều theo sở thích của mình, trái lại, như có lời chép : () Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu () .

4 () Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy.

5 Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được () đồng tâm nhất trí () với nhau, như Đức Ki-tô Giê-su đòi hỏi.

6 Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

7 Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Ki-tô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa.

8 Thật vậy, tôi xin quả quyết : Đức Ki-tô có đến phục vụ những người được cắt bì () , để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa với tổ tiên họ, đó là do lòng trung thành của Thiên Chúa.

9 Còn các dân ngoại () có được tôn vinh Thiên Chúa, thì đó là do lòng thương xót của Người, như có lời chép : () Vì thế giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa () .

10 Chỗ khác lại chép : () Hỡi chư dân, hãy vui mừng với dân Thiên Chúa !

11 Chỗ khác nữa : () Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người !

12 Ông I-sai-a cũng nói : Từ () gốc tổ Gie-sê () sẽ xuất hiện một mầm non, một Đấng sẽ đứng lên lãnh đạo chư dân. Chư dân sẽ hy vọng nơi Người.

13 () Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng.

KẾT

Công việc phục vụ của thánh Phao-lô

14 Thưa anh em, chính tôi, tôi tin chắc rằng anh em có đầy thiện chí, thừa hiểu biết () và có khả năng khuyên bảo nhau.

15 Trong thư này, đôi chỗ tôi đã nói hơi mạnh () , chẳng qua là để nhắc lại cho anh em điều anh em đã biết. Tôi viết thế là dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi

16 () làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà () trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa.

17 Vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su () , tôi có quyền hãnh diện về công việc phục vụ Thiên Chúa () .

18 Thật thế, tôi đâu dám nhắc đến chuyện nào khác, ngoài những gì Đức Ki-tô đã dùng tôi mà thực hiện để đưa các dân ngoại về phục vụ Thiên Chúa, thực hiện bằng lời nói việc làm,

19 bằng sức mạnh của những dấu lạ điềm thiêng, bằng quyền năng của Thánh Thần () . Như vậy, từ Giê-ru-sa-lem () , đi vòng đến tận miền I-ly-ri () , tôi đã làm tròn sứ mạng loan báo Tin Mừng Đức Ki-tô .

20 Nhưng tôi chỉ có tham vọng là loan báo Tin Mừng ở những nơi người ta chưa được nghe nói đến danh Đức Ki-tô () . Tôi làm thế vì không muốn xây dựng trên nền móng người khác đã đặt () .

21 Trái lại, như có lời chép : () Những kẻ đã không được loan báo về Người, sẽ thấy, những kẻ đã không được nghe nói về Người, sẽ hiểu.

Dự định mấy chuyến đi

22 Chính vì lẽ đó mà đã bao lần tôi bị ngăn trở không thể đến với anh em.

23 Nhưng bây giờ tôi không còn môi trường hoạt động trong những vùng này nữa ; đàng khác, từ nhiều năm nay, tôi vẫn ước ao đến thăm anh em () ,

24 khi nào tôi sang Tây Ban Nha () . Tôi hy vọng trên đường đi sẽ ghé thăm anh em, và được anh em tiễn đưa qua đó, sau khi được thoả mãn phần nào vì đã gặp anh em.

25 Nhưng bây giờ tôi còn phải đi Giê-ru-sa-lem () để phục vụ dân thánh ở đó,

26 vì miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a đã có nhã ý () đóng góp () để giúp những người nghèo trong số dân thánh ở Giê-ru-sa-lem .

27 Họ đã có nhã ý làm như vậy, nhưng thật ra họ cũng có bổn phận đối với dân thánh ở đó. Bởi vì các dân ngoại đã được chia sẻ các phúc lộc thiêng liêng của dân thánh ở Giê-ru-sa-lem , thì họ cũng có bổn phận dùng của cải vật chất mà giúp đỡ lại.

28 Vậy khi đã hoàn thành công việc ấy và đã chính thức chuyển giao () kết quả cuộc lạc quyên, tôi sẽ ghé thăm anh em trên đường đi Tây Ban Nha .

29 Tôi biết rằng, khi đến thăm anh em, tôi sẽ đến với đầy đủ phúc lành của Đức Ki-tô () .

30 Thưa anh em, () vì Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, và vì tình yêu của Thánh Thần, tôi khuyên nhủ anh em cùng chiến đấu () với tôi, bằng cách cầu xin Thiên Chúa cho tôi,

31 để tôi thoát khỏi tay những người miền Giu-đê () không chịu tin và để dân thánh vui lòng chấp nhận những gì tôi mang đến Giê-ru-sa-lem phục vụ họ.

32 Như thế, tôi sẽ vui mừng đến với anh em và được nghỉ ngơi giữa anh em, nếu Thiên Chúa muốn.

33 Xin Thiên Chúa là nguồn bình an, ở cùng tất cả anh em. A-men.

Giới thiệu và chào thăm

1 Tôi xin giới thiệu với anh em chị Phê-bê () , người chị em của chúng tôi, là nữ trợ tá () Hội Thánh () Ken-khơ-rê () .

2 Mong anh em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng đáng, như dân thánh phải đối xử với nhau. Chị có việc gì cần đến anh em, xin anh em giúp đỡ, vì chính chị cũng đã bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.

