Lu-ca — Tin Mừng theo Thánh Lu-ca
Lu-ca
DẪN NHẬP TIN MỪNG LU-CA
Mở đầu Lu-ca : Lời tựa
Tin Mừng theo thánh Lu-ca là cuốn thứ ba trong bốn sách Tin Mừng. Cuốn này có một điểm đặc biệt khác với hai cuốn kia trong bộ Nhất Lãm, là có lời tựa gửi cho “Thê-ô-phi-lô”, được viết như các tác phẩm viết bằng tiếng Hy-lạp thời bấy giờ.
Từ Hy-lạp “Thê-ô-phi-lô” chỉ người yêu mến Thiên Chúa hay là bạn hữu của Thiên Chúa. Nhưng từ này cũng là một tên riêng, có lẽ trong Lu-ca đây là tên của một nhân vật có địa vị xã hội và đóng một vai trò chính trị thời bấy giờ, hoặc có cảm tình với Ki-tô giáo, hoặc muốn tìm hiểu giáo lý của đạo mới đang được truyền giảng.
Trong lời tựa, tác giả nói rõ chủ đề, phương pháp và mục đích cuốn sách. Ông trình bày các biến cố xảy ra vào thời Giáo Hội bắt đầu công cuộc rao giảng. Để làm việc này, tác giả đã điều tra kỹ lưỡng nơi các nhân chứng đầu tiên và xếp đặt lại các sự kiện cho có thứ tự hầu cung cấp cho ông Thê-ô-phi-lô một bản tường thuật xác đáng theo lối các sử gia đương thời (x. 3,1-2). Nhưng lịch sử mà tác giả muốn tường thuật ở đây là lịch sử thánh, khác nghĩa với lịch sử thông thường, và mục đích của lịch sử này là trình bày ý nghĩa của các sự kiện đối với đức tin, một đức tin được ánh sáng của mầu nhiệm phục sinh và đời sống của Giáo Hội soi dẫn.
Dàn bài
Sau lời tựa, tác giả cũng theo một dàn bài đại khái giống như trong Mt và Mc :
– Thời thơ ấu
– Đức Giê-su chuẩn bị thi hành sứ mệnh
– Đức Giê-su rao giảng Tin Mừng tại miền Ga-li-lê
– Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem
– Đức Giê-su rao giảng tại Giê-ru-sa-lem
– Cuộc Thương Khó
– Sau Phục Sinh
Nhưng tác giả xếp đặt kỹ lưỡng và cẩn thận hơn nhằm cho thấy rõ được thời và nơi diễn ra lịch sử cứu độ. Ngoài ra, ông lại còn tỏ ra độc lập và khôn khéo khi tự ý bỏ điều này thêm điều kia và thay đổi thứ tự các biến cố cho hợp với quan niệm của mình hơn.
Thời thơ ấu : Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su sinh ra và sống ẩn dật (1,5 – 2,52)
Chỉ riêng Lc mới có đoạn này. Các bài tường thuật trong đoạn này làm nổi bật song song hai khuôn mặt: Đức Giê-su và ông Gio-an Tẩy Giả, và cố tình cho thấy khuôn mặt ông Gio-an rập theo khuôn mặt Đức Giê-su. Những bài ấy còn nhấn mạnh đến mầu nhiệm Đức Giê-su xuyên qua một chuỗi những thông điệp siêu nhiên công bố Người đầu thai bởi quyền năng Thánh Thần, Người là Thánh, là Con Thiên Chúa (x. 1,35), là Đấng Cứu Thế, là Đấng Ki-tô và là Đức Chúa (x. 2,11), là ơn cứu độ Thiên Chúa ban, là ánh sáng muôn dân (x. 2,30-32), nhưng cuối cùng bị đám đông dân Người chối bỏ (x. 2,34). Vậy để mở đầu Tin Mừng, trước khi mặc khải từng giai đoạn của mầu nhiệm Đức Giê-su, những trình thuật này cấu tạo một thứ lời tựa có tính Ki-tô học, có thể so sánh với lời tựa trong sách Tin Mừng theo thánh Gio-an (x. Ga 1,1-18).
