Gio-an — Tin Mừng theo Thánh Gio-an
Gio-an
DẪN NHẬP TIN MỪNG GIO-AN
Tin Mừng và sách Tin Mừng theo thánh Gio-an
Ga 20,31 làm nổi bật mục tiêu của sách Tin Mừng thứ IV : “Những điều đã được chép ở đây (trong sách này) là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” Đó là sách Tin Mừng đem tin vui cho những kẻ tin vào Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa : ai tin vào Người thì được sự sống nhờ danh Người. Như các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Gio-an (Gio-an chỉ sách Tin Mừng thứ IV hoặc tác giả của sách Tin Mừng đó) trình bày những nét chính yếu của lời rao giảng tiên khởi (Kêrugma) : ông Gio-an Tẩy Giả làm chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a nhờ Thánh Thần ngự xuống (1,31-34) ; Đức Giê-su dùng việc làm và lời nói nhằm mặc khải Thiên Chúa và hoạt động cứu độ của Người (1,35 – 12,50) ; trình thuật về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su cũng như những cuộc hiện ra của Người (13,1 – 20,20) ; sứ mạng trao cho các Tông Đồ (20,21). Nhưng sách Tin Mừng thứ IV có nhiều điểm khác biệt với các sách Tin Mừng Nhất Lãm : cấu trúc, niên đại, cách trình bày các phép lạ và lời nói của Đức Giê-su, cách tường thuật cùng những sự kiện như các sách Tin Mừng Nhất Lãm ... Sự khác biệt thiết yếu vẫn là cái nhìn về mầu nhiệm Đức Ki-tô. Đối với sách Tin Mừng thứ IV, Đức Ki-tô không chỉ là Đấng Mê-si-a đến trần gian nhằm làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các ngôn sứ Cựu Ước và thiết lập Nước Trời (Mát-thêu) ; Người cũng không chỉ là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa (Mác-cô), hoặc là Vị Cứu Chúa đến công bố sứ điệp diễn tả lòng khoan dung của Người đối với nhân loại (Lu-ca). Theo tác giả của Gio-an, Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mê-si-a mang đến cho thế gian đức tin và sự sống đời đời (20,31).
Tiến trình hình thành sách Tin Mừng IV
Nói chung, Gio-an cho độc giả cảm tưởng đó là cuốn sách có sự duy nhất. Nhưng khi đọc kỹ, độc giả sẽ nhận thấy những dấu vết của một tình trạng thiếu trật tự nào đó ít nhất bên ngoài: cuốn sách không tiến triển đều đặn ; độc giả gặp những đoạn như nằm ngoài văn mạch :
– Ga 3,22-30 như làm đứt đoạn diễn từ của Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô. Đặt 3,31 ngay sau 3,21 thì hợp lý hơn.
– Đáng lẽ ch. 6 phải nằm giữa ch. 4 và ch. 5. Như thế, lộ trình của Đức Giê-su sẽ như sau : từ miền Giu-đê, Người đến miền Ga-li-lê (4,54), sang bên kia biển hồ Ga-li-lê (6,1), rồi Người lên Giê-ru-sa-lem (5,1) và trở về Ga-li-lê (7,1).
– Phải hơn Ga 10,19-21 nằm ngay sau 9,41, vì c. 10,21 có cùng chung một chủ đề với ch. 9. Ga 14,31 phải là câu kết của bài diễn từ cáo biệt. Như thế, các ch. 15 và 16 đáng lẽ phải ở nơi nào đó trước câu này.
– Ga 20,30-31 là đoạn kết của Gio-an. Rõ ràng, Ga 21 là một phụ trương.
– Ga 7,53 – 8,11 không nằm trong văn mạch trước và sau. Theo văn thể và cách hành văn, đoạn này rất gần truyền thống Nhất Lãm, cách riêng Lu-ca.
– Ga 5,3b-4 : nhiều bản chép tay quan trọng bỏ những câu này. Ngày nay, các học giả thường công nhận : đó là một lời chú nhằm cắt nghĩa c. 7 nói đến nước khuấy lên.
