Huấn thị về Âm nhạc trong Phụng vụ (1967)

vi

HUẤN THỊ VỀ ÂM NHẠC TRONG PHỤNG VỤ Instructio De Musica In Sacra Liturgia

INSTRUCTIO DE MUSICA IN SACRA LITURGIA HUẤN THỊ VỀ ÂM NHẠC TRONG PHỤNG VỤ của Thánh bộ Nghi Lễ, ngày 05/03/1967

Lời nói đầu

Trong lãnh vực cải tổ Phụng vụ, Thánh nhạc đã được Công đồng Vaticanô II nghiên cứu cẩn thận. Công đồng đã làm nổi bật vai trò của Thánh nhạc (TN) trong các lễ nghi Phụng vụ (PV), công bố một số nguyên tắc và luật lệ trong Hiến chế Phụng vụ đã dành trọn một chương để nói về vấn đề này.

Những quyết định của Công đồng đã bắt đầu được áp dụng cách thiết thực cùng với công cuộc cải tổ phụng vụ vừa khai diễn. Nhưng các quy tắc mới liên quan đến việc tổ chức các nghi lễ và sự tham gia tích cực của tín hữu, đã làm nảy sinh nhiều vấn đề liên hệ đến Thánh nhạc và vai trò thừa tác của nó. Những vấn đề này có thể giải quyết được, nếu một vài nguyên tắc trong Hiến chế Phụng vụ liên quan tới đó, được làm cho sáng tỏ hơn.

Vì thế Hội đồng thực thi Hiến chế Phụng vụ, thành lập theo lệnh Đức Thánh Cha đã nghiên cứu kỹ càng các vấn đề ấy, và đã soạn ra Huấn thị này. Đây không phải là toàn bộ luật pháp về Thánh nhạc, mà chỉ là bản ấn định các quy tắc chính xem ra cần thiết hơn cho thời đại chúng ta. Huấn thị này được coi như tiếp nối và bổ túc Huấn thị trước của Thánh Bộ cũng do chính Hội đồng này soạn thảo và công bố ngày 26-09-1964 để điều chỉnh đúng đắn viện áp dụng Hiến chế Phụng vụ.

Mong rằng các vị chủ chăn, các nhạc sĩ và các tín hữu sẽ vui lòng đón nhận các quy tắc đó và đem ra thực hành. Như vậy ai nấy sẽ kết hợp mọi nổ lực của mình để đạt tới mục đích thật của Thánh nhạc là “Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu” (1).

a. Thánh nhạc, phải hiểu là loại âm nhạc được sáng tác để thờ phượng Thiên Chúa, nên phải biểu lộ sự thánh thiện và diễn tả được hình thức nghệ thuật cao (2).

b. Khi nói đến Thánh nhạc thì phải kể đến nhạc Grêgôriô (cũng gọi là Bình ca), nhạc đa âm cổ điển và hiện đại dưới các hình thể khác nhau, nhạc soạn cho Đại phong cầm và các nhạc khí được công nhận, các ca khúc bình dân, Phụng vụ và Tôn giáo (3).

MỘT VÀI QUY TẮC TỔNG QUÁ

Lễ nghi Phụng vụ sẽ mang hình thức cao quý hơn, khi được cử hành kèm theo ca hát, khi mỗi Thừa tác viên chu toàn đúng nhiệm vụ của mình, và khi có dân chúng tham dự (4).

Thật vậy, dưới hình thức đó, lời cầu nguyện được diễn tả thâm thúy hơn, mầu nhiệm Phụng vụ với những đặc tính tôn ti và cộng đồng được biểu lộ rõ ràng hơn, lòng người hợp nhất với nhau hơn nhờ cùng hát chung một giọng ca và tinh thần của con người cũng dễ dàng được nâng cao hơn, nhờ ngắm vẻ đẹp của sự vật thánh mà vươn tới những thực tại vô hình. Cuối cùng toàn bộ việc cử hành biểu thị trước cách rõ ràng hơn nền Phụng vụ Thiên quốc, đang được hoàn tất trong thành Jérusalem mới.

