Rô-ma — Thư gửi tín hữu Rô-ma

vi

Rô-ma

DẪN NHẬP THƯ GỬI TÍN HỮU RÔ-MA

Khoảng cuối hành trình truyền giáo thứ ba (53-58), thánh Phao-lô bấy giờ đang ở Cô-rin-tô (57-58). Người cảm thấy trách nhiệm tông đồ của mình ở Đông Phương sắp kết thúc. Chỉ còn một việc phải làm, đó là mang những gì đã lạc quyên được trao cho giáo đoàn Giê-ru-sa-lem. Người dự tính sau khi hoàn thành công tác đó, người sẽ đi Tây-ban-nha và, trên đường đi, sẽ ghé qua Rô-ma (x. Cv 19,21 ; Rm 15,23-32). Không biết thánh Phao-lô có thực hiện được dự tính ấy không. Chỉ biết rằng để chuẩn bị cho chuyến đi này, người đã viết một bức thư gửi cho “các anh em đang ở Rô-ma” (1,7), tức là các Ki-tô hữu đang sống tại thủ đô của đế quốc.

Giáo đoàn Rô-ma

Cộng đoàn Ki-tô hữu ở Rô-ma đã hiện diện trước khi thánh Phao-lô viết thư này. Nhưng khi nào và như thế nào, không ai biết rõ. Theo sử gia Su-ê-tô-ni-ô, năm 49 hoàng đế Cơ-lau-đi-ô ra sắc chỉ truyền trục xuất khỏi Rô-ma những người Do-thái có liên quan tới một nhân vật tên là “Chrestus” nào đó (có lẽ đó là Christus). Theo Cv 18,2, ông A-qui-la và bà Pơ-rít-xi-la (Pơ-rít-ca, Rm 16,3) cũng ở trong số những người này. Nhờ hai ông bà mà thánh Phao-lô – bấy giờ đang ở Cô-rin-tô – biết về tình trạng của giáo đoàn Rô-ma.

Trong giáo đoàn ở thủ đô đế quốc này, có lẽ các Ki-tô hữu gốc ngoại giáo chiếm đa số. Cũng có ý kiến ngược lại. Dầu sao, thánh Phao-lô cũng đã viết cho cả hai, các Ki-tô hữu gốc Do-thái và gốc ngoại giáo. Người viết để tự giới thiệu với anh em tín hữu ở Rô-ma. Nhưng nhất là để giới thiệu lời giảng – người gọi là Tin Mừng – của mình với anh em ở Rô-ma.

Nội dung

Tin Mừng ấy đã được thánh Phao-lô định nghĩa ở Rm 1,16-17 : “Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp ...”.

Trong khi Thiên Chúa tỏ cơn thịnh nộ đối với cả dân ngoại lẫn người Do-thái vì những tội lỗi và yếu đuối của họ (1,18 – 3,20), thì Thiên Chúa cũng tỏ quyền năng cứu độ bằng cách làm cho cả hai được nên công chính trong Chúa Ki-tô (3,21 – 5,21). Hiệu quả là ai tin Chúa Giê-su Ki-tô thì được giải thoát khỏi tội lỗi để sống cho Thiên Chúa, được tự do đối với Lề Luật, được Thần Khí hướng dẫn để sống đời sống mới và hy vọng chắc chắn sẽ được ơn cứu độ (6,1 – 8,39). Hiệu quả ấy cũng sẽ được thể hiện nơi dân Ít-ra-en. Mặc dầu bây giờ họ không tin, nhưng thánh Phao-lô hy vọng thái độ của một số người Do-thái hiện từ khước Tin Mừng chỉ có tính cách giai đoạn, để người không phải là Do-thái có cơ hội đón nhận Tin Mừng. Một ngày kia, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, tất cả Ít-ra-en sẽ được cứu thoát (ch. 9-11). Đáp lại ơn đã được công chính hoá, thánh Phao-lô nêu lên một số điểm thực hành, xứng với đời sống mới trong Thân Thể Chúa Ki-tô (ch.12) và trong thế giới (13,1-7). Tất cả đều hướng tới ngày cánh chung (13,11-14), căn cứ vào những điều kiện cụ thể của cộng đoàn (14,1 – 15,13).

Bản văn

Không ai đặt nghi vấn về việc có phải thánh Phao-lô là tác giả thư gửi các tín hữu Rô-ma hay không. Chỉ có ch.15 và 16 là bị đặt vấn đề. Tuy nhiên những lý lẽ đưa ra không đủ thuyết phục. Không thể tách rời hai chương ấy ra khỏi bức thư.

Bố cục

Lời mở đầu (1,1-15)

Con người được cứu độ nhờ đức tin (1,16 – 11,36)

1. Thiên Chúa làm cho con người nên công chính (1,16 – 4,25)

A. Người ngoại và người Do-thái phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (1,18 – 3,20)

B. Con người được nên công chính nhờ Đức tin (3,21-31)

C. Gương tổ phụ Áp-ra-ham (4,1-25)

2. Thiên Chúa cứu độ con người (5,1 – 11,36)

A. Chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, sự chết và Lề Luật (5,12 – 7,25)

B. Người tín hữu sống theo Thần Khí (8,1-39)

C. Vấn đề Ít-ra-en không tin (9,1 – 11,36)

Khuyên nhủ (12,1 – 15,13)

Kết (15,14 – 16,27)

Cùng với thư gửi các tín hữu Ga-lát, thư gửi các tín hữu Rô-ma làm nổi bật tương quan giữa Do-thái giáo và Ki-tô giáo. Ki-tô giáo là viên mãn của niềm tin trong Cựu Ước. Giao Ước thời ông Mô-sê chỉ là giai đoạn chuẩn bị, phải nhường bước cho Giao Ước mới và hoàn hảo trong Chúa Ki-tô. Từ nay Chúa Giê-su Ki-tô là nguồn mạch đem lại ơn cứu độ cho bất cứ ai tin vào Người.