– Ga 12,44-50 nằm ở ngoài văn mạch.
Những điều dị thường kể ở trên xuất phát từ cách thức Gio-an đã được soạn thảo và xuất bản : đó là tình trạng các chất liệu được dùng tăng dần theo thời gian, qua những lần xuất bản kế tiếp nhau. Công việc soạn thảo và xuất bản ấy đòi phải sửa chữa, thêm bớt ... Trong tiến trình hình thành của Gio-an, vài học giả nhận ra năm giai đoạn :
– Giai đoạn I : Trước hết, có một tổng thể các chất liệu thuộc truyền khẩu liên quan đến lời nói, việc làm của Đức Giê-su. Những chất liệu đó giống như các vật liệu đã cấu thành các sách Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng phát xuất từ một nguồn khác.
– Giai đoan II : Trong một giai đoạn có lẽ đã kéo dài qua nhiều thập niên, những chất liệu ấy đã được tuyển chọn, suy đi nghĩ lại và uốn nắn thành những trình thuật riêng biệt và những diễn từ trong khi rao giảng và giáo huấn. Vào cuối giai đoạn thứ hai này, người ta bắt đầu ghi lại những chất liệu dùng trong công việc rao giảng và giáo huấn. Kiểu hành văn trong đoạn 7,53 – 8,11 hoặc ch. 21 chẳng hạn ... không giống kiểu hành văn của những đoạn khác trong Gio-an. Đó là dấu vết của nhiều tác giả đã góp phần soạn thảo. Nhưng nói chung, phần lớn tác phẩm phát xuất từ một nguồn chính. Chắc nguồn chính đó phải là một môn phái thần học quy tụ chung quanh một vị tôn sư. Vị tôn sư này đóng vai trò chính yếu trong tiến trình hình thành của tác phẩm.
– Giai đoạn III : Những chất liệu ghi lại đó được sử dụng để cấu thành một tác phẩm. Đó là sách Tin Mừng trong lần xuất bản đầu tiên. Chắc vị tôn sư đã có sáng kiến thực hiện tác phẩm này. Và theo vài học giả, vị tôn sư đó chính là tác giả sách Tin Mừng. Tác phẩm này không gom lại tất cả các chất liệu do truyền thống Gio-an cung cấp.
– Giai đoạn IV : Rồi tác giả sách Tin Mừng cho xuất bản tác phẩm lần thứ hai. Có những đoạn hoặc phần mới lạ được ghép vào nhằm đáp ứng những nhu cầu mới hoặc giải đáp những vấn nạn do vài nhóm nêu lên : các môn đệ của ông Gio-an Tẩy Giả, những tín hữu gốc Do-thái ...
– Giai đoạn V : Sau hết, một (hoặc các) nhân vật gọi là “soạn giả”, đồ đệ hay bạn thân của tác giả, đảm nhận công việc xuất bản tác phẩm lần thứ ba. Lần xuất bản này là thành quả của công việc đem vào tác phẩm thuộc giai đoạn IV những chất liệu thuộc truyền thống Gio-an chưa nằm trong tác phẩm.
Tác giả chính
Như thế, sách Tin Mừng IV không chỉ có một tác giả duy nhất. Rất nhiều người đã đóng góp vào truyền thống Gio-an : truyền khẩu, các đơn vị văn chương ... Ngoài ra, còn có tác giả chính và soạn giả hoặc những soạn giả ...
Nhưng tác giả chính là ai ? Theo truyền thống, tông đồ Gio-an, con ông Dê-bê-đê và em ông Gia-cô-bê, đã viết sách Tin Mừng thứ IV. Cuối thế kỷ thứ II, vào năm 180, thánh I-rê-nê (trong cuốn Adversus Haereses III,1,1), Quy điển của Muratori (165-185), ông Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a (qua đời vào 211-216) đã quả quyết điều đó. Sách Tin Mừng thứ IV không ghi tên tác giả. Ga 21,20 nói đến “người môn đệ Đức Giê-su thương mến.” Theo 21,24, “chính môn đệ này làm chứng về những điều đó (= những sự kiện kể trong Gio-an) và đã viết ra.”
