SẮC LỆNH VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI – AD GENTES – BAN HÀNH NGÀY 18/11/1965.
Sắc Lệnh Về Hoạt Đông Truyền Giáo Của Giáo Hội – Ad Gentes – 18/11/1965
PHAO-LÔ GIÁM MỤC
TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA
HỢP NHẤT VỚI CÁC NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG
ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ
SẮC LỆNH VỀ HOẠT ĐÔNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI – AD GENTES
Ngày 18 tháng 11 năm 1965
Được Thiên Chúa sai đến với muôn dân để nên “bí tích cứu độ phổ quát”, () đồng thời vì những đòi hỏi căn bản của đặc tính công giáo và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập (x. Mc 16, () 6), Giáo Hội dành mọi nỗ lực để loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người. Thật vậy, chính các Tông Đồ, nền móng của Giáo Hội, đã theo chân Chúa Ki-tô, “rao giảng lời chân lý và khai sinh các giáo đoàn”. () Những người kế vị các Tông Đồ có nhiệm vụ tiếp tục công việc này, để “lời Chúa được lan rộng và toả sáng” . () Ts 3, () ), để Nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian.
Nhưng tình trạng thế giới hiện nay đặt nhân loại trong một hoàn cảnh mới, vì thế Giáo Hội, là muối đất và ánh sáng trần gian (x Mt 5,13-14), càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài thụ tạo, để mọi sự được tái lập trong Chúa Ki-tô, và nơi Ngài mọi người họp thành một gia đình và một đoàn dân duy nhất của Thiên Chúa.
Bởi vậy, trong tâm tình cảm tạ Thiên Chúa vì những kỳ công mà toàn thể Giáo Hội đã nhiệt thành quảng đại thực hiện, Thánh Công Đồng muốn vạch ra những nguyên tắc hoạt động truyền giáo và tập trung năng lực của toàn thể các tín hữu, để khi dấn thân bước trên lối đường hẹp của thập giá, Dân Chúa mở rộng vương quyền Chúa Ki-tô, là Chúa và là Đấng nhìn thấu muôn thời đại (x Hc 36,19) đồng thời dọn đường cho Người ngự đến.
CHƯƠNG I: GIÁO THUYẾT CĂN BẢN
Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là người được sai đi, vì chính Giáo Hội được khởi sinh từ việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần được sai đến theo ý định của Thiên Chúa Cha. ()
Ý định này tuôn trào từ “mạch suối yêu thương” nghĩa là tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng chính là Cội nguồn nguyên thủy, bởi Ngài Chúa Con được sinh ra, và cũng bởi Ngài và nhờ Chúa Con mà phát xuất Chúa Thánh Thần, cũng là Đấng vì lòng nhân từ thương xót vô biên nên khi tạo dựng và hơn nữa khi ưu ái mời gọi chúng ta tham dự vào sự sống và vinh quang của Ngài, đã rộng rãi tuôn đổ và còn không ngừng tuôn đổ lòng nhân từ xuống cho chúng ta, đến độ Đấng tác tạo muôn loài lại trở nên “mọi sự trong mọi người” (1 Cr 15,28), để Ngài được vinh hiển và đồng thời chúng ta được hạnh phúc Tuy nhiên, Thiên Chúa muốn mời gọi mọi người tham dự vào sự sống của Ngài, không chỉ từng cá nhân không liên quan gì đến nhau, nhưng còn liên kết họ thành một đoàn dân duy nhất, trong đó con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi được quy tụ về một mối (x. Ga 11,52).
Ý định của Thiên Chúa muốn cứu rỗi toàn thể nhân loại không chỉ được thực hiện cách thầm kín trong tâm trí con người, hoặc bằng các tôn giáo như là phương thế để giúp con người tìm kiếm Thiên Chúa qua nhiều nẻo đường, may ra sẽ đến gần hoặc gặp được Ngài, mặc dù Ngài không ở xa mỗi người chúng ta (x. Cv 17,27); tuy nhiên những phương cách đó cần phải được soi dẫn và tu chỉnh, dù đôi khi, trong ý định nhân lành của Chúa Quan Phòng, cũng có thể được coi như những lối đường hướng về Thiên Chúa chân thật hoặc chuẩn bị cho Tin Mừng. () Nhưng để đem lại bình an trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, và để xây dựng một xã hội huynh đệ giữa những con người tội lỗi, Thiên Chúa đã quyết định đi vào lịch sử loài người theo một cách thức mới và mang tính tối hậu bằng cách sai Con của Ngài mặc lấy xác phàm, để nhờ Người, Ngài giải thoát nhân loại khỏi quyền lực tối tăm và Satan (x. Cl 1,13; Cv 10,38), đồng thời trong Người, Ngài hòa giải trần gian với chính mình (x. 2 Cr 5,19). Thật vậy, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ nhờ Chúa Con, () Ngài cũng đặt Người thừa hưởng muôn loài, để phục hồi vạn vật trong Người (x. Ep 1,10).