Vì thế các vị chủ chăn phải làm hết sức mình để đạt tới hình thức cử hành đó. Ngay cả trong những buổi cử hành không kèm theo ca hát, nhưng có giáo dân tham dự, vẫn phải phân chia các chức vụ và vai trò, như khi cử hành có kèm theo ca hát, nhất là phải liệu cho có những Thừa tác viên cần thiết và có khả năng, cũng như lo cho giáo dân tham dự tích cực hơn.

Phải chuẩn bị thiết thực cho mỗi buổi cử hành trong tinh thần hợp tác giữa mọi người liên hệ, dưới quyền chỉ huy của vị quản nhiệm Thánh đường, về mặt nghi thức cũng như mục vụ âm nhạc.

Muốn tổ chức một buổi cử hành Phụng vụ cho đích đáng thì trước tiên phải phân chia và thi hành các chức vụ cho đúng, khiến mỗi thừa tác viên hay mỗi tín hữu, khi thi hành các chức vụ sẽ chỉ làm và làm hết những gì thuộc phận sự của mình thôi, chiếu theo bản tính của sự vật và những quy tắc của Phụng vụ (5). Những công việc tổ chức cũng đòi ta phải giữ đúng ý nghĩa và bản chất của mỗi phần và mỗi bài hát. Muốn đạt mục đích ấy thì phải hát thật sự, đặc biệt những bản văn nào đương nhiên cần hát, và phải tôn trọng thể loại cũng như hình thức của những bản văn đó, do bản tính chúng đòi hỏi.

Giữa những hình thức cử hành hoàn toàn long trọng mà trong đó tất cả những gì phải hát đều được hát, và hình thức đơn giản nhất không có ca hát, có thể có nhiều bậc khác nhau, vì như muốn dành cho ca hát một vị trí lớn hay nhỏ. Tuy nhiên trong khi chọn những bài để hát, phải dành ưu vị cho những bài do bản tính có phần quan trọng hơn: trước hết những phần Linh mục chủ sự hay Thừa tác viên hát và giáo dân thưa đáp; thứ đến những bài do Linh mục và giáo dân cùng hát ; sau đó mới thêm dần những bài chỉ dành riêng cho giáo dân, hoặc dành riêng cho ca đoàn.

Mỗi khi cử hành Phụng vụ mà cần hát thì có thể chọn người hát, ưu tiên cho những người có khả năng hơn về mặt ca hát; đặc biệt trong những buổi cử hành khá long trọng và có những bài hát khó hơn hay khi phải truyền thanh, truyền hình (6).

Nếu không chọn được người hát hay và nếu Linh mục hay Thừa tác viên không thể hát đúng thì vị đó có thể đọc mà không hát những bài phải hát, nếu bài ấy quá khó, nhưng phải đọc lớn tiếng và rõ ràng. Nhưng Linh mục hay Thừa tác viên không được làm như thế chỉ vì muốn tiện cho mình.

Để giúp tín hữu dễ tích cực tham gia phụng vụ có hiệu quả hơn thì trong mức độ có thể, nên thay đổi cách thích hợp những hình thức cử hành và mức độ tham dự, cũng lưu ý đến bậc lễ của ngày ấy và tầm quan trọng của cộng đoàn.

Nên nhớ rằng tính cách long trọng đích thực của một buổi cử hành Phụng vụ ít tùy thuộc vào hình thức ca hát cầu kỳ hay phô diễn các lễ nghi cho đẹp mắt, hơn là dựa vào phong cách cử hành sao cho xứng đáng, trang nghiêm và đạo đức. Phong cách này nhằm toàn bộ chính việc cử hành Phụng vụ, nghĩa là thực hành mọi phần lễ nghi theo bản tính của những phần ấy. Nơi nào có thể làm hay được, thì rất ước mong các nơi ấy trình bày một hình thức phong phú hơn về ca hát và đẹp mắt hơn về nghi lễ. Nhưng nếu bỏ qua, hoặc thay đổi hay cử hành không đúng cách một trong những yếu tố của lễ nghi Phụng vụ thì chẳng phải là long trọng đích thực nữa.