3 Tôi xin gửi lời thăm chị () Pơ-rít-ca () và anh A-qui-la , những người cộng tác với tôi để phục vụ Đức Ki-tô Giê-su ;

4 hai anh chị đã liều mất đầu để cứu mạng tôi () . Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh trong dân ngoại cũng phải mang ơn anh chị.

5 Tôi cũng xin gửi lời thăm Hội Thánh vẫn họp tại nhà anh chị ấy.
Xin gửi lời thăm anh Ê-pê-nét , bạn yêu quý của tôi, là của đầu mùa miền A-xi-a dâng lên Đức Ki-tô .

6 Xin gửi lời thăm chị Ma-ri-a , người đã vất vả nhiều vì anh em.

7 Xin gửi lời thăm các anh An-rô-ni-cô và Giu-ni-a , bà con với tôi () , và đã từng ngồi tù với tôi ; các anh là những người xuất sắc trong các Tông Đồ, lại còn theo Đức Ki-tô trước tôi.

8 Xin gửi lời thăm anh Am-li-át , bạn yêu quý của tôi trong Chúa.

9 Xin gửi lời thăm anh Ua-ban , người cộng tác với chúng tôi trong Đức Ki-tô , và anh Ta-khy , bạn yêu quý của tôi.

10 Xin gửi lời thăm anh A-pe-lê , người đã từng được tôi luyện trong Đức Ki-tô . Xin gửi lời thăm mọi người trong nhà anh A-rít-tô-bu-lô .

11 Xin gửi lời thăm anh Hê-rô-đi-on , bà con với tôi. Xin gửi lời thăm bà con anh Na-ki-xô , những người đang ở trong Chúa.

12 Xin gửi lời thăm hai chị Try-phen và Try-phô-xa , những người đang vất vả vì Chúa. Xin gửi lời thăm chị Péc-xi-đê yêu quý, người đã vất vả nhiều vì Chúa.

13 Xin gửi lời thăm anh Ru-phô () , người được Chúa chọn, và thăm mẹ của anh, cũng là mẹ của tôi () .

14 Xin gửi lời thăm các anh A-xinh-rít , Phơ-lê-gon , Héc-mê , Pát-rô-ba , Héc-ma và những anh em ở với các anh ấy.

15 Xin gửi lời thăm anh Phi-lô-lô-gô và chị Giu-li-a , anh Nê-rê và cô em anh ấy, anh Ô-lim-pa và mọi người trong dân thánh đang ở với các anh chị ấy.

16 Anh em hãy () hôn chào nhau () một cách thánh thiện. Tất cả các Hội Thánh Đức Ki-tô gửi lời chào anh em.

Tái bút lần thứ nhất : khuyên nhủ coi chừng

17 Thưa anh em, tôi khuyên nhủ anh em hãy () coi chừng những kẻ gây chia rẽ và làm cớ vấp ngã () , vì đi ngược lại với đạo lý anh em đã học hỏi ; anh em hãy xa lánh họ.

18 Hạng người đó chẳng phục vụ Đức Ki-tô , Chúa chúng ta, mà phục vụ chính cái bụng () của mình. Họ dùng những lời ngọt ngào nịnh bợ mà quyến rũ những tâm hồn đơn sơ.

19 Thật vậy, ai ai cũng biết rằng anh em vâng phục Thiên Chúa ; bởi thế tôi lấy làm vui vì anh em. Nhưng tôi muốn cho anh em khôn ngoan làm điều tốt, trong sạch không làm điều xấu.

20 Thiên Chúa là nguồn bình an, chẳng bao lâu nữa sẽ đè bẹp Xa-tan , bắt nó phải ở dưới chân anh em. Nguyện xin Đức Giê-su () , Chúa chúng ta, ban ân sủng cho anh em.

Tái bút lần thứ hai : chào thăm lần cuối

21 Anh () Ti-mô-thê () , người cộng tác với tôi, các anh Lu-ki-ô () , Gia-xon () và Xô-xi-pát-rô () , bà con của tôi, gửi lời thăm anh em.

22 Tôi là Téc-xi-ô , người chép thư này () , xin gửi lời thăm anh em trong Chúa.

23 Anh Gai-ô () , người tiếp rước tôi và tiếp rước cả Hội Thánh trong nhà của anh, gửi lời thăm anh em. Anh Ê-rát-tô () , quản lý kho bạc của thành phố, và anh Qua-tô , người anh em chúng tôi, gửi lời thăm anh em.

24 Nguyện xin Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban ân sủng cho toàn thể anh em. A-men () .

Vinh tụng ca ()

25 Vinh danh Thiên Chúa () , Đấng có quyền năng làm cho anh em được vững mạnh () theo Tin Mừng tôi loan báo, khi rao giảng Đức Giê-su Ki-tô. Tin Mừng đó mặc khải mầu nhiệm vốn được giữ kín tự ngàn xưa ()

26 nhưng nay lại được biểu lộ () như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh. Theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng hằng có đời đời, mầu nhiệm này được thông báo cho muôn dân biết, để họ () tin mà vâng phục Thiên Chúa () .

27 Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí () . Kính dâng Người mọi () vinh quang () đến muôn thuở muôn đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. A-men.