Sắc Lệnh Về Việc Thích Nghi Canh Tân Đời Sống Tu Trì – Perfectae Caritatis – Ban hành ngày 28/10/1965.
Sắc Lệnh Về Việc Thích Nghi Canh Tân Đời Sống Tu Trì – Perfectae Caritatis – 28/10/1965
PHAO-LÔ GIÁM MỤC
TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA
HỢP NHẤT VỚI CÁC NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG
ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ
SẮC LỆNH VỀ VIỆC THÍCH NGHI CANH TÂN ĐỜI SỐNG TU TRÌ – PERFECTAE CARITATIS
Ngày 28 tháng 10 năm 1965
Trong Hiến chế mang tựa đề Ánh Sáng Muôn Dân, Thánh Công Đồng đã từng nêu rõ việc theo đuổi đức ái trọn hảo qua các lời khuyên Phúc Âm là công cuộc bắt nguồn từ giáo lý và gương sáng của Thầy Chí Thánh và tỏ hiện như một dấu chỉ chói ngời của Nước Trời. Giờ đây Thánh Công Đồng muốn bàn về đời sống và kỷ luật của các Hội dòng có hội viên khấn giữ trinh khiết, khó nghèo và vâng lời, cũng như tiên liệu những nhu cầu của các Hội dòng ấy theo những đòi hỏi của thời đại chúng ta.
Ngay từ thời sơ khai của Giáo Hội, đã có những người nam cũng như nữ, qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, quyết tự nguyện theo Chúa Ki-tô với một tinh thần tự do thanh thoát hơn, bắt chước Người cách trung thành hơn, và mỗi người một cách, tất cả đều sống tận hiến cho Thiên Chúa; trong số đó có nhiều người được Chúa Thánh Thần thúc đẩy nên đã theo đuổi đời sống cô liêu tịch mạc, hoặc lập ra những dòng tu đã được thẩm quyền Giáo Hội vui lòng đón nhận và phê chuẩn Từ đó, bởi thánh ý Thiên Chúa, nhiều cộng đoàn tu sĩ đã được thiết lập với sự phong phú lạ lùng, đã giúp cho Giáo Hội chẳng những được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành (x. 2 Tm 3,17) và sẵn sàng chu toàn nhiệm vụ kiến tạo Thân Thể Chúa Ki-tô (x. Ep 4,12), mà còn được điểm tô bằng những ân huệ khác nhau nơi đoàn con cái để nên như hiền thê trang điểm xinh đẹp ra mắt Đấng Lang Quân (x. Kh 21,2), và nhờ đó mà sự khôn ngoan thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa được tỏ hiện (x. Ep 3,10).
Giữa bao nhiêu ân huệ đa dạng ấy, tất cả những người được Thiên Chúa kêu gọi và đã tuyên khấn trung thành thực hành các lời khuyên Phúc Âm đều muốn hiến thân cho Chúa cách đặc biệt, khi noi gương Chúa Ki-tô, Đấng trinh khiết và khó nghèo (x Mt 8,20; Lc 9,58), đã cứu chuộc và thánh hóa nhân loại với thái độ vâng phục cho đến chết trên Thập giá (x. Pl 2,8). Được thúc đẩy bởi đức mến do Chúa Thánh Thần tuôn đổ trong lòng (x. Rm 5,5), họ càng ngày càng sống cho Chúa Ki-tô và Thân Thể Người là Giáo Hội (x. Cl 1,24). Bởi vậy, khi họ càng sốt sắng kết hiệp với Chúa Ki-tô qua việc hiến dâng trọn cả cuộc sống, thì đời sống Giáo Hội càng thêm phong phú và việc tông đồ của Giáo Hội càng đạt kết quả dồi dào hơn.