Chỉ Tòa Thánh mới có quyền thiết lập những nguyên tắc trọng yếu, tổng quát được xem như nền tảng của Thánh nhạc hợp với những quy tắc ban hành và đặc biệt hợp với hiến chế Phụng vụ. Các Hội đồng Giám mục địa phương có thẩm quyền và được thành lập hợp pháp, cũng như các Giám mục được quyền ra luật cho Thánh nhạc theo các giới hạn đã ấn định.

II. CÁC NGƯỜI CỬ HÀNH PHỤNG VỤ

Các lễ nghi Phụng vụ là những việc cử hành của Giáo hội, nghĩa là của Dân thánh, được quy tụ và tổ chức dưới quyền chủ tọa của Giám mục hay Linh mục. Trong các lễ nghi Phụng vụ, các người sau đây chiếm một vị trí đặc biệt: Linh mục và các Thừa tác viên, vì chức thánh của họ, rồi đến người đọc sách thánh, dẫn lễ và các người thuộc Ca đoàn, vì thừa tác vụ của họ.

Linh mục chủ tế chủ tọa cộng đoàn như người đại diện Đức Kitô. Những lời kinh Linh mục hát hay đọc cao giọng, mọi người phải kính cẩn, chăm chú lắng nghe, vì những lời đó được đọc lên nhân danh toàn thể Dân thánh và mọi người tham dự (10).

Các tín hữu chu toàn nhiệm vụ phụng vụ của mình, nhờ tham gia trọn vẹn, ý thức và tích cực, như bản chất của chính Phụng vụ đòi hỏi. Đó cũng là một quyền lợi và một bổn phận của dân Kitô giáo do Phép thánh tẩy đã lãnh nhận.

a. Sự tham gia này trước hết phải nội tại, nghĩa là các tín hữu phải kết hợp lòng trí mình với điều họ đọc hay nghe và cộng tác với ơn trên ban xuống (11).

b. Nhưng sự tham gia này cũng cần phải ngoại tại nữa, nghĩa là được biểu lộ ra bằng những câu tung hô, những lời đối đáp và những bài ca (12). Cũng phải giáo dục cho tín hữu biết kết hợp lòng trí họ với những gì Thừa tác viên hay ca đoàn hát để khi nghe thì họ nâng tâm hồn lên cùng Chúa.

Thật sự, không có gì tưng bừng và vui vẻ hơn trong một buổi cử hành Phụng vụ mà toàn thể cộng đoàn biểu lộ đức tin và lòng đạo đức của mình ra bằng lời ca tiếng hát. Bởi vậy, sự tham gia linh động của toàn thể giáo dân bằng lời ca tiếng hát phải được triển khai kỹ lưởng theo thứ tự sau đây:

a. Việc tham gia này trước hết gồm có những lời tung hô, những câu đáp lại lời chào của linh mục hay thừa tác viên, hoặc đáp lại lời kinh dưới hình thức đối đáp; ngoài ra lại có những câu tiền xướng và những Thánh vịnh cũng như những câu xướng xen kẽ, hoặc những điệp ca, những Thánh thi và Thánh ca (13).

b. Nhờ một nền giáo huấn thích hợp và những buổi thực tập, dần dần sẽ đưa giáo dân tới chỗ hát những bài dành cho họ, cho đến khi họ tham dự hoàn toàn.

c. Tuy nhiên, nếu giáo dân chưa được tập luyện đủ, và nếu dùng những bài hát nhiều bè, thì có thể giao một số bài hát của cộng đoàn cho nguyên Ca đoàn thôi, miễn là không loại ra, không cho hát những phần dành cho họ. Nhưng không được chấp nhận thói quen giao hết cho một mình Ca đoàn hát, phần riêng và phần thường lễ mà loại hẳn không cho cộng đoàn hát.

Cũng phải giữ nghiêm trang thinh lặng (15) vào đúng lúc. Quả thật, nhờ sự thinh lặng đó, người tín hữu không chỉ tham dự các lễ nghi Phụng vụ như khán giả câm nín và xa lạ, nhưng kết hợp mật thiết hơn với mầu nhiệm đang cử hành, nhờ tình trạng nội tâm phát sinh khi nghe Lời Chúa, nghe hát và nghe đọc lời nguyện, và nhờ sự kết hợp thiêng liêng với chủ sự, khi vị này đọc những phần dành riêng cho mình.

Trong số tín hữu, các hội viên của các tu hội đời, phải được huấn luyện đặc biệt kỹ càng về ca hát, để họ có thể giữ một vai trò tích cực, nâng đỡ và giúp các giáo dân tham dự nhiều hơn nữa (16).

Phải nghiêm túc và kiên trì huấn luyện ca hát cho toàn thể giáo dân cùng một lúc với việc huấn luyện Phụng vụ, tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh, nếp sống và trình độ kiến thức tôn giáo của họ. Những năm huấn luyện đầu tiên nên khởi sự ở cấp sơ đẳng (17).

Vì vai trò Phụng vụ phải chu toàn, nên Ca đoàn hoặc “Ban hát nhà nguyện”, hoặc “Nhóm ca viên” cần được lưu tâm đặc biệt. Nhiệm vụ của Ca đoàn càng thêm quan trọng và giá trị sau những quyết định của Công đồng về việc cải tổ Phụng vụ. Quả thế, Ca đoàn có bổn phận phải hát đúng những phần dành riêng cho mình tùy theo các loại bài hát, và giúp tín hữu tham gia tích cực vào việc ca hát. Do đó:

a. Phải có một “Ca đoàn” hoặc những “Ban hát nhà nguyện” hoặc các “Nhóm ca viên” và phải nghiêm túc phát triển những ban đó, nhất là ở các Nhà thờ Chánh tòa và các Đại thánh đường khác cũng như trong các Chủng viện và Học viện.

b. Trong các Thánh đường nhỏ cũng nên thành lập những Ca đoàn như vậy, dù dưới hình thức khiêm tốn.

Những “Ban hát nhà nguyện” vốn có sẵn ở những Vương cung Thánh đường, các Nhà thờ Chánh tòa, các Đan viện và các Đại giáo đường khác, đã tạo được tiếng tăm lừng lẫy qua bao thế kỷ, vì đã gìn giữ và vun trồng một kho tàng âm nhạc giá trị vô song. Phải duy trì những Ban đó theo các quy tắc riêng và cổ truyền của chúng, và các Đấng bản quyền địa phương nên thừa nhận, để làm cho việc cử hành các lễ nghi Phụng vụ thêm tốt đẹp. Các vị quản nhiệm nhà thờ và chưởng sự các thánh đường nên liệu cho giáo dân luôn luôn tham gia ca hát ít là những bài dễ hát dành riêng cho họ.

Nơi nào thiếu phương tiện để thành lập một Ca đoàn khiêm tốn, thì phải liệu cho có ít nhất một hoặc hai ca viên được huấn luyện vừa đủ. Ca viên đó phải có thể xướng lên một vài bài đơn giản cho dân chúng tham gia, đồng thời cũng phải biết điều khiển và yễm trợ chính các tín hữu đó nữa.

Trong những nhà thờ đã có sẵn một Ca đoàn, cũng nên có một ca viên như thế, nhằm khi cử hành Phụng vụ, mà Ca đoàn không giúp được, thì cũng có thể cử hành cách long trọng nào đó khi có bài hát xen vào.

Tùy theo tập quán của mỗi quốc gia, và tùy theo những trường hợp khác nữa, nhóm ca viên có thể gồm hoặc nam giới và thiếu nhi, hoặc chỉ toàn là nam giới, hoặc chỉ toàn thiếu nhi, hoặc nam giới và nữ giới, hoặc nơi nào hoàn cảnh đòi hỏi thực sự, chỉ có nữ giới mà thôi.

Tùy cách xếp đặt mỗi nhà thờ, nhóm ca viên sẽ được xếp chỗ thế nào:

a. Để cho bản tính của ca đoàn được tỏ hiện, nghĩa là Ca đoàn là thành phần của cộng đoàn tín hữu và chu toàn một nhiệm vụ đặc biệt.

b. Để ca viên có thể chu toàn cách tốt nhất chức năng phụng vụ của mình (18).

c. Để mỗi người trong nhóm có thể dễ dàng tham dự đầy đủ thánh lễ, nhờ việc rước lễ.

Khi Ca đoàn gồm phái nữ thì phải xếp ngoài gian thánh.

Ngoài việc huấn luyện về âm nhạc, cũng phải lo cho các ca viên được huấn luyện tương xứng về phụng vụ và đạo đức, ngõ hầu khi chu toàn chức năng Phụng vụ của mình, chẳng những họ sẽ làm cho các buổi cử hành nghi lễ thêm đẹp, và đem lại cho tín hữu một tấm gương tốt, mà chính họ cũng được lợi ích thực sự về đường thiêng liêng nữa.

Để thực hiện dễ dàng hơn việc huấn luyện đó, về mặt kỹ thuật cũng như đạo đức, các Hiệp hội Thánh nhạc Giáo phận, quốc gia hay quốc tế, nhất là những Hiệp hội đã được Tòa Thánh công nhận và nhiều lần giới thiệu phải góp phần hợp tác.

Linh mục chủ tế, các Thừa tác viên có chức thánh và các người giúp lễ, người đọc sách thánh, các người thuộc nhóm ca viên, cũng như người dẫn lễ, phải đọc thật rõ ràng các bản văn đã chỉ định, ngõ hầu dân chúng có thể thưa đáp dễ dàng và tự nhiên khi nghi thức đòi hỏi.

Linh mục chủ tế và các Thừa tác viên thuộc mọi cấp nên hát với giáo dân và toàn thể cộng đồng tín hữu khi họ cùng hát (19).

III. HÁT KHI CỬ HÀNH THÁNH LỄ

Khi cử hành Thánh lễ có giáo dân tham dự, nhất là những ngày Chúa nhật và ngày Lễ trọng, nên hết sức coi trọng hình thức lễ hát hơn, dù cử hành nhiều lần trong cùng một ngày.

Phải phân biệt lễ trọng, lễ hát và lễ đọc, như đã ấn định trong Huấn thị năm 1958 (3), chiếu theo các luật Phụng vụ hiện hành. Tuy nhiên, vì lý do lợi ích mục vụ, có thể đề ra những cấp bậc tham gia lễ hát, ngõ hầu từ nay về sau, mỗi cộng đoàn, tùy phương tiện sẵn có, dễ dàng cử hành thánh lễ trọng thể hơn nhờ ca hát.

Cách sử dụng các cấp bậc tham gia được quy định như sau: bậc I có thể dùng riêng một mình; bậc II và III chỉ được dùng tất cả hay một phần chung với bậc I. Như vậy, các tín hữu sẽ luôn luôn được khuyến khích dự phần ca hát một cách đầy đủ.

Bậc NHẤT gồm có:

a. Trong nghi thức nhập lễ:

- Lời chào của linh mục và lời đáp của giáo dân.

- Lời nguyện.

b. Trong phần Phụng vụ Lời Chúa:

- Các câu tung hô Tin mừng.

c. Trong phần Phụng vụ Thánh Thể:

- Lời nguyện tiến lễ.

- Kinh Tiền tụng với những câu đối đáp và kinh “Thánh, Thánh, Thánh”.

- Lời tụng ca kết thúc kinh Tạ ơn.

- Kinh Lạy Cha, với lời nhắn nhủ và lời cầu nguyện tiếp.

- Lời chúc bình an.

- Lời nguyện hiệp lễ.

- Những công thức kết lễ.

Bậc HAI gồm:

- Kinh Xin Chúa thương xót, Vinh danh và Lạy Chiên Thiên Chúa.

- Kinh Tin kính.

- Lời nguyện giáo dân.

Bậc BA gồm:

- Những bài hát lúc nhập lễ và rước lễ.

- Bài hát sau bài đọc hoặc thánh thư.

- Alleluia trước khi đọc Tin mừng.

- Bài hát tiến lễ.

- Các bài đọc Sách Thánh, trừ khi thấy nên đọc hơn hát.