Chúa Giê-su Ki-tô được sai đến thế giới làm trung gian đích thực giữa Thiên Chúa và nhân loại Vì Người là Thiên Chúa, nên “nơi Người, cả thần tính trọn vẹn đã hoà nhập trong xác thể” (Cl 2,9); theo nhân tính, Người là Ađam mới, đầy ân sủng và chân lý (Ga 1,14), được đặt làm đầu nhân loại đã được đổi mới. Như thế, bằng con đường nhập thể đích thực, Con Thiên Chúa đã đến để làm cho loài người được thông phần vào bản tính Thiên Chúa, vốn giàu sang, Người đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, để lấy sự nghèo khó của Người làm cho chúng ta trở nên giàu có (2 Cr 8,9). Con Người không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người, nghĩa là mọi người (x. Mc 10,45). Các Thánh Giáo Phụ luôn quả quyết rằng sự gì không được Chúa Ki-tô nhận lấy thì không được cứu thoát. () Quả thật, Chúa Ki-tô đã nhận lấy trọn vẹn nhân tính của chúng ta là những kẻ khốn khổ và nghèo hèn, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4,15;9,28). Chúa Ki-tô, “Đấng được Chúa Cha thánh hóa và sai xuống trần gian” (x. Ga 19,. () ) đã nói về chính mình rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khó, chữa lành những tâm hồn đau khổ, loan báo sự giải thoát cho những người bị giam cầm và làm cho những kẻ đui mù được nhìn thấy” (Lc 4,18), và Người còn nói: “Con Người đến tìm kiếm và cứu vớt điều gì đã hư mất” (Lc 19,10).
Những gì Chúa đã một lần rao giảng hay đã thực hiện để cứu rỗi nhân loại, phải được công bố và loan truyền, bắt đầu từ Giêrusalem (Lc 24,47) cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8), như thế những gì đã được thực hiện chỉ một lần để cứu rỗi mọi người, sẽ có hiệu lực cho toàn thể nhân loại qua mọi thời đại
Để hoàn tất việc đó, Chúa Ki-tô đã cử Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha đến để thực hiện công trình cứu độ trong các tâm hồn và làm cho Giáo Hội tăng triển thêm mãi. Chắc chắn là Chúa Thánh Thần đã hành động nơi trần gian trước khi Chúa Ki-tô được vinh hiển, () nhưng trong ngày lễ Ngũ Tuần, Ngài đã ngự xuống trên các Tông Đồ để ở lại với họ luôn mãi (x. Ga. () ,16), Giáo Hội công khai xuất hiện trước dân chúng, Tin Mừng bắt đầu được phổ biến giữa muôn dân nhờ lời giảng dạy, và sau cùng sự hợp nhất các dân tộc trong đức tin công giáo được tiên báo, nhờ Giáo Hội của Tân Ước, một cộng đoàn có khả năng nói mọi thứ tiếng, thấu hiểu và tiếp nhận mọi ngôn ngữ trong tình bác ái, và như thế đã xóa bỏ tình trạng phân tán từ tháp Babel. () Thật vậy, “công vụ Tông đồ” bắt đầu từ ngày Hiện Xuống, như khi Chúa Thánh Thần đến ngự trên Trinh Nữ Ma-ri-a thì Chúa Ki-tô được thụ thai, và như khi Chúa Thánh Thần ngự trên Chúa Ki-tô lúc Người cầu nguyện thì Người được thúc đẩy bắt đầu thi hành chức vụ. () Chính Chúa Giê-su trước khi tự nguyện hiến mạng sống mình cho thế gian, đã xếp đặt tác vụ tông đồ và hứa sai Chúa Thánh Thần, làm cho cả hai liên kết với nhau để công trình cứu độ luôn luôn đem lại kết quả khắp nơi. () Qua mọi thời đại, Chúa Thánh Thần hợp nhất toàn thể Giáo Hội “trong tình hiệp thông và qua thừa tác vụ, ban phát các ơn phẩm trật và đặc sủng khác nhau”, () Ngài nên như linh hồn làm sống động các tổ chức trong Giáo Hội12 và đổ vào tâm hồn các tín hữu cũng chính tinh thần truyền giáo đã tác động nơi Chúa Ki-tô. Đôi khi Chúa Thánh Thần chuẩn bị cách tỏ tường cho hoạt động truyền giáo, () cũng như không ngừng dùng những phương thế khác nhau để hỗ trợ và hướng dẫn hoạt động ấy. ()
Ngay từ đầu, Chúa Giê-su “đã gọi đến với Người những kẻ Người muốn và lập thành nhóm mười hai để họ ở với Người và để Người sai họ đi rao giảng” (Mc 3,13). Như thế, các Tông Đồ là mầm mống của Israel mới, đồng thời cũng là nguồn gốc của hàng Giáo phẩm. Sau đó, khi Chúa Giê-su đã một lần hoàn tất nơi Người những mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta và canh tân vũ trụ bằng cái chết và sự sống lại, khi đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28,18) và trước khi về trời (x. Cv 1,11), Người đã thiết lập Giáo Hội nên như bí tích cứu độ, và sai các Tông Đồ đi khắp thế gian như chính Người đã được Chúa Cha sai đi (x. Ga 20,21): “Vậy các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ tất cả những điều Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28,19-20). “Các con hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,15). Do đó, Giáo Hội có nhiệm vụ truyền bá đức tin và ơn cứu rỗi nhờ Chúa Ki-tô, một đàng do sự uỷ thác rõ ràng của các Tông Đồ cho hàng Giám mục với sự tham dự của các linh mục, hợp nhất với Đấng kế vị thánh Phêrô cũng là Mục Tử Tối Cao của Giáo Hội, đàng khác do sự sống mà Chúa Ki-tô thông ban cho các chi thể, “nhờ Người, toàn thân thể được gắn liền và liên kết chặt chẽ với nhau nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng, mỗi chi thể hoạt động tuỳ theo chức năng của mình, làm cho toàn thân triển nở và được xây dựng trong đức ái” (Ep 4,16). Vì thế, khi vâng lệnh Chúa Ki-tô đồng thời được ân sủng và tình yêu của Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Giáo Hội thực thi sứ mệnh bằng cách hoạt động để hoàn toàn trở nên thực sự hiện diện cho tất cả mọi người và mọi dân tộc, để nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy, các bí tích và những phương thế trao ban ân sủng khác, Giáo Hội dẫn đưa họ đến với đức tin, đến với ơn giải thoát và sự bình an của Chúa Ki-tô, nhờ đó mở ra con đường rộng thoáng và vững chắc giúp họ tham dự trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Ki-tô.
Vì sứ mệnh này tiếp nối và triển khai qua dòng lịch sử sứ mệnh của chính Chúa Ki-tô, Đấng đã được sai đến rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, nên Giáo Hội được Thánh Thần Chúa Ki-tô thúc đẩy, cũng phải tiến bước trên chính con đường mà Chúa Ki-tô đã đi, là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến thân cho đến nỗi sẵn lòng chịu chết, để rồi toàn thắng nhờ sự sống lại của Người Chính các Tông Đồ cũng đã bước đi trên con đường đó trong niềm hy vọng, đã chịu nhiều bách hại và đau khổ để làm trọn những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn mà Chúa Ki-tô đã chịu vì thân thể Người là Giáo Hội (x. Cl 1,24). Và máu tử đạo thường lại là hạt giống trổ sinh các Ki-tô hữu. ()
Đây chính là phận vụ mà hàng Giám mục, cùng với người đứng đầu là Đấng kế vị thánh Phêrô, phải chu toàn nhờ vào lời cầu nguyện và sự cộng tác của toàn thể Giáo Hội, tại bất cứ nơi đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có thể điều kiện không cho phép thi hành theo cùng một cách thức như nhau. Như thế, những khác biệt vẫn thấy trong hoạt động của Giáo Hội không phát sinh từ bản chất của sứ mệnh, nhưng từ những hoàn cảnh gặp phải khi thực thi công cuộc truyền giáo.
Những hoàn cảnh đó phát sinh hoặc do Giáo Hội, hoặc do các dân tộc, các cộng đồng, hay những người là đối tượng của hoạt động truyền giáo Thật vậy, mặc dù nơi chính Giáo Hội đã có tất cả và đầy đủ mọi phương thế mang ơn cứu rỗi, tuy nhiên không phải lúc nào Giáo Hội cũng hành động hay có thể hành động tức khắc theo những phương thế đó, nhưng phải qua những bước đầu dò dẫm, rồi tùy theo các giai đoạn mà hành động, để cố gắng thực hiện hữu hiệu ý định của Thiên Chúa; hơn nữa, đôi lúc sau khi có những tiến bộ tốt đẹp ban đầu, Giáo Hội lại phải đau đớn lùi bước, hay ít ra dừng lại trong một tình trạng chưa được như mong muốn. Giáo Hội tiếp xúc và thấm nhập dần dần những gì liên quan đến con người, các cộng đồng hay dân tộc, để tiếp nhận họ trong ơn phúc viên mãn dành cho mọi người. Những hành động riêng tư hay những phương thức thích nghi phải tương xứng với từng hoàn cảnh hay từng đối tượng.
Được gọi chung là “việc truyền giáo” tất cả những hoạt động đặc biệt qua đó Giáo Hội sai những người loan báo Tin Mừng đi khắp thế gian để thực hiện phận vụ rao giảng Phúc Âm, và gầy dựng Giáo Hội nơi các dân tộc, hoặc nơi những cộng đồng chưa tin vào Chúa Ki-tô; việc truyền giáo được thực thi nhờ hoạt động của các vị thừa sai, và phần lớn được thực hiện trong những địa hạt nhất định đã được Tòa Thánh công nhận Mục đích riêng của việc truyền giáo là rao giảng Tin Mừng và gầy dựng Giáo Hội nơi các dân tộc hay những cộng đồng chưa có sự hiện diện của Giáo Hội. () Mục đích là làm cho các Giáo đoàn, hình thành từ hạt giống Lời Chúa, được tăng trưởng khắp nơi trên thế giới, có được khả năng tự túc và trưởng thành, các Giáo Hội địa phương ấy, với hàng Giáo phẩm riêng cùng với cộng đoàn tín hữu và những phương tiện thích hợp để sống cuộc đời Ki-tô hữu, sẽ góp phần vào lợi ích của toàn thể Giáo Hội. Phương tiện chủ yếu để gầy dựng các Giáo đoàn này là việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su Ki-tô, chính vì vậy mà Chúa đã sai các môn đệ đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng, để những người đã được tái sinh do lời Thiên Chúa (x. 1 Pr 1,23), sẽ nhờ bí tích Thánh Tẩy mà gia nhập Giáo Hội, chính là thân mình của Ngôi Lời nhập thể, được nuôi dưỡng và sống nhờ lời Chúa và bánh Thánh thể (x. Cv 2,42).
Trong hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, có nhiều giai đoạn đôi khi hòa lẫn vào nhau: trước hết là giai đoạn khởi lập hay gieo trồng, sau đó là thời kỳ sơ khai hay non trẻ Tuy nhiên, khi trải qua các giai đoạn đó rồi, hoạt động truyền giáo của Giáo Hội vẫn không ngưng nghỉ, trái lại, các Giáo đoàn địa phương vừa được thiết lập có nhiệm vụ tiếp tục hoạt động truyền giáo và rao giảng Tin Mừng cho những người đang còn ở bên ngoài Giáo Hội.
Ngoài ra, nơi những cộng đồng mà Giáo Hội đang hiện diện, cũng thường xảy ra những chuyển biến sâu xa vì nhiều lý do khác nhau, đưa đến những hoàn cảnh xã hội cũng hoàn toàn đổi khác Khi ấy Giáo Hội sẽ nghiệm xét về nhu cầu tái truyền giáo cho những nơi đó. Hơn nữa, đôi khi có những hoàn cảnh gây trở ngại trong một thời gian việc thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cách trực tiếp và tức thời: lúc đó, các nhà truyền giáo có thể và phải luôn tin tưởng phó thác để kiên trì, khôn ngoan làm chứng cho Chúa Ki-tô, ít nữa là bằng các việc bác ái và từ thiện, đó cũng là một cách dọn đường cho Chúa và giới thiệu về Người.
Như thế, rõ ràng là hoạt động truyền giáo gắn liền mật thiết với bản chất của Giáo Hội, hoạt động đó truyền bá đức tin mang ơn cứu rỗi, mở rộng để đưa đến thành toàn sự hợp nhất mang tính công giáo, được nâng đỡ bởi tính cách tông truyền, thể hiện ý nghĩa cộng đoàn của hàng Giáo phẩm, làm chứng, truyền đạt và làm tăng triển sự thánh thiện của Giáo Hội Như thế, hoạt động truyền giáo giữa muôn dân khác với hoạt động mục vụ dành cho các tín hữu và cũng khác với công cuộc tái lập sự hợp nhất các Ki-tô hữu. Tuy nhiên, cả hai việc này lại liên quan rất nhiều đến nhiệt tâm truyền giáo của Giáo Hội17 : thật vậy, sự phân rẽ giữa các Ki-tô hữu gây tổn hại cho sứ mệnh rất cao cả là rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, () và còn khép kín con đường đưa tới đức tin đối với nhiều người. Do đó, vì sứ mệnh truyền giáo đòi hỏi, tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội đều được kêu gọi quy tụ vào một đoàn chiên duy nhất, và như thế họ có thể cùng nhau làm chứng về Chúa Ki-tô, Chúa của họ, trước mặt muôn dân. Nếu chưa có thể làm chứng đầy đủ về một đức tin duy nhất, ít ra họ phải thể hiện sự quý trọng và tình yêu thương nhau.
Lý do của hoạt động truyền giáo gắn liền với ý định của Thiên Chúa, Đấng “muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, một trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, đó là một con người, Chúa Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1 Tm 2,4-6), “và không có ơn cứu độ nơi một người nào khác” (Cv 4,12). Vì thế, khi đã nhận biết Chúa Ki-tô nhờ lời Giáo Hội giảng dạy, mọi người phải thống hối và chịu phép Rửa Tội để được thuộc về Người và Giáo Hội là Thân Thể Người. Thật vậy, “khi minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và của phép Thánh Tẩy (x. Mc 16,16; Ga 3,5), Chúa Ki-tô đã cùng lúc xác nhận sự cần thiết của Giáo Hội mà mọi người phải bước vào qua khung cửa bí tích Thánh Tẩy. Vì thế, những ai đã biết Giáo Hội Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giê-su Ki-tô như phương tiện cứu rỗi cần thiết, mà vẫn không muốn gia nhập hoặc trung thành sống trong Giáo Hội thì không thể được cứu rỗi”. () Như vậy, tuy dù Thiên Chúa có thể dùng những đường lối chỉ riêng Ngài biết để đưa những kẻ không vì lỗi mình mà chưa nhận được Tin Mừng đến với đức tin, vốn rất cần thiết để làm đẹp lòng Ngài (x. Dt 11,6), nhưng Giáo Hội có bổn phận, đồng thời cũng được Chúa trao quyền loan báo Tin Mừng, do đó, hoạt động truyền giáo hôm nay và mãi mãi vẫn luôn thật sự cấp bách và cần thiết.
Nhờ hoạt động truyền giáo, Nhiệm Thể Chúa Ki-tô không ngừng liên kết và phối hợp mọi năng lực giúp cho toàn thân được tăng trưởng (x Ep 4,11-16). Để thực thi công cuộc truyền giáo, các chi thể của Giáo Hội phải được đức ái thúc đẩy, nhờ đó họ yêu mến Thiên Chúa và ước ao chia sẻ cho mọi người các ơn phúc thiêng liêng đời này cũng như đời sau.
Hoạt động truyền giáo được thực thi trong thời gian giữa hai lần Chúa đến; và khi Chúa đến lần thứ hai, Giáo Hội ví như mùa lúa được thu gặt từ bốn phương trời đưa vào Nước Chúa. () Thật vậy, trước khi Chúa đến, Tin Mừng phải được rao giảng cho mọi dân tộc (x. Mc 13,10).
CHƯƠNG II: CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
MỤC 1: CHỨNG TỪ KITÔ HỮU
Tuy nhiên, Giáo Hội không bao giờ muốn can dự vào việc cai trị xã hội trần gian Giáo Hội không đòi cho mình một quyền hành nào khác ngoài quyền phục vụ nhân loại – với ơn Chúa giúp – trong tình bác ái và trung thành phụng sự (x. Mt 20,26; 23,11). ()
MỤC 2: RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ QUY TỤ DÂN CHÚA
Giáo Hội cấm ngặt không ai được ép buộc hay dùng những cách thức bất chính để dụ dỗ hay lôi kéo người khác theo đạo, đồng thời cũng cương quyết đòi cho con người quyền không bị hăm dọa để bỏ đạo vì những bách hại bất công30
MỤC 3: VIỆC THÀNH LẬP CỘNG ĐOÀN KI-TÔ GIÁO
CHƯƠNG VI: SỰ CỘNG TÁC