Để giá trị trổi vượt và nhiệm vụ khẩn thiết của cuộc sống đã được thánh hiến, qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm trong hoàn cảnh hiện tại đem lại nhiều ơn phúc lớn lao hơn cho Giáo Hội, Thánh Công Đồng quy định những điểm sau đây, liên quan đến các nguyên tắc tổng quát, nhằm thích nghi việc canh tân đời sống và kỷ luật các Hội dòng, cũng như các tu hội có đời sống chung nhưng không có lời khấn và cả các tu hội triều, tuy nhiên vẫn bảo toàn tính cách riêng biệt của mỗi tu hội Còn các tiêu chuẩn riêng để trình bày và áp dụng thích hợp các nguyên tắc chung ấy, sẽ được những cơ quan thẩm quyền hậu Công Đồng quy định.
Việc thích nghi công cuộc canh tân đời sống tu trì bao gồm cả sự liên tục trở về nguồn mạch của đời sống Ki-tô hữu và ơn linh hứng nguyên thủy của Hội dòng, cũng như sự thích nghi của Hội dòng với những hoàn cảnh đổi thay qua các thời đại. Phải xúc tiến việc canh tân ấy dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần và sự hướng dẫn của Giáo Hội theo các nguyên tắc sau đây:
a. Tiêu chuẩn tối hậu của đời tu trì là bước theo Chúa Ki-tô như Phúc Âm dạy, vì thế tất cả các Hội dòng phải coi tiêu chuẩn ấy như là quy luật tối thượng
b. Mỗi Hội dòng có đặc tính và phận vụ riêng nhằm mưu ích cho Giáo Hội, do đó, phải trung thành nhận thức và tuân giữ tinh thần cũng như ý hướng đặc biệt của các Đấng Sáng Lập, kể cả các truyền thống tốt đẹp, vì đó là những yếu tố tạo nên di sản của mỗi Hội dòng
c. Mọi Hội dòng đều phải tham gia vào đời sống Giáo Hội và tùy theo bản chất của mình mà thành tâm đón nhận và nhiệt tình cổ võ những sáng kiến và đề nghị của Giáo Hội trong lãnh vực Thánh Kinh, phụng vụ, tín lý, mục vụ, hiệp nhất, truyền giáo và xã hội
d. Các Hội dòng phải thúc đẩy các tu sĩ tìm hiểu thấu đáo về hiện trạng của con người, của thời thế và về các nhu cầu của Giáo Hội, để có thể nhận định cách khôn ngoan những hoàn cảnh của thế giới ngày nay trong ánh sáng đức tin và với nhiệt tâm truyền giáo, họ có thể nâng đỡ con người cách hữu hiệu hơn
e. Đời sống tu trì nhằm giúp các tu sĩ bước theo Chúa Ki-tô và kết hợp với Thiên Chúa nhờ khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm, do đó, phải luôn nhớ rằng những nỗ lực dù tốt đẹp nhất để thích nghi với các nhu cầu hiện đại cũng sẽ vô hiệu, nếu không được linh động nhờ sự canh tân đời sống thiêng liêng, vì đó là yếu tố bao giờ cũng giữ vai trò then chốt, ngay cả khi phải xúc tiến các hoạt động bên ngoài
Cách sống, cách cầu nguyện và hoạt động phải thích ứng với tình trạng thể lý và tâm lý của các tu sĩ, đồng thời, ở bất cứ nơi đâu, nhất là trong các xứ truyền giáo, tùy theo tính cách của mỗi dòng, cũng phải thích nghi với các nhu cầu tông đồ, những đòi hỏi văn hóa, những hoàn cảnh xã hội và kinh tế.
Cũng phải theo các tiêu chuẩn ấy để duyệt lại đường lối quản trị các dòng
Vì thế, phải duyệt lại hiến chương, sách chỉ dẫn, bản điều lệ, sách kinh và nghi thức cũng như các tài liệu tương tự, sao cho phù hợp với các văn kiện của Thánh Công Đồng này bằng cách bãi bỏ những qui tắc đã lỗi thời
Việc canh tân hữu hiệu và thích nghi đúng đắn chỉ có thể đạt được nhờ sự cộng tác của tất cả các tu sĩ trong dòng.
Tuy nhiên, việc ấn định các tiêu chuẩn và thiết lập các khoản luật về canh tân và thích nghi, cũng như việc đưa ra phương thức thử nghiệm đúng mức và thận trọng, phải là nhiệm vụ của các vị có thẩm quyền, nhất là của tổng tu nghị, và khi cần, phải có sự phê chuẩn của Tòa Thánh hoặc các Đấng Bản Quyền theo như giáo luật ấn định Phần các Bề trên, phải trao đổi cách thích đáng và lắng nghe ý kiến của các tu sĩ trong những vấn đề liên quan đến toàn thể Hội dòng.
Để thích nghi việc canh tân các đan viện nữ, có thể đón nhận nguyện vọng và ý kiến của các hội đồng liên viện, hoặc của các hội nghị được triệu tập hợp pháp
Tuy nhiên, mọi người hãy nhớ rằng trong công cuộc canh tân, phải đặt kỳ vọng vào việc trung thành tuân giữ qui luật và hiến chương hơn là vào việc đặt thêm luật mới
Tu sĩ của bất cứ Hội dòng nào cũng phải hiểu rằng họ đã đáp trả lời mời gọi của Chúa, chủ yếu qua việc tuyên khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm, vì thế, chẳng những họ phải chết đi cho tội lỗi (x. Rm 6,11), mà còn phải từ bỏ thế gian để sống cho một mình Thiên Chúa. Thật vậy, họ muốn dâng hiến trót cả cuộc đời để phụng sự Thiên Chúa, chính hành động ấy đã làm nên cuộc thánh hiến đặc biệt, gắn liền và thể hiện cách trọn hảo ơn thánh hiến của bí tích Thánh Tẩy.
Vì sự tự hiến của các tu sĩ được chính Giáo Hội tiếp nhận, nên họ phải biết rằng mình cũng đã được liên kết với sứ mệnh phục vụ của Giáo Hội
Việc phụng sự Thiên Chúa thúc bách và khích lệ họ thực hành các nhân đức, nhất là đức khiêm nhường và vâng phục, can đảm và khiết tịnh, nhờ đó họ tham dự vào sự tự hủy của Chúa Ki-tô (x Pl 2,7-8) cũng như vào sự sống của Người trong Thần Khí (x. Rm 8,1-13).
Khi trung thành với lời tuyên khấn và từ bỏ mọi sự vì Chúa Ki-tô, (x Mc 10, 28), các tu sĩ chọn bước theo Người (x. Mt 19, 21) như điều cần thiết duy nhất (x. Lc 10,42), bằng cách lắng nghe lời Người (x. Lc 10,39) và chuyên lo việc Chúa (x. 1 Cr 7,32).
Vì thế, tu sĩ của bất cứ Hội dòng nào, trong khi tìm kiếm duy chỉ một mình Thiên Chúa, đều phải liên kết việc chiêm niệm với nhiệt tâm truyền giáo, để nhờ chiêm niệm, họ kết hợp lòng trí với Thiên Chúa, và nhờ nhiệt tâm truyền giáo, họ tham gia công cuộc cứu thế và mở rộng Nước Chúa
Những ai khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm đều phải tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, Đấng đã yêu thương chúng ta trước (x. 1 Ga 4,10), và trong mọi hoàn cảnh, họ phải nỗ lực phát huy sự sống tiềm tàng với Chúa Ki-tô nơi Thiên Chúa (x. Cl 3,3), vì đó là nguồn mạch và động lực phát sinh tình yêu tha nhân nhằm cứu rỗi nhân loại và xây dựng Giáo Hội. Cũng chính tình yêu này tác động và hướng dẫn việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.
Vì thế, tu sĩ của các Hội dòng phải kín múc và chuyên tâm vun bồi tinh thần cầu nguyện cũng như chính lời cầu nguyện, từ nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Ki-tô giáo Trước hết, hằng ngày, phải có quyển Thánh Kinh trong tay, đọc và suy gẫm để học được “sự hiểu biết tuyệt vời về Đức Giê-su Ki-tô” (Pl 3,8). Họ phải cử hành Phụng vụ thánh, nhất là mầu nhiệm Thánh Thể, với cả tâm hồn và miệng lưỡi như ý Giáo Hội mong muốn, và tìm thấy nơi đó nguồn mạch phong phú nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng.
Được bổ sức nơi bàn tiệc luật Chúa và bàn thờ thánh thiêng, họ yêu thương các chi thể khác của Chúa Ki-tô như anh em, kính trọng và yêu mến các vị chủ chăn với tình con thảo; họ phải sống và đồng cảm với Giáo Hội ngày càng gắn bó hơn, đồng thời dấn thân thực thi sứ mệnh của Giáo Hội
Đối với những Hội dòng hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm, nơi đó các tu sĩ chỉ nhất tâm phụng sự một mình Thiên Chúa trong cô tịch và lặng lẽ, trong việc chuyên chăm cầu nguyện và vui sống đời khổ hạnh, thì cho dù nhu cầu hoạt động tông đồ lúc nào cũng khẩn thiết, những Hội dòng ấy vẫn luôn giữ một địa vị cao quí trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, trong đó, “các chi thể không có cùng một chức năng” (Rm 12,4). Thật vậy, các tu sĩ dâng lên Thiên Chúa hy lễ chúc tụng tuyệt hảo, trang điểm cho Dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho đoàn dân ấy thêm lớn mạnh nhờ kết quả phong phú tuy dù âm thầm trong sứ vụ tông đồ. Như thế, họ là vinh dự của Giáo Hội và là mạch tuôn trào các ơn thiêng. Tuy nhiên, cũng phải duyệt lại nếp sống của họ theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn về việc thích nghi canh tân như đã nói trên, trong khi vẫn phải tuyệt đối bảo toàn điều kiện cách biệt thế gian và những sinh hoạt đặc thù của đời chiêm niệm.
Trong Giáo Hội, có rất nhiều Hội dòng dành cho giáo sĩ hoặc giáo dân đang dấn thân làm các việc tông đồ khác nhau tùy theo ơn đã lãnh nhận: người được ơn phục vụ thì lo phục vụ, kẻ được ơn giảng dạy thì lo dạy bảo, người được ơn khuyên răn thì lo huấn dụ, người thì chân thành ban phát, người thì vui vẻ thể hiện tình thương (x. Rm 12,5-8). “Có nhiều ân sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí” (1 Cr 12,4).
Nơi những Hội dòng này, hoạt động tông đồ và từ thiện gắn liền với bản chất đời sống tu trì như một tác vụ thánh và như công trình đặc biệt của tình bác ái, do Giáo Hội ủy thác và được thi hành nhân danh Giáo Hội Bởi đó, toàn thể cuộc sống tu trì phải thấm nhuần tinh thần tông đồ và toàn thể hoạt động tông đồ phải được hình thành trong tinh thần tu trì. Để các tu sĩ đáp trả lời mời gọi bước theo và phục vụ Chúa Ki-tô trong các chi thể của Người, hoạt động tông đồ của họ phải được phát sinh từ cuộc sống kết hiệp mật thiết với Chúa Ki-tô, từ đó, lòng mến Chúa yêu người mới được triển nở.
Vì thế, các Hội dòng ấy hãy tìm cách thích nghi luật lệ và nếp sống riêng với các đòi hỏi của việc tông đồ đang chuyên trách Nhưng vì cuộc sống tu trì chuyên lo hoạt động tông đồ mang nhiều dạng thức khác nhau, nên trong việc thