Mát-thêu — Tin mừng theo thánh Mát Thêu
Mát-thêu
DẪN NHẬP TIN MỪNG MÁT-THÊU
Dàn bài Mát-thêu
Ai cũng nhận rằng Mát-thêu được xếp đặt rất có hệ thống và mạch lạc. Trước tiên, chủ đề chung là “Nước Trời” được trình bày thành năm bài giảng, phân biệt dễ dàng bằng một công thức chung đặt ở cuối mỗi bài. “Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong...” kết thúc bốn bài đầu (7,28 ; 11,1 ; 13,53 ; 19,1) và bài cuối cùng : “Khi Đức Giê-su giảng dạy tất cả những điều ấy xong...” (26,1). Mỗi bài giảng như thế lại được minh hoạ bằng một phần kể truyện. Người ta phối hợp hai phần kể truyện và bài giảng bằng hai cách, tuỳ theo xếp yếu tố nào đi trước.
Cách đơn giản hơn là cho phần kể truyện đi trước. Theo cách này, nếu kể cả trình thuật về thời thơ ấu (ch. 1 – 2) và về cuộc Thương Khó và Phục Sinh (ch. 26 – 28) chúng ta có nội dung Tin Mừng phân chia thành bảy phần như sau :
I. Giáng sinh và thời thơ ấu (ch. 1 – 2)
II. Công bố Nước Trời (ch. 3 – 7)
1. Phần kể truyện (ch. 3 – 4)
2. Bài giảng trên núi (ch. 5 – 7)
III. Rao giảng Nước Trời (ch. 8 – 10)
1. Phần kể truyện (ch. 8 – 9)
2. Bài giảng về sứ mệnh truyền giáo (ch. 10)
IV. Mầu nhiệm Nước Trời (ch. 11 – 13)
1. Phần kể truyện (ch. 11 – 12)
2. Bài giảng bằng dụ ngôn (ch. 13)
V. Giáo Hội, bước đầu của Nước Trời (ch. 14 – 18)
1. Phần kể truyện (ch. 14 – 17)
2. Bài giảng về Giáo Hội (ch. 18)
VI. Nước Trời đã đến gần (ch. 19 – 25)
1. Phần kể truyện (ch. 19 – 23)
2. Bài giảng về thời cánh chung (ch. 24 – 25)
VII. Thương Khó và Phục Sinh (ch. 26 – 28)
Cách thứ hai, đặt phần kể truyện sau bài giảng, phức tạp hơn đôi chút, nhưng cũng rất đáng chú ý :
Lời tựa : Mầu nhiệm Chúa Giê-su (ch. 1 – 2
Phần I Chúa Giê-su công bố Nước Thiên Chúa và chuẩn bị Giáo Hội (ch. 3,1 – 16,12)
Tiết mục “bản lề” : Từ Cựu Ước đến Tân Ước (ch. 3 – 4)
1. Nước Thiên Chúa đã đến (ch. 5 – 9)
* Bài giảng trên núi (ch. 5 – 7)
* Mười phép lạ (ch. 8 – 9)
2. Chúa sai các môn đệ đi giảng và Người giảng Nước Trời (ch. 10 – 12)
* Bài giảng truyền giáo (ch. 10)
* Chúa đi giảng (ch. 11 – 12)
3. Sự lựa chọn trước lời giảng về Nước Trời (ch. 13,1 – 16,12)
* Bài giảng bằng dụ ngôn (ch. 13,1-52)
* Hướng về việc tuyên xưng ở Xê-da-rê (ch. 13,53 – 16,12)
Phần II Cộng đoàn trong Nước Trời (ch. 16,13 – 28,20)
Tiết mục “bản lề” : Cộng đoàn tuyên xưng Chúa mình (ch. 16,13 – 17,27)
4. Từ dân Do-thái, Nước Trời chuyển qua Giáo Hội (ch. 18 – 23)
* Bài giảng về đời sống cộng đoàn (ch. 18)
* Từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem (ch. 19 – 23)
5. Khai mạc Nước Trời trong mầu nhiệm Vượt Qua (ch. 24 – 28)
* Loan báo Nước Trời vĩnh viễn đến trong Chúa Giê-su (ch. 24 – 25)
* Mầu nhiệm Vượt Qua khai mở Nước Thiên Chúa (ch. 26 – 28)
Tác giả
Trong Tân Ước có bốn bản danh sách Mười Hai Tông Đồ ; tất cả bốn đều mang tên Mát-thêu. Tin Mừng thứ nhất xác định rõ Mát-thêu là một “người thu thuế” (Mt 10,3 so với Mc 3,18 ; Lc 6,15 ; Cv 1,13) được Chúa gọi đi theo Người, khi ông “đang ngồi ở trạm thu thuế” (Mt 9,9). Thánh Mác-cô (2,14) và thánh Lu-ca (5,27) cũng kể một câu chuyện tương tự, nhưng lại nói người thu thuế ấy mang tên Lê-vi. Như vậy, Mát-thêu người thu thuế cũng có tên là Lê-vi. Rất có thể tên khai sanh là Lê-vi, còn Mát-thêu là biệt danh Chúa Giê-su đặt cho ông khi ông đi theo Chúa. Điều đáng để ý ở đây là hai tác giả Mác-cô và Lu-ca đã tỏ ra tế nhị đối với vị Tông Đồ từng là người thu thuế, nên đã kể lại câu chuyện trên dưới tên Lê-vi, có lẽ lúc bấy giờ trong các giáo đoàn ít ai biết tới. Mặt khác, tác giả Tin Mừng thứ nhất đã kể rõ Mát-thêu là người thu thuế như vậy, lại tránh không nói đến việc chính Mát-thêu đã khoản đãi Chúa Giê-su và các anh em một bữa tiệc thịnh soạn (x. Lu-ca). Tất cả những điều vừa ghi nhận về chuyện Chúa gọi người thu thuế, vẫn được coi là dấu cho thấy rằng chính thánh Tông Đồ Mát-thêu là tác giả sách Tin Mừng vẫn mang tên ngài.
Quả vậy, ngay từ những thế kỷ đầu của Ki-tô giáo, truyền thống vẫn nhất mực coi thánh Mát-thêu là tác giả của Tin Mừng thứ nhất. Chứng từ trực tiếp và cũng cựu trào nhất là lời Giám mục Pa-pi-át (Hi-ê-ra-pô-li,quãng năm 110-120), do sử gia Êu-sê-bi-ô ghi lại. Theo sử gia này, thì Giám mục Pa-pi-át viết : “Ông Mát-thêu đã xếp đặt theo thứ tự bằng tiếng Híp-ri, những lời (Chúa) nói, và mỗi người tuỳ khả năng của mình mà phiên dịch (hoặc giải thích).” Theo các nhà bình luận nhận xét, thì “Những lời (Chúa) nói” không chỉ hiểu về giáo huấn của Chúa, mà về cả sự nghiệp của Người nữa. Tóm lại, là về một cuốn Tin Mừng trọn vẹn từ khi Chúa chịu phép rửa cho đến Phục Sinh. Giám mục Pa-pi-át nói thánh Mát-thêu viết bằng tiếng Híp-ri, thì phải hiểu là tiếng A-ram người Do-thái dùng thời ấy, chứ không phải Híp-ri cổ điển của Cựu Ước.
Tiếc rằng tác phẩm bằng A-ram đó đã thất truyền rất sớm, một phần vì tình trạng rối ren ở vùng Xy-ri-a Pa-lét-tin vào những thập niên cuối của thế kỷ thứ nhất, trước và sau biến cố năm 70 ; phần khác cũng vì bản Mát-thêu Hy-lạp được phổ biến mau lẹ tại các giáo đoàn.
Thật ra thì Giáo Hội chỉ nhìn nhận tác phẩm Hy-lạp này như là chính lục. Ai là tác giả bản Mát-thêu Hy-lạp này ? Dựa vào chứng từ của Giám mục Pa-pi-át người ta phỏng đoán rằng ngay từ khi tác phẩm A-ram mới ra, đã có nhiều bản dịch ra Hy-lạp khác nhau, trong đó có bản chính lục ngày nay. Nói cho cùng thì lời Giám mục Pa-pi-át có thể chỉ hiểu về những bản giải thích hoặc dịch miệng. Căn cứ vào nội dung của bản Hy-lạp hiện nay, có người cho rằng so với Mát-thêu A-ram, thì bản Mát-thêu chính lục là một sáng tác mới, chứ không phải một bản dịch. Dầu sao thì ai cũng phải nhận Tin Mừng thứ nhất mang mầu sắc Do-thái hay Sê-mít rất rõ ; người thực hiện bản này phải là một người Do-thái sống ở Đất Thánh hay trong vùng Xy-ri-a.
Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay của việc phân tích văn chương và những đặc điểm có màu sắc Do-thái trong nội dung Mát-thêu, người ta đồng ý kết luận rằng sách Tin Mừng này dựa trên những tài liệu gốc A-ram. Nhưng các nhà nghiên cứu không nhất trí với nhau về việc coi bản văn Mát-thêu Hy-lạp là bản dịch của Mát-thêu A-ram hay là một công trình biên soạn dựa trên tài liệu gốc A-ram. Do đó truyền thống coi thánh Mát-thêu là tác giả sách Tin Mừng này vẫn chưa bị bác bỏ.
Độc giả
Nguyên việc thánh Mát-thêu viết bằng tiếng A-ram cũng là bằng chứng rõ ràng là ngài viết cho các độc giả Do-thái sống ở vùng Xy-ri-a Pa-lét-tin. Một đàng các chứng từ cổ xưa nhất quả quyết điều đó. Mặt khác việc phân tách nội dung Tin Mừng cũng cho thấy như vậy : điểm tiêu biểu nhất của Tin Mừng này là sử dụng Cựu Ước rất dồi dào. Ít nhất cũng có tới 130 chỗ trực tiếp đưa về Sách Thánh, trong đó 43 chỗ trích sát. Tác giả trích theo kiểu Do-thái. Có những điều liên quan tới thói quen, phong tục, nghi thức v.v... chỉ độc giả Do-thái mới hiểu dễ dàng.
Cụ thể hơn nữa, có lẽ thánh Mát-thêu viết Tin Mừng trước tiên nhắm vào các cộng đoàn Ki-tô giáo từ Do-thái giáo trở lại ; đồng thời cũng nghĩ đến đồng bào Do-thái của ngài nói chung để giúp họ nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a mà dân tộc từng trông mong. Những lời Chúa khiển trách dân Do-thái cứng lòng, nhất là lên án các tật xấu của nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư được tác giả nhấn mạnh đặc biệt.
Rất có thể là bản Mát-thêu Hy-lạp dù là được biên soạn trực tiếp bằng tiếp Hy-lạp, chứ không phải là một bản dịch, thì cũng đã được soạn ra trước hết cho các cộng đoàn Ki-tô giáo gốc Do-thái sống ngoài đất thánh. Bởi vì trong bản này tác giả thấy không cần giải thích những thói quen của người Do-thái. Vì Hy-lạp là tiếng phổ thông trong đế quốc Rô-ma thời ấy, nên Mát-thêu Hy-lạp chẳng mấy chốc được phổ biến khắp nơi.
Thời gian và nơi biên soạn
Việc phân tách bản văn, cũng như các dữ kiện truyền thống cung cấp, không giúp xác định rõ được thời gian ra đời của Mát-thêu. Vì thế chỉ có thể phỏng định mà thôi. Về bản A-ram, có người cho rằng nó có thể ra đời quãng từ năm 40 tới 50 rồi, nghĩa là sau một thời gian dành cho sự phát triển của truyền khẩu. Đàng khác hai thư thánh Phao-lô viết cho giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca quãng năm 52 ; nếu các thư này thật sự đã dựa vào diễn từ chung luận của Chúa Giê-su trong Tin Mừng thứ nhất, thì Tin Mừng này phải có trước rồi. Hơn nữa, theo thánh I-rê-nê, tác phẩm nguyên thuỷ của thánh Mát-thêu được soạn ra “khi Phê-rô và Phao-lô rao giảng Tin Mừng và thiết lập Giáo Hội ở Rô-ma”. Mặc dù không thể căn cứ vào lời này để ấn định thời gian được, nhưng chúng ta cũng đoán được rằng Mát-thêu A-ram phải ra đời khá sớm.
Về Mát-thêu Hy-lạp cũng vậy, không nói chính xác được. Vào cuối thế kỷ thứ nhất Tin Mừng này đã được phổ biến khá rộng rãi. Có người nghĩ rằng bản chính lục này được thực hiện trước năm 70. Nhưng ý kiến chung bây giờ là Tin Mừng Mát-thêu chính lục được soạn vào những năm từ 80 đến 90 tại Xy-ri-a Pa-lét-tin. Ý kiến này dựa vào những yếu tố phản ánh sự chống đối quyết liệt giữa Hội Thánh Ki-tô giáo và Cộng đồng Do-thái giáo sau khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, nhất là trong bài giảng trên núi và trong trình thuật về Chúa Phục Sinh. Giới lãnh đạo Do-thái quy tụ ở Giam-ni-a (Giáp-nê) sau năm 70 đã “tuyệt thông” với Ki-tô giáo.
Mục đích
Tin Mừng Mát-thêu trước tiên là một Tin Mừng có nhiều tính thần học hơn là lịch sử. Khía cạnh hộ giáo, chống Do-thái cũng có, nhưng không phải là chính yếu như một số người nghĩ. Điều mà tác giả nhắm là trình bày con người Đức Giê-su và sự nghiệp của Người : Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a đích thực như Thiên Chúa đã phán hứa và loan báo trước trong Cựu Ước. Người đến trần gian để rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa thể hiện trong cộng đoàn Giáo Hội. Hơn nữa Mát-thêu còn muốn cho thấy, qua sự nghiệp đó, Đức Giê-su đã dần dần chứng tỏ mình là Con Thiên Chúa như thế nào. Điển hình là lời Người tuyên bố trước Thượng Hội đồng Do-thái (26,64) và, ở cuối Tin Mừng, lệnh Chúa sai các môn đệ ra đi tiếp tục sứ mệnh của Người (28,18-20).
Đạo lý
Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a Cựu Ước đã loan báo
Tin Mừng mở đầu bằng gia phả của Chúa, khởi đầu là ông Áp-ra-ham, trung tâm là vua Đa-vít (1,1-16). Rải rác trong tác phẩm, Chúa Giê-su xuất hiện như là con vua Đa-vít (9,27 ; 12,23 ; 15,22 ; 20,30.32 ; 21,9.15) mặc dầu chính Người rất dè dặt về tước hiệu này, vì quần chúng hay quan niệm lệch lạc.
Như đã nói, Mát-thêu sử dụng dồi dào Thánh Kinh Cựu Ước, dồi dào hơn các Tin Mừng khác, để dẫn chứng, cách riêng đối với người Do-thái vẫn chờ đợi Đấng Mê-si-a, rằng mọi sấm ngôn của Cựu Ước đều ứng nghiệm nơi Đức Giê-su người Na-da-rét. Do đó, chúng ta thường gặp những công thức quen thuộc, như “để ứng nghiệm điều Thiên Chúa đã dùng vị ngôn sứ mà phán” hoặc “như thế là ứng nghiệm”.
Một trong những nét đặc trưng của Mát-thêu về Ki-tô học, đó là hình ảnh Mô-sê mới : Chúa Giê-su chính là vị Ngôn sứ cao cả Thiên Chúa hứa từ thời Xuất Hành (Đnl 18,18). Phân phối Tin Mừng thành năm phần, sau khi đã giới thiệu thời thơ ấu của Chúa qua năm sự việc, tác giả Mát-thêu đã muốn đưa người đọc về ý tưởng Chúa Giê-su là Đấng sáng lập Giao Ước Mới, điều chỉnh và kiện toàn Luật cũ (x. 5,17-48).
Trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giê-su gợi lên những trình thuật và truyền thuyết về Mô-sê, năm phần gợi lên bộ Ngũ Thư và đặc biệt năm diễn từ của Mô-sê trong sách Đệ-nhị-luật. Ngoài ra trong các biến cố đáng chú ý hơn của cuộc đời Chúa Giê-su, như khi Chúa chịu cám dỗ, khi khai mạc Nước Trời trên núi, lúc hiển dung, khi hoá bánh ra nhiều trong sa mạc, lúc sai các Tông đồ đi khắp thế giới..., Mát-thêu đều gợi cho độc giả nhận ra Chúa Giê-su là Mô-sê của Tân Ước.
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa
Chính Chúa Cha đã mặc khải Người một cách long trọng tại sông Gio-đan (3,17) và trong cuộc Hiển dung (17,5). Những lời xưng nhận của ma quỷ (8,29), của ông Phê-rô (16,16 tt), của vị sĩ quan phụ trách cuộc hành quyết (27,54), tuy hãy còn mập mờ trong hoàn cảnh lịch sử, nhưng đối với tác giả Mát-thêu đó là những lời tuyên xưng thần tính của Chúa. Dầu sao, những lời chính Chúa Giê-su nói về mình mới thật là ý nghĩa, như khi Chúa tự cho mình là hơn cả Đền Thờ (12,6), hơn cả ngôn sứ Giô-na và vua Sa-lô-môn (12,41 tt), và là Chúa của vua Đa-vít (22,41-46) ; khi tự xưng là Con trong một tương quan duy nhất với Thiên Chúa (11,25 tt ; 12,50 ; 17,24-27 ; 21,33 tt). Hai lời tuyên bố long trọng và dồi dào ý nghĩa nhất. Một là trước thượng hội đồng Do-thái (26,63 tt) : sau khi xác nhận mình là Đấng Mê-si-a, Chúa Giê-su còn nhắc lại lời sấm Đa-ni-en về Con Người và cho hiểu Ngài là Thiên Chúa (“ngự bên hữu Đấng Toàn Năng”). Hai là trước mặt các môn đệ quy tụ lại trên núi để lãnh sứ mệnh tiếp tục sự nghiệp của Chúa Phục Sinh, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi được công bố minh nhiên (28,18-20) và Chúa Giê-su cho thấy Người chính là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” cho đến tận thế (x. 1,23).
Đấng sáng lập Hội Thánh
Hội Thánh là cộng đoàn các “môn đệ”, những người quy tụ quanh Chúa Giê-su và “học gương Thầy” (11,29 ; 23,8). Trước tiên phải kể đến Nhóm Mười Hai, rồi các bạn đồng hành khác của Chúa Giê-su khi Người còn tại thế, và nói chung là các kẻ tin theo Người. Tuy nhiên sau khi Chúa Phục Sinh và được vinh thăng, những người tin theo Chúa nhờ lời rao giảng của nhóm môn đệ đầu tiên cũng vẫn được gọi là môn đệ. Như lời tuyên bố cuối cùng cho thấy (28,19a), ơn gọi làm môn đệ được ban cho mọi người, ở mọi thời. Quả thế, Hội Thánh chính là Nước Trời ở trần gian, do Chúa Giê-su thiết lập như một xã hội có phẩm trật, được trao cho ông Phê-rô (16,18-19) và các Tông đồ lãnh đạo (18,18). Bởi thế nhóm môn đệ tiên khởi, tuy vẫn mang tính lịch sử của mình, nhưng đã trở thành mẫu mực cho các tín hữu của các thế hệ tiếp theo. Hội Thánh xuất phát từ lòng dân Do-thái, nên vẫn dựa trên căn bản Lề Luật cũ ; nhưng chính Lề Luật thì đã được Chúa Giê-su kiện toàn. Tư cách của Chúa Giê-su là vị Thầy chính thức giải thích Luật Mô-sê, cho dân chúng và các môn đệ thấy thánh ý của Thiên Chúa, được Mát-thêu nêu rõ trong năm bài giảng, nhất là trong bài giảng trên núi. Qua bài giảng này Mát-thêu cho thấy một đàng Chúa Giê-su muốn đánh tan hiểu lầm của nhiều người cho rằng khi Đấng Mê-si-a xuất hiện thì những đòi hỏi đạo đức của Cựu Ước cũng tiêu tan (x. 5,17). Đàng khác Chúa Giê-su cũng phi bác những kẻ tự coi mình là người nắm giữ được ý định ngàn đời của Thiên Chúa (5,20). Thật ra đối với Mát-thêu, chỉ có lời Chúa Giê-su, được tiếp thu (7,24-26) và được hiểu đúng đắn (13,23), mới tạo được sự công chính đích thật (5,20) và dẫn đưa người môn đệ đi tới đích trên con đường hoàn thiện (5,48 ; 19,21).