Người môn đệ ấy là ai ? Trong bữa Tiệc Ly, người môn đệ ấy tựa vào lòng Đức Giê-su (Ga 13,23). Ông đứng gần thập giá, khi Đức Giê-su giao phó thân mẫu cho mình (Ga 19,26). Sáng sớm Chúa Nhật Phục Sinh, ông và ông Phê-rô chạy ra mộ (Ga 20,2.3.4.8). Ở trên bãi biển hồ Ti-bê-ri-a, ông nhận ra Đức Giê-su trước các môn đệ khác (Ga 21,7) ; ông là đối tượng của cuộc nói chuyện giữa Đức Giê-su và ông Phê-rô (Ga 21,20-23).
Chắc chắn “người môn đệ Đức Giê-su thương mến” phải là một Tông Đồ, vì dựa vào các sách Tin Mừng Nhất Lãm chúng ta thấy : chỉ có các Tông Đồ mới có mặt trong bữa Tiệc Ly. Theo cách diễn tả của Gio-an, người môn đệ đó thuộc nhóm ba môn đệ thân tín của Đức Giê-su. Môn đệ đó không phải là ông Phê-rô, vì ông Phê-rô ở gần bên ông ấy mấy lần (Ga 13,23-24 ; 20,2-4.6.8-10 ; 21,20-23). Môn đệ đó cũng không phải là ông Gia-cô-bê đã chịu tử đạo vào năm 44 (x. Cv 12,2), còn môn đệ đó thì lại sống khá lâu theo Ga 21,20-23. Như thế, có lẽ phải kết luận rằng môn đệ đó chính là tông đồ Gio-an.
Nơi và năm soạn thảo
Sách Tin Mừng thứ IV đã được soạn thảo tại miền Tiểu Á theo lời chứng của lời tựa chống Mác-ki-ôn của thánh Giê-rô-ni-mô và Ê-pi-phan. Thánh I-rê-nê nói rõ : tại Ê-phê-xô. Nói chung, các học giả công nhận ý kiến này. Nhưng cũng có vài nhân vật như thánh Ép-rem, ông Ta-ti-a-nô ... lại chủ trương : An-ti-ô-khi-a, xứ Xy-ri-a, mới là nơi soạn thảo. Dĩ nhiên, thánh Gio-an đã rao giảng tại An-ti-ô-khi-a. Nhưng theo truyền thống, ngài đã qua giai đoạn sau cùng trong cuộc đời, một giai đoạn khá dài, tại Ê-phê-xô. Có lẽ vì lý do đó, chung chung người ta đã chọn Ê-phê-xô hơn là An-ti-ô-khi-a. Bởi vì sách Tin Mừng thứ IV không phải chỉ có một tác giả duy nhất, nên chắc phải phân biệt như sau : 1) những phần của chính thánh Gio-an đã được soạn thảo tại Ê-phê-xô ; 2) còn về các phần khác do (các) soạn giả và các đồ đệ của thánh Gio-an soạn thảo, thì khó mà xác định được là ở Ê-phê-xô hoặc ở nơi khác.
Về năm soạn thảo, chúng ta chỉ có thể đưa ra một ý kiến có khả năng đúng. Sách Tin Mừng thứ IV được người ta biết đến từ tiền bán thế kỷ thứ II, vì đã được trích dẫn hay đã gây ảnh hưởng : thánh Giút-ti-nô (Apologie 61,4) (vào năm 150) ; Héc-mát (Người Mục Tử) (vào năm 140) ; thánh Pô-ly-cáp (Thư gửi các tín hữu Phi-líp-phê) (vào năm 110) ; thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô-khi-a (các thư) (vào năm 110) ; tác phẩm Odes de Salomon (tiền bán thế kỷ thứ II) ; sách viết trên giấy cói Rylands 457 ... Theo thánh I-rê-nê và ông Cơ-lê-men-tê A-lê-xan-ri-a, có lẽ thánh Gio-an đã sống đến thời hoàng đế Tra-gia-nô (98-117). Như thế, nếu trừ đi thời gian cần thiết để phổ biến sách Tin Mừng, chúng ta có thể nghĩ rằng một số phần thuộc sách Tin Mừng thứ IV đã được soạn thảo vào những năm cuối của thế kỷ thứ I.
Cấu trúc
Có nhiều kiểu phân chia sách Tin Mừng thứ IV. Mỗi kiểu phân chia dựa trên vài điểm làm nền tảng. Khó có thể hướng về một kiểu nhất định, duy nhất. Vì thế, xin tạm đề nghị kiểu phân chia sau đây tương đối hợp lý hơn cả.
Kiểu phân chia này dựa vào các lễ phụng vụ Do-thái (3 lễ Vượt Qua : 2,13 ; 6,4 ; 11,55 – một lễ không được xác định : 5,1 – lễ Lều : 7,2 – lễ Cung hiến Đền Thờ : 10,22) và cách phân chia cuộc đời Đức Giê-su thành những giai đoạn rõ rệt (tuần lễ) : (tuần lễ khai mạc : 1,19 – 2,11 – tuần lễ Lều : 7,2.14.37 – tuần lễ thương khó : 12,1.12 ; 19,31.42, nằm giữa việc mai táng thực thụ : 19,38 tt). Với những yếu tố vừa kể, có thể phân chia sách Tin Mừng thứ IV như sau :
I. LỜI TỰA (1,1-18)
II. SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊ-SU (1,19 – 12,50)
1. Loan báo nhiệm cục mới (1,19 – 4,54)
2. Lễ thứ II tại Giê-ru-sa-lem (5,1-47)
3. Lễ Vượt Qua. Diễn từ về bánh trường sinh (6,1-71)
4. Lễ Lều (7,1 – 10,21)
5. Lễ Cung hiến Đền Thờ (10,22 – 11,54)
6. Sứ vụ công khai của Đức Giê-su kết thúc (11,55 – 12,50)
III. GIỜ CỦA ĐỨC GIÊ-SU. LỄ VƯỢT QUA CỦA CHIÊN THIÊN CHÚA (13,1 – 20,31)
1. Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su với các môn đệ (13,1 – 17,26)
2. Cuộc Thương Khó (18,1 – 19,42)
3. Ngày Phục Sinh (20,1-29)
4. Kết luận thứ nhất (20,30-31)
IV. ĐOẠN CUỐI (21,1-25)
Đạo lý
Mỗi tác giả sách Tin Mừng có một cái nhìn độc đáo về mầu nhiệm Đức Giê-su và sứ mạng của Người đối với nhân loại. Theo Gio-an, Đức Giê-su là Ngôi Lời tiên hữu trong Thiên Chúa (1,1.2) trở nên người phàm (1,14), vì được Chúa Cha sai xuống thế gian (3,17.34 ; 4,34 ; 5,36 ; 6,29 ; 7,28-29 ; 8,16.18.26.42 ; 10,36 ; 11,42 ; 17,3.25) để thực hiện một sứ mạng. Sau khi hoàn thành sứ mạng ấy, Người trở về cùng Chúa Cha (7,33 ; 13,3 ; 16,5 ; 17,11.13.23 ; 20,17). Đó là mầu nhiệm nhập thể nhắm mục tiêu phục vụ Thiên Chúa là Đấng muốn cứu độ thế gian. Đạo lý của Gio-an thiết yếu được rút từ Ga 20,31.
Mầu nhiệm Đức Giê-su và sứ mạng cứu độ của Người
Trước hết, mục đích của Gio-an là làm nổi bật mầu nhiệm Đức Giê-su : Người là CON THIÊN CHÚA, là ĐẤNG KI-TÔ (20,31a).
Đối với Thiên Chúa, Đức Giê-su là Con Một Thiên Chúa (1,14.18 ; 3,16-18), được Chúa Cha yêu mến (5,20 ; 15,9 ; 17,23-24.26), luôn hợp nhất, sống mật thiết và hành động chặt chẽ với Chúa Cha (10,30.38 ; 14,10-11.20 ; 17,21-23). Chúa Cha đã trao cho Người nhiệm vụ thực hiện công trình cứu độ (3,17). Vì thế, nỗi ưu tư khắc khoải của Đức Giê-su, lẽ sống không thể thiếu thì giống như lương thực nuôi sống Đức Giê-su, đó là “thi hành ý muốn” của Chúa Cha và “hoàn tất công trình của Người.” (4,34)
Đối với nhân loại, Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, Đấng Ki-tô (1,41 ; 4,25-26), nghĩa là “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” (1,34), được Thiên Chúa sai đi thực hiện sứ vụ cứu thế (4,42) với tư cách ngôn sứ, tư tế và quân vương.
Ở trong cung lòng Chúa Cha, Ngôi Lời đã thấy, đã nghe tất cả những gì xảy ra trong Thiên Chúa (1,18 ; 3,11.32 ; 8,38). Vì thế, Ngôi Lời nhập thể là Chứng nhân có đủ tư cách nhất để diễn tả ý định cứu độ của Chúa Cha, chuyển đạt các lời và giáo huấn của Người (3,32.34 ; 6,46 ; 7,29 ; 8,26.28.38.40 ; 12,49.50 ; 14,24 ; 17,8.14). Đức Giê-su tuyên bố Người là “ánh sáng cho thế gian” (1,4.7.9 ; 9,5 ; 12,46), ánh sáng ban ánh sáng cho người mù từ thuở mới sinh (9,6 tt), cho những ai không muốn bước đi trong bóng tối (12,35) ... Người là “con đường”, bởi vì Người là “sự thật” (14,6) : Người tỏ bày Chúa Cha (12,45 ; 14,9), Người dẫn tới Chúa Cha, cho biết Chúa Cha (1,18 ; 14,6-7) ; Người còn tỏ bày chính bản thân và sứ mạng của mình đối với nhân loại. Những hoạt động đó đều thuộc vai trò NGÔN SỨ thực hiện công việc mặc khải.
Gio-an ít nhấn mạnh đến sứ mạng TƯ TẾ của Đức Giê-su. Trong cả sách, chỉ có ch. 17 đề cập vấn đề này. Nói chung, Ga 17,1-26 được gọi là “Lời cầu nguyện của vị thượng tế”. Khi “được giương cao lên khỏi mặt đất” (12,32a), khi dâng hy lễ trên đồi Gôn-gô-tha, với tư cách thượng tế của Giao Ước Mới, Đức Giê-su đã cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ và tất cả những kẻ sẽ tin vào Người nhờ lời rao giảng của các ông. C. 19 (“Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con”) có nghĩa sau đây : Đức Giê-su tự tách ra khỏi đám phàm nhân để thuộc trọn về Thiên Chúa, bằng việc hiến dâng chính mình làm lễ vật trong hy lễ Gôn-gô-tha với tư cách thượng tế nhằm gây lợi ích cứu độ cho các môn đệ và tín hữu.
Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a hoặc Ki-tô, vì Người có nhiệm vụ thi hành sứ mạng QUÂN VƯƠNG. Thi hành sứ mạng quân vương là thực hiện chủ quyền trên thiên nhiên, ma quỷ, bệnh tật, cái chết và tội lỗi, là trải qua cuộc Thương Khó để chiến thắng cái chết nơi mình và nơi nhân loại. Nhờ thế, Đức Giê-su trở thành Đấng hướng dẫn, cai trị, chăm sóc đoàn dân (Mục Tử, Quân Vương), Đấng ban sự sống ...
Gio-an không sử dụng từ “phép lạ” (số ít : teras, số nhiều : terata), nhưng dùng từ “dấu lạ” (số ít : sêmeion, số nhiều : sêmeia) để chỉ những việc lạ lùng, những kỳ công do Đức Giê-su làm nhân danh Thiên Chúa (3,2) nhằm thúc giục những người chứng kiến tin rằng sứ mạng của mình phát xuất từ Thiên Chúa (2,11 ; 9,33 ; 11,40-42). Gio-an thường sử dụng từ “dấu lạ” nói chung (2,23 ; 3,2 ; 7,31 ; 9,16 ; 11,47 ; 12,37 ; 20,30). Tác giả sách Tin Mừng thứ IV không hề nói đến tương quan giữa “dấu lạ” và sứ mạng tư tế. Chỉ một lần (6,14), độc giả nhận thấy có liên lạc giữa “dấu lạ” và sứ mạng ngôn sứ ; lần khác (2,11), “dấu lạ” đầu tiên tại Ca-na được liên kết với vinh quang của Đức Giê-su. Ngoài ra, ở ba nơi (4,54 ; 6,2 ; 12,18), Đức Giê-su làm các “dấu lạ” có liên quan đến sức khoẻ, đến sự sống của con người : Người cho người con trai sắp chết của một sĩ quan được lành bệnh (4,54) ; Người chữa lành những kẻ đau ốm (6,2) ; Người cho ông La-da-rô được sống lại (11,1-44 ; 12,18). Ngoài chuyện làm các “dấu lạ” để phục hồi sức khoẻ hay sự sống, Đức Giê-su còn tỏ bày chủ quyền của Người trên thiên nhiên (2,11 ; 6,10-13.26), bệnh tật (4,46-54 ; 5,1 tt ; 6,2 ; 9,1 tt), trên cái chết (11,17.23.25.43-44 ; 12,9.17), trên ma quỷ (1,5 ; 12,31 ; 14,30 ; 16,11) và tội lỗi (8,36) ... Tất cả sứ mạng của Đức Giê-su quy hướng về “giờ” của Người (2,4 ; 7,30 ; 8,20 ; 12,23.27 ; 13,1 ; 17,1), giờ Người bỏ thế gian để về với Chúa Cha (13,1), giờ Người được tôn vinh bên hữu Chúa Cha (12,23 ; 17,1). Lúc đó là lúc Người “được giương cao lên” theo hai nghĩa : “được giương cao lên” thập giá (12,32-33 ; 8,28) và “được giương cao lên” trời (3,13.14). Nhờ thế, Đức Giê-su trở thành vị Mục Tử nhân lành (10,11.14.16) biết chiên của mình (10,14.27), chăm sóc, hướng dẫn (10,4), bảo vệ đoàn chiên (10,29), ban sự sống dồi dào cho đoàn chiên (10,10), dẫn đưa những chiên khác về một ràn duy nhất (10,16). Vai trò của Đức Giê-su cũng là vai trò của vị Quân Vương (1,49 ; 12,12). Thiên Chúa đã giao mọi sự trong tay Người (3,35 ; 13,3) ; Người có quyền năng trên mọi phàm nhân (17,2); không ai có thể cướp khỏi tay Người những kẻ thuộc về Người (10,28). Trình thuật về biến cố Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem cũng như trình thuật về cuộc Thương Khó làm nổi bật vai trò Quân Vương của Người (12,12-16 – 18,36.37 ; 19,13-15.19-22). Đức Giê-su đã tiến vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Vua Mê-si-a (12,13) : đó là một cuộc khải hoàn làm cho lời ngôn sứ Da-ca-ri-a nên ứng nghiệm (12,15 ; x. Dc 9,9-10). Trong trình thuật về cuộc Thương Khó, những lời nói (18,33.37 ; 19,14-15) và cách xử sự (19,13.19-22) của tổng trấn Phi-la-tô cũng như những kiểu chế giễu của bọn lính Rô-ma (19,2-3.5) và phản ứng thù nghịch của các thượng tế (19,15.21) là những cách nhắc đi nhắc lại cho độc giả tước hiệu Quân Vương và làm đậm nét tước hiệu này. Nước của Đức Giê-su không phải là một nước trần gian như các nước khác ; Người chẳng có thuộc hạ để bảo vệ bản thân (18,36). Quyền bính của Người thuộc lãnh vực thần linh của sự thật : Người đến làm chứng cho sự thật (18,37).