Tại một vài nơi được đặc quyền, thường dùng những bài hát khác thay thế các bài ca nhập lễ, tiến lễ và hiệp lễ, trong sách “Graduale”. Có thể giữ như thế tùy phán quyết của đấng Bản quyền địa phương, miễn là những bài hát đó hợp với các phần trong thánh lễ, và ngày lễ, cũng như mùa Phụng vụ. Thẩm quyền địa phương phải phê chuẩn lời ca những bài hát đó.

Cộng đoàn tín hữu nên hết sức tham gia hát phần riêng lễ. Điều ấy có thể thực hiện được, nhất là khi có những điệp khúc dễ hát và những hình thức âm nhạc thích hợp.

Trong những bài hát phần riêng lễ, thì bài hát sau các bài đọc, dưới hình thức Đáp ca (Thánh vịnh xướng đáp), có tầm quan trọng đặc biệt. Tự bản chất, bài ca nầy là thành phần của Phụng vụ Lời Chúa, nên phải được hát lên, đang khi mọi người ngồi nghe và nên hết sức cùng hát để tham gia.

Những bài hát gọi là “Phần thường lễ”, nếu là những bài tạ ơn, có thể giao cho Ca đoàn hát theo những tiêu chuẩn thông thường, có hay không có nhạc khí phụ họa, miễn là giáo dân không bị hoàn toàn loại ra ngoài, không được ca hát gì.

Trong các trường hợp khác, những bài trong Phần Thường lễ có thể chia cho Ca đoàn và giáo dân, hoặc chia cho hai phía giáo dân, có thể hát luân phiên từng câu thích hợp, hoặc từng khúc trong toàn thể bản văn đã thành những khúc quan trọng hơn.

Trong những trường hợp đó, vẫn nên nhớ các điều sau đây:

- Đức tin: mọi người nên hát kinh Tin kính, vì đó là công thức tuyên xưng đức tin, hay làm cách nào khác để có thể tham dự cách thích hợp.

- Kinh “Thánh, Thánh, Thánh” vì đó là Kinh tung hô kết thúc Bài tiền tụng. Toàn thể cộng đoàn thường nên hát kinh “Thánh, Thánh, Thánh” với Linh mục.

- Kinh “Chiên Thiên Chúa”. Có thể hát đi hát lại bao nhiêu lần tùy tiện, đang lúc bẻ bánh, đặc biệt trong thánh lễ đồng tế; nên để cho giáo dân cùng hát, ít là lời cầu khẩn cuối cùng.

Thường thường giáo dân cùng đọc kinh Lạy Cha với Linh mục (20). Nếu hát bằng La-ngữ thì nên dùng giai điệu chính thức đã có sẵn. Nếu hát bằng tiếng bản xứ, thì cung điệu phải được thẩm quyền địa phương phê chuẩn.

Trong thánh lễ đọc, có thể hát một vài Phần Thường lễ, hay lễ riêng. Hơn nữa, đôi khi có thể hát một bài khác lúc nhập lễ, tiến lễ và hiệp lễ, cũng như kết lễ; tuy nhiên nếu chỉ có tính cách hợp thánh lễ thì chưa đủ, mà còn phải hợp với các phần lễ, ngày lễ hoặc mùa Phụng vụ.

Hát kinh Phụng vụ là một hình thức thích hợp nhất với bản tính của kinh nầy. Cách thế đó diễn tả đặc tính long trọng của kinh Phụng vụ một cách đầy đủ nhất và biểu lộ sự kết hợp sâu xa giữa các tâm hồn trong việc ca tụng Chúa. Vì vậy, thể theo nguyện ước của Hiến chế Phụng vụ (21) những ai hát Kinh Phụng vụ ở ca tòa hay đọc chung với nhau, rất nên sử dụng hình thức hát kinh nầy.

Nên hát ít là một phần Kinh Phụng vụ bắt đầu từ những giờ chính. Kinh Sáng và Kinh Chiều, ít là vào các ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng. Nhưng cũng có những giáo sĩ khác, vì sống chung để học hành, hay họp nhau vào những dịp tĩnh tâm, hay hội nghị, mà hát những phần của Kinh Phụng vụ thì sẽ làm cho các buổi họp của mình được nhiều lợi ích về đường thiêng liêng.

Khi hát Kinh Phụng vụ, trừ luật còn hiệu lực đối với những ai buộc phải hát kinh ở Ca tòa, và những ơn đặc miễn, có thể theo nguyên tắc long trọng hóa tiệm tiến, nghĩa là trước tiên hát những phần tự bản chất đòi phải hát, như Xướng đáp, Thánh thi, Thánh ca; phần còn lại thì đọc.

Nên thúc đẩy các tín hữu đọc chung vào những ngày Chúa nhật và lễ trọng một vài phần Kinh Phụng vụ, đặc biệt giờ Kinh Chiều hoặc những giờ kinh khác, tùy theo tập quán của địa phương và cộng đoàn, nhờ các bài giảng dạy và hướng dẫn thích hợp. Cách chung, nên hướng dẫn và huấn luyện các tín hữu nhất là những người có học hơn cho họ biết dùng những Thánh vịnh theo tinh thần Kitô giáo, khi họ cầu nguyện; như vậy, dần dần họ sẽ đi tới chỗ thưởng thức và làm quen với kinh nguyện của Hội Thánh.

Cũng nên để cho các phần tử các Dòng tu giữ ba lời khuyên Phúc âm được hưởng nhờ nền huấn luyện này cách đặc biệt, ngõ hầu rút ra được những nguồn phong phú dồi dào làm phát triển đời sống thiêng liêng của họ.

Nếu có thể được, nên hát khi cử hành những giờ kinh chính để tham dự đầy đủ kinh nguyện của Hội thánh, trong những phần đặc biệt của Năm Phụng vụ, trong những lúc cử hành Lời Chúa và trong những việc đạo đức, thánh thiện.

V. ÂM NHẠC TRONG KHI CỬ HÀNH CÁC BÍ TÍCH VÀ Á BÍ TÍCH

Theo đúng Hiến chế Phụng vụ, và truyền thống nghìn đời của nghi lễ Latinh, các giáo sĩ phải dùng La-ngữ để hát hay đọc kinh Phụng vụ ở ca tòa (22).

Nhưng vì Hiến chế có ban đặc ân dùng tiếng bản quốc cho tín hữu đọc Kinh Phụng vụ, cũng như cho các nữ đan sĩ, và những phần tử khác của các tu hội có lời khấn không phải là giáo sĩ, nên phải cố soạn những cung điệu để dùng khi hát Kinh Phụng vụ bằng tiếng bản quốc.

Như Công đồng đã tuyên bố, mỗi khi các nghi thức - chiếu theo bản chất đặc biệt của mỗi nghi thức - cần được cử hành chung với sự tham dự đông đảo và tích cực của tín hữu, thì nên trong hình thức cử hành chung hơn là cử hành cá nhân và gần như riêng tư (23). Bởi vậy, theo nguyên tắc nầy thì ca hát là hợp lý, vì như thế người ta sẽ thấy rõ được tính cách “Giáo hội” trong buổi cử hành.

Vậy, nên hết sức cử hành kèm theo ca hát các Bí tích và Á Bí tích có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của cộng đồng xứ đạo, như các lễ Thêm Sức, Truyền chức thánh, Hôn phối, Cung hiến thánh đường hay bàn thờ, lễ An táng… Tính cách lễ lạc của các nghi thức đó sẽ giúp cho việc mục vụ hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, phải cẩn thận giữ sao đừng để cho vì vẻ long trọng bên ngoài mà xen vào những chuyện hoàn toàn thế tục, hay không thích hợp với sự thờ phượng Thiên Chúa, nhất là khi cử hành các lễ Hôn phối.

Trong những lễ nghi Phụng vụ có ca hát cử hành bằng tiếng La-tinh thì:

VII. SOẠN THẢO CÁC CUNG ĐIỆU CHO NHỮNG BẢN VĂN BẰNG TIẾNG BẢN QUỐC

VIII. THÁNH NHẠC DÙNG CHO NHẠC KHÍ