Mát-thêu cho thấy thái độ căn bản của người môn đệ Chúa Giê-su là biết nghe, hiểu và thực hành lời của Người. Thật vậy, nếu trong Lu-ca, môn đệ là chứng nhân, thì trong Mát-thêu, môn đệ chủ yếu là thính giả, là người lắng nghe Thầy giáo huấn, đặc biệt trong các bài giảng. Chính để nói lên điều này mà trong bốn bài, Mát-thêu dùng công thức quen thuộc “các môn đệ đến gần” (5,1 ; 13,10.36 ; 18,1 ; 24,1.3) để nghe Chúa giáo huấn. Cũng nên biết rằng trong các Tin Mừng Nhất Lãm thì Mát-thêu là tác giả đưa ra nhiều nhất số lần huấn dụ dành riêng cho các môn đệ : 9,37 – 11,1 ; 13,10-13 ; 16,24-28 ; 17,10-13.19-20 ; 18 ; 19,23 – 20,19 ; 21,21-22 ; 24,1-2 ; 24,3 – 25,46.
Nghe lời Thầy giáo huấn, các môn đệ có hiểu không ? Ở đây Mát-thêu khác hẳn Mác-cô. Mác-cô nhấn mạnh rằng các môn đệ không hiểu ; còn Mát-thêu thì lại cho thấy rằng các môn đệ chính là những kẻ “nghe và hiểu lời rao giảng” (13,23). Quả thật ở cuối bài giảng bằng dụ ngôn, Chúa Giê-su hỏi các môn đệ “Anh em có hiểu những điều ấy không ?” thì họ đã thưa : “Thưa hiểu” (13,51). Kiểu nói : “Bấy giờ các môn đệ (mới) hiểu” xuất hiện ở 16,12 và 17,13 đều cho thấy rằng hiểu lời Thầy là một đặc điểm của người môn đệ trong Mát-thêu.
Tuy nhiên cũng có bốn lần Mát-thêu ghi nhận rằng các môn đệ không hiểu (13,36 ; 15,16 ; 16,9 ; 17,13). Sở dĩ như vậy là vì nghe mà hiểu được là hồng ân, chứ không phải vì môn đệ có trí khôn sắc sảo hay vì họ được ân thưởng do công trạng đã lập : “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết mầu nhiệm Nước Trời” (13,11).
Đặc điểm thứ ba của người môn đệ Chúa Ki-tô theo Mát-thêu là thực hành điều Thiên Chúa muốn. Hiểu mà không thực hành thì chẳng khác gì nghe mà không hiểu. Chính ở điểm này, lòng trung thành thực sự của người môn đệ được chứng minh và đây cũng là điều tâm niệm đặc biệt của Mát-thêu, như có thể thấy trong các câu xác định ai là bà con đích thực của Đức Giê-su (12,46-50) và trong phần kết bài giảng trên núi (7,13-27).