Đức Giê-su chuẩn bị thi hành sứ mệnh (3,1 – 4,13)
Như trong Mt và Mc, phần này đề cập đến sứ mệnh của thánh Gio-an Tẩy Giả, biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa và lần đầu tiên đánh bại những cám dỗ của Xa-tan. Nhưng Lc tách biệt rõ ràng thời đại của ông Gio-an -còn thuộc về Cựu Ước– và thời đại của Đức Giê-su (x. 3,20+). Lc làm nổi bật biến cố Chúa Cha công nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a sau khi Người chịu phép rửa (x. 3,22+). Gia phả Đức Giê-su đi ngược lên tới A-đam, cho thấy rõ Đức Giê-su liên đới với toàn thể nhân loại (x. 3,23-38). Câu kết bài trình thuật Đức Giê-su chịu cám dỗ (x. 4,13) tiên báo trận chiến quyết liệt trong cuộc Thương Khó của Người.
Đức Giê-su rao giảng tại miền Ga-li-lê (4,14 – 9,50)
Tất cả giai đoạn này diễn ra ở Ga-li-lê (x. 23,5 ; Cv 10,37), khác với Mt 15,21 ; 16,13 và Mc 7,24.31 ; 8,27. Mở đầu, Lc nói về bài giảng của Đức Giê-su trong hội đường Na-da-rét (x. 4,16-30). Bài giảng này khai mào cho tất cả Tin Mừng tiếp theo : loan báo ơn cứu độ dựa vào Kinh Thánh và được Thần Khí linh hứng, gợi ý dân ngoại cũng được ơn cứu độ, cho biết trước Đức Giê-su bị đồng bào của Người chối bỏ và mưu toan hãm hại, và cuối cùng tường thuật các hành động (nhất là các phép lạ) và các lời giảng dạy của Người. Nhờ vậy, các môn đệ bắt đầu hiểu được đôi chút về thân thế của Người.
Phần này gồm ba đoạn :
– đoạn thứ nhất (4,16 – 6,11) theo khá sát thứ tự trong Mc 1,16 – 3,6, và cho thấy Đức Giê-su đối diện với quần chúng, với các môn đệ đầu tiên, với các đối thủ qua các phép lạ và những cuộc tranh luận,
– đoạn thứ hai (6,12 – 7,50), không có trong Mc nhưng có trong Mt tản mạn ở nhiều chỗ, mở đầu bằng việc tuyển chọn Nhóm Mười Hai và chú trọng trước hết đến lời Đức Giê-su dạy các môn đệ trong bài giảng về các mối phúc thật,
– đoạn thứ ba (8,1 – 9,50) cũng giống như Mc 4,1 – 9,40, nhưng thiếu phần song song với Mc 6,45 – 8,26. Đoạn này nói đến hoạt động của Nhóm Mười Hai được cộng tác vào sứ mệnh của Đức Giê-su. Nhóm được nêu tên ngay ở Lc 8,1. Các ông được biết những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa thay vì chỉ nghe được dụ ngôn (x. 8,10). Những phép lạ tiếp theo làm cho các ông tự đặt câu hỏi : “Vậy Người là ai ?” (8,25). Sau đó, các ông được sai đi rao giảng về Nước Thiên Chúa (x. 9,1-6) và được tích cực tham gia vào việc làm cho bánh hoá ra nhiều (x. 9,12). Cuối cùng, Đức Giê-su có thể buộc các ông phải có lập trường về bản thân Người, và thánh Phê-rô tuyên xưng Người là “Đấng Ki-tô của Thiên Chúa” (9,20). Liền sau đó, Đức Giê-su đi sâu vào mầu nhiệm của Người: Người là Đấng Mê-si-a phải bị giết chết (x. 9,22), và Chúa Cha, trong vinh quang ngày Hiển Dung, sẽ tuyên bố trước mặt các ông Người là Con yêu dấu (x. 9,35). Nhưng các ông được lệnh phải giữ bí mật không được tiết lộ cho ai biết Người là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa.
Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem (9,51 – 19,27)
Phần này dài nhất và cũng độc đáo nhất trong tác phẩm Lc. Nhiều tư liệu đã có sãn đó đây trong Mt và Mc, nhưng chỉ có Lc trình bày những tư liệu đó trong khuôn khổ một cuộc hành trình, vì đối với Lc, Giê-ru-sa-lem là trung tâm điểm ơn cứu độ : Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem để hoàn thành ơn cứu độ (sách Tin Mừng), sau này các Tông Đồ sẽ từ Giê-ru-sa-lem mang ơn cứu độ đó cho đến tận cùng trái đất (sách Công Vụ).
Mở đầu là một câu trang trọng hướng cuộc hành trình của Đức Giê-su về biến cố vượt qua đang tiến tới giai đoạn hoàn tất (x. 9,51). Người lên thành thánh Giê-ru-sa-lem, nơi công trình cứu độ phải được thực hiện. Thật ra, cuộc hành trình này không theo lộ trình địa lý (10,13-15 và 13,31-33 có vẻ còn diễn ra tại Ga-li-lê ; còn 13,34-35 thì cho hiểu rằng Đức Giê-su đã rao giảng tại Giê-ru-sa-lem). Đây chỉ là một khuôn khổ được tác giả dàn dựng để gom tụ tư liệu của mình dưới ánh sáng của cuộc vượt qua đang sắp được hoàn thành.
Trong suốt phần này, lời nói của Đức Giê-su được trọng hơn các phép lạ, và lời khuyến dụ hơn việc trình bày mầu nhiệm của Người (trừ 10,21-24 ; 12,49-50 ; 18,31-33 và 19,12-15). Người vẫn ngỏ lời với Ít-ra-en : cuộc đối chất giữa Người với nhóm Pha-ri-sêu và các nhà thông luật thật là gay gắt (x. 11,37-52) ; Người kêu gọi dân Người ăn năn trở lại (x. 12,51 – 13,9) và nghĩ tới trường hợp lời kêu gọi của Người bị từ chối (x. 13,23-35 ; 14,16-24). Người quay về phía các môn đệ, xác định cho các ông biết sứ mệnh của mình (x. 9,52 – 10,20), kêu mời các ông cầu nguyện (x. 11,1-13) và từ bỏ chính mình (x. 12,22-34.51-53 ; 14,26-33 ; 16,1-13 ; 18,28-30). Một phần lớn những lời dạy dỗ các môn đệ nhắm đến hoàn cảnh Người không còn hiện diện giữa các ông nữa, tức là thời gian Người lên Giê-ru-sa-lem, được “rước” đi, nên các ông phải cầu xin Thánh Thần (x. 11,13) và tuyên xưng Thầy mình trước mặt thiên hạ (x. 12,1-12), phải chờ đợi ngày Người trở lại (x. 12,35-40 ; 17,22 – 18,8 ; 19,11-27), và chăm lo cho anh em mình trong cộng đoàn (x. 12,41-48).
Câu Lc 18,15 nối lại trình thuật của Mt (19,15) và Mc (10,13). Nhưng ở phần cuối, Lc thêm bài tường thuật ông Da-kêu được ơn cứu độ và nhất là dụ ngôn các nén bạc (x. 19,1-10.11-27). Dưới ngọn bút của tác giả, bài dụ ngôn này như chuẩn bị cho cuộc đối đầu bi thảm giữa Giê-ru-sa-lem và vị vua mà thành đó từ chối không nhìn nhận (x. 19,11+).
Đức Giê-su rao giảng tại Giê-ru-sa-lem (19,28 – 21,38)
Đây là giai đoạn thứ ba trong sứ mệnh của Đức Giê-su. Giai đoạn này cho thấy Đức Giê-su hoàn thành công trình cứu độ của Người tại Giê-ru-sa-lem – được coi là tiêu biểu cho Ít-ra-en đối diện với Đức Giê-su trong thảm kịch thập giá. Tác giả nhấn mạnh đến điểm này trong màn đầu, quang cảnh Đức Giê-su khải hoàn vào thành (x. 19,29-48) : Người tiến vào thành như một vì vua (x. 19,35-38) ; Người khóc thương thành vì thành từ chối không đón nhận Người (x. 19,41-44) ; Người đuổi bọn con buôn ra khỏi đền thờ, nơi Người giảng dạy hằng ngày, để chứng tỏ uy quyền của Người tại đó.
Tác giả mô tả cuộc mặc khải của Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem trong ba đoạn giống như Mt và Mc, nhưng thêm vào một số nét riêng.