Với tư cách Con Thiên Chúa, Đức Giê-su vẫn giữ nơi mình vinh quang mà Người vẫn có bên Chúa Cha trước khi thế giới được tạo thành (17,5). Nhưng trong cuộc sống trần gian của Người, vinh quang đó được che giấu đi : Người không cho vinh quang đó chiếu toả vào nhân tính của mình. Đôi khi, Người hé mở vinh quang đó cho các môn đệ và các khán thính giả trong các “dấu lạ” Người làm (2,11 ; 11,40 ; 12,28a). Vinh quang đó sẽ được tỏ bày cách trọn vẹn hơn trong biến cố Vượt Qua : vinh quang Phục Sinh là chính vinh quang đời đời (17,22.24) toả chiếu trong ngày Đức Giê-su sống lại, nhưng đã bắt đầu từ lúc Người được giương cao lên thập giá (12,23.28b ; 13,31-32 ; 17,1). Đức Giê-su ban cho các tín hữu vinh quang Người đã nhận từ Chúa Cha (17,22). Người cũng sẽ cho họ được chiêm ngưỡng vinh quang của Người, khi họ được đoàn tụ với Người (17,24).
Gio-an còn muốn đặt tương quan của Đức Giê-su với sự sống : Đức Giê-su là Đấng ban sự sống. Thiên Chúa nắm chủ quyền tuyệt đối trên sự sống. Người đã trao cho Đức Giê-su quyền làm chủ sự sống (5,21 ; 10,18 ; 17,2). Đức Giê-su mang sự sống nơi mình (1,4 ; 5,26), Người là sự sống (11,25 ; 14,6). Vì thế, Người ban sự sống cho các tín hữu (5,21 ; 6,35.57.58.63 ; 10,18). Và phương tiện Người sử dụng để ban sự sống, ấy là ban lời của Người (6,68) và trở nên “bánh trường sinh” (6,35.48), bánh đem lại sự sống cho các tín hữu (6,57-58).
Tín hữu và sứ mạng cứu độ của Đức Giê-su
Phần II của mục “Đạo lý” dựa trên Ga 20,31b : “Còn những điều đã được chép ở đây là ... để anh em TIN mà ĐƯỢC SỰ SỐNG nhờ danh Người”.
“Tin”
Đức Giê-su dùng các “dấu lạ” để khơi dậy đức tin nơi các khán giả (2,11.23 ; 4,45.53 ; 11,15.45.48). Lời rao giảng, giáo huấn của Đức Giê-su cũng nhắm mục tiêu tạo điều kiện cho đức tin nảy sinh nơi tâm hồn các thính giả (2,22 ; 4,41.50 ; 17,8). Ga 19,35 cho thấy : đức tin nơi các độc giả của Gio-an phải dựa vào lời chứng của “chứng nhân” là tác giả. Tông đồ Gio-an nhìn vào ngôi mộ trống, thấy các di vật còn để trong đó, cũng đã tin (20,8). Nhưng cuối cùng, đức tin của con người đặt vào chính Đức Giê-su : 1,7 (tin vào Đức Giê-su là “ánh sáng”) ; 4,39.42 ; 5,24.38 ; 6,29.35.37.44.45.65.70 ; 7,31.38.39 ; 8,24.30 ; 9,35-38 ; 10,37-38.42 ; 11,25-26.27.45 ; 12,11. 36.42.44.46 ; 13,19 ; 14,1.11.12 ; 17,20.
Theo Gio-an, tin là đón tiếp Đức Giê-su (1,12 ; 5,43), là nhận biết Chúa Cha và Đức Giê-su (17,3), là đến với Đức Giê-su (3,20-21 ; 5,40 ; 6,35.37.44.45 ; 7,37-38 ; l4,6), nhận ra Người là Đấng Chúa Cha sai đến thế gian (5,24.38 ; 17,8.21.23.25).
Có những người đã từ khước Đức Giê-su, không chịu đón nhận Người và lời của Người (3,32 ; 5,43 ; 6,36 ; 7,5 ; 8,45-46 ; 10,25-26 ; 12,37.48 ; 16,9). Họ không tin, nên đã bị lên án rồi (3,18).
“Có sự sống”