Bài giảng trong đền thờ (x. 20 – 21) kết thúc bằng lời tiên báo cuộc phán xét thành Giê-su-sa-lem và ngày Con Người xuất hiện. Tác giả viết những lời này cho toàn thể dân Ít-ra-en.
Bài Thương Khó (22 – 23)
Bài này cũng theo một lược đồ như các Tin Mừng khác, nhưng bài tường thuật bữa Tiệc Ly thì có thêm những lời Đức Giê-su giảng dạy Nhóm Mười Hai về vai trò phục vụ của các ông, về địa vị của các ông trong Nước Trời mai sau, về hoàn cảnh mới của các ông sau khi Thầy đã ra đi (x. 22,24-38). Những đau khổ Đức Giê-su phải chịu càng làm nổi bật đức công chính của Người cũng như giá trị mẫu mực của cuộc Thương Khó Người phải chịu. Khi Đấng Mê-si-a bị hạ nhục cũng là lúc Vương quyền của Người trở thành hiện thực và được khẳng định (x. 22,69+ ; 23,37+).
Sau Phục Sinh (24)
Các bài tường thuật về Chúa phục sinh (x. 24) đều được định vị ở Giê-ru-sa-lem. Những bài này không nhắc đến truyền thống cổ xưa về những lần hiện ra tại Ga-li-lê (x. Mt 26,32 ; 28,7.10.16-20 ; Mc 14,28 ; 16,7 ; Ga 21), có lẽ để giữ cho cân đối với sách Công vụ. Đây là những bài giải thích cuộc Thương Khó như con đường Thiên Chúa định để đưa Đức Ki-tô vào vinh quang của Người (x. c.26), theo lời Kinh Thánh đã chép (x. cc. 25-27,44-46) và Đức Giê-su cũng đã nhắc lại (x. c.7). Cuối cùng, Chúa Giê-su hiện ra với Nhóm Mười Một để phá tan mối hoài nghi của các ông (x. cc. 36-43) và trao cho các ông sứ mệnh làm nhân chứng (x. cc. 47-49). Sách Tin Mừng kết thúc bằng bài tường thuật đầu tiên về cuộc thăng thiên (x. c.51) chứng tỏ Đấng phục sinh là Đức Chúa (x. Cv 2,36).
Như vậy, toàn bộ Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho thấy rằng mầu nhiệm Đức Giê-su đã được mặc khải một cách tiệm tiến, và những người phải rao giảng mầu nhiệm ấy, tức là các Tông Đồ, đã cần một thời gian dài để từ từ tiếp cận và thấu hiểu mầu nhiệm của Người.
Tác giả
Vì sách Công Vụ cũng bắt đầu bằng một lời tựa gửi cho nhân vật Thê-ô-phi-lô và nhắc đến quyển sách đầu tiên, nơi tác giả đã nói về “tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy” (Cv 1,1), nên ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, người ta đã kết luận rằng sách Tin Mừng và sách Công Vụ là do cùng một tác giả. Khoa chú giải hiện đại đã công nhận điểm này trên cơ sở ngôn ngữ và tư tưởng của cả hai tác phẩm là đồng nhất, cũng như mục tiêu của cả hai cân đối với nhau.
Đàng khác, theo một truyền thống đã có từ cuối thế kỷ thứ II (thánh I-rê-nê), tác giả Tin Mừng thứ ba chính là người thầy thuốc Lu-ca mà thánh Phao-lô đã nói tới ở Cl 4,14 ; Plm 24 ; 2 Tm 4,11.
Về quê quán và năm sinh của tác giả, người ta không được rõ, chỉ biết rằng tác giả được ơn trở lại ở An-ti-ô-khi-a và qua đời bên Hy-lạp.
Tác giả không được nhìn tận mắt Đức Giê-su mà chỉ tin nhận Người là Chúa vinh quang qua khuôn mặt của Đấng phục sinh. Nơi tác giả, đức tin của người được ơn trở lại hướng dẫn cái nhìn của nhà sử học, và đã giúp ông khám phá Đức Ki-tô Giê-su trong trẻ thơ thành Bê-lem, trong cậu thiếu niên ở đền thờ lúc 12 tuổi, trong vị ngôn sứ hướng cả đời mình về Giê-ru-sa-lem, nơi mà công trình cứu độ được hoàn thành.
Thánh Lu-ca cũng là một con người đặc biệt tế nhị, nhất là khi nói về Đức Giê-su : ngài tránh những lối nói hơi thô của Mc (x. Lc 4,1 ; 8,24.28.45 ...) và dành cho Người một danh xưng đặc biệt trên môi các môn đệ (x 5,5+). Ngài được tặng cho danh hiệu là “văn sĩ ca tụng lòng nhân từ và khoan dung của Đức Ki-tô”. Thánh Lu-ca lấy làm cảm kích về bản tính nhân loại tuyệt vời của một vì Thiên Chúa đã tỏ ra xao xuyến trước tình cảnh một bà mẹ vừa mất đứa con duy nhất ; một vì Thiên Chúa làm bạn với hạng tội lỗi bị người ta xa lánh ; một vì Thiên Chúa cảm thông với giới phụ nữ bị người ta khinh bỉ ; một vì Thiên Chúa gần gũi với đám dân nghèo bị người ta chà đạp.
Là thầy thuốc, nên tác giả viết về bệnh tật một cách chính xác, và cũng vì thế biết rung cảm trước những khổ đau nơi thân xác con người. Phải chăng vì vậy, trong tác phẩm của mình, tác giả đã dành cho những người nghèo khổ, ốm đau, tội lỗi và phụ nữ một chỗ đặc biệt, với những lời lẽ đầy ngọt ngào an ủi ?
Tác giả lại còn có tài văn chương, thông thạo văn hoá Hy-lạp. Tác phẩm có nhiều ưu điểm : lời văn sáng sủa, mạch lạc, nhuần nhuyễn một cách linh động theo những đề tài khác nhau, và chứng tỏ một bút pháp thật điêu luyện ở một vài đoạn (x. 1,1-4 ; 24,13-35). Cách trình bày có trật tự và nghệ thuật, phác hoạ nét độc đáo của cốt truyện. Ngôn ngữ Lc phong phú nhất trong tất cả các sách Tân Ước.
Độc giả
Độc giả được nêu tên là ông Thê-ô-phi-lô, một nhân vật tượng trưng và cũng có thể là một nhân vật thiết thực. Dù sao, đó cũng là một nhân vật tiêu biểu cho những người Ki-tô hữu gốc ngoại giáo và theo văn hoá Hy-lạp. Có nhiều bằng chứng yểm trợ cho lời xác quyết này như văn từ, những lời giải thích về địa dư nước Pa-lét-tin (x. 1,26 ; 2,4 ; 4,31 ; 8,26 ; 23,51 ; 24,13) và tập tục người Do-thái (x. 1,9 ; 2,23-24.41-42 ; 22,1.7) ; sự ân cần đối với dân ngoại, những chỗ nhấn mạnh cho thấy Chúa Giê-su phục sinh có một thể xác thật sự (x. 24,39-43), điều mà người Hy-lạp rất khó chấp nhận (x. Cv 17,33 ; 1 Cr 15).
Như vậy, độc giả của Tin Mừng thứ ba là cả người trong đạo lẫn người ngoài đạo. Người trong đạo thì nhờ đọc Tin Mừng này mà thêm hiểu biết về Đức Ki-tô và đạo lý của Người. Còn người ngoài đạo thì, nếu đọc sách này với tinh thần vô tư và khách quan, sẽ nhận thấy Ki-tô giáo không phải là một phong trào chính trị hay một giáo phái dành cho một thiểu số, mà là một niềm tin “công giáo”, nghĩa là có thể truyền đạt đến cho mọi người ở khắp mọi nơi.
Sau cuộc giết hại các tín hữu vào năm 64 do bạo chúa Nê-rô, nhiều người có thiên kiến và tỏ ra ác cảm với Ki-tô giáo. Nhưng nhờ đọc sách này, họ sẽ thấy rằng Đức Ki-tô là người vô tội. Tính chất vô tội này đã được tổng trấn Phi-la-tô, viên toàn quyền của Rô-ma ở Pa-lét-tin, xác nhận khi ông nói : “Ta xét thấy người này không có tội gì đáng chết” (Lc 23,4.15.22).
Thời gian và nơi biên soạn
Muốn biết thời gian biên soạn sách Tin Mừng thứ ba, phải dựa vào thời kỳ Giê-ru-sa-lem bị quân đội Rô-ma tàn phá, dưới quyền chỉ huy của tướng Ti-tô. Mt và Mc có nói đến quang cảnh này, nhưng đặt nó vào viễn tượng cánh chung, còn Lc thì tách rời ra. Dường như tác giả có biết thời kỳ Giê-ru-sa-lem bị bao vây và tàn phá vào năm 70 (x. 19,43-44 ; 21,20.24). Như vậy, sách phải được viết sau thời gian này ; các nhà chú giải hiện nay cho là vào thập niên 80-90, nhưng cũng có một số khác lại cho là sớm hơn.
Về nơi biên soạn, không thấy truyền thống để lại dấu vết gì, nên không thể nói chính xác được là viết ở đâu, tuy có dư luận cho rằng sách được viết ở A-khai-a hoặc bên Ai-cập. Nhưng không lấy gì làm chắc và có lẽ dư luận đó muốn nói rằng Tin Mừng được loan báo chứ không phải được biên soạn tại hai nơi ấy.
Mục đích và phương pháp biên soạn
Trong lời tựa, thánh Lu-ca đã giải thích điều ngài muốn làm và cách thế tiến hành công việc. Ngài cho biết sẽ “tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta”, có nghĩa là tường thuật cuộc đời Đức Giê-su và thời kỳ thành lập Giáo Hội. Tác giả không phải là người đầu tiên làm công việc này mà đã có những vị đi trước (có lẽ ám chỉ thánh Mác-cô), nên người sẽ dựa vào “truyền thống” của “những người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa”, nghĩa là những người đang rao giảng Tin Mừng và trước hết là các Tông Đồ.
Việc biên soạn rất công phu, sử dụng các dữ kiện của truyền thống, khiến một số độc giả đặt vấn đề về tính lịch sử của Lc. Vấn đề này phức tạp và đòi hỏi phải nghiên cứu cả phương pháp được dùng cho sách Công vụ các Tông Đồ (x. Công vụ). Trong khuôn khổ việc nghiên cứu Tin Mừng này, trước hết, ta biết rằng tác giả đã tuyên bố ý định “cẩn thận tra cứu” và “tuần tự viết ra” (1,3) ; ta cũng có thể nhìn nhận giá trị của một số lớn những điều tác giả đưa ra. Tuy nhiên, một đàng, tác giả nhìn “sự kiện Giê-su” với tất cả niềm tin của mình -điều mà các nhà sử học cho là một suy diễn cá nhân vượt quá ranh giới lịch sử . Đàng khác, khi tường thuật lời nói và việc làm của Đức Giê-su, tác giả quan tâm trước hết đến ý nghĩa của nó ; đôi lúc ông tỏ ra không kể gì đến thứ tự thời gian (x. 4,16-30 ; 5,1-11 ; 24,51) hoặc địa lý (x. 10,13-15 ; 13,34-35 ; 24,36-49) ; các đoạn riêng của Lc đều có ý nghĩa đặc biệt (x. 1 – 2 ; 4,16-30 ; 5,1-11 ...). Mối quan tâm hàng đầu của tác giả không phải là mô tả cho chính xác các sự kiện như đã xảy ra, mà là công bố cuộc đời Đức Giê-su, coi đó chính là lịch sử cứu độ. Thánh nhân tự trao cho mình bổn phận “giải mã” các biến cố, và ngài đã làm điều đó trong ánh sáng của truyền thống Giáo Hội. Công trình của ngài là của tác giả một sách Tin Mừng.
Đạo lý
1. Vì có ý định viết thêm một cuốn sách thứ hai (Công vụ) để tường thuật công cuộc rao giảng của các Tông Đồ, nên tác giả Lu-ca phân biệt hai thời đại rõ ràng hơn Mát-thêu và Mác-cô : thời đại Đức Giê-su và thời đại Giáo Hội. Sách Tin Mừng cho thấy Đức Giê-su chỉ hoạt động cho Ít-ra-en. Dĩ nhiên trong Lc, sứ điệp cứu thế có tính cách phổ quát, đại đồng, nhưng luôn luôn được ghi trong những đoạn nhắc về tương lai (x. 2,32 ; 3,6 ; 13,29 ; 14,16-24) hoặc qua những tiền ảnh, mô hình (x. 3,23-38 ; 4,25-27 ; 7,9 ; 8,39 ; 10,1 ; 17,11-19). Chỉ có Chúa phục sinh mới trao sứ mệnh đi đến với muôn dân (x. 24,47-48).
Sau đó, các Tông Đồ sẽ hoàn thành sứ mệnh này nhờ được ban Thánh Thần (24,49 ; x. 12,12). Nhưng trong Lc, chỉ có Đức Giê-su, Đấng đã nhập thể bởi Thánh Thần (x. 1,35), mới hành động với quyền năng của Thánh Thần (x. 3,22 ; 4,1.14.18 ; 10,21).
Trong bài tường thuật thời thơ ấu , ông Si-mê-on tiên báo Đức Giê-su sẽ bị nhiều người trong Ít-ra-en chối từ (x. 2,34-35). Lc cho thấy sự chối từ này ngày càng thêm rõ rệt, nhưng giai đoạn thập giá không phải là giai đoạn tối hậu, vì sau ngày Ngũ Tuần, các Tông Đồ còn kêu gọi các người Do-thái thành Giê-ru-sa-lem hồi tâm sám hối và nhận lãnh ơn cứu độ.
2. Bằng cách phân biệt rõ ràng thời đại Đức Giê-su và thời đại Giáo Hội, Lc muốn cho thấy rõ bàn tay Thiên Chúa tác động trong lịch sử loài người qua những giai đoạn kế tiếp nhau. Nhưng cách trình bày này không bao giờ làm cho tác giả quên rằng, trong Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa đã một lần dứt khoát ban ơn cứu độ cho loài người. Vì thế, ngay từ đầu, Lc đã nhấn mạnh rằng ơn cứu độ là cho ngày hôm nay (2,11 ; 3,22 ; 4,21 ; x. 5,26 ; 19,9 ; 23,43). Quả thật, ngay từ giây phút đầu, Đức Giê-su đã là Con Thiên Chúa (1,35), là Đấng Cứu Độ (2,11 ; x. 1,69-71.77 ; 2,30 ; 3,6), là Đức Chúa (2,11 ; x. 7,13+ cho thấy Lc nhấn mạnh trên tước hiệu này) ; Người khởi đầu công cuộc rao giảng bằng lời loan báo Tin Mừng cứu độ dành cho người nghèo khổ, nhỏ hèn (4,18 ; x. 7,22 ; 10,21).
Khi mô tả thời đại Đức Giê-su, Lc đã nghĩ tới thời đại Giáo Hội. Hơn Mt và Mc, Lc thường khi gọi Nhóm Mười Hai là Tông Đồ (x. 6,13+), nói về nhiệm vụ các ngài trong các cộng đoàn (x. 9,12 ; 12,41-46 ; 22,14-38) và những người sẽ trợ giúp các ngài trong công cuộc rao giảng Tin Mừng (10,1 ; x. 8,2-3.39).
Hơn nữa, trong giáo huấn của Đức Giê-su, Lc cố ý chỉ cho thấy đâu là luật sống “hằng ngày” của người môn đệ (x. 9,23 ; 11,3 ; 17,4). Tác giả
– đặt trọng tâm ở việc sám hối ăn năn (5,32 ; 13,1-5 ; 15,4-32 và nhất là ở 7,36-50 ; 19,1-10 ; 23,39-43), ở lòng tin (x. 1,20.45 ; 7,50 ; 8,12-13 ; 17,5-6 ; 18,8 ; 22,32 ; 24,25) được diễn đạt trong lời tuyên xưng danh Chúa (x. 12,2-12 ; 21,12-19),
– nhấn mạnh việc cầu nguyện (x. 11,1-13 ; 18,1-8 ; 21,36 ; 22,40-46) như Đức Giê-su thường cầu nguyện (x. 3,21+) ; bài học bác ái yêu thương được coi là bài học nồng cốt dành cho môn đệ (6,27-42 ; x. 10,25-37 ; 17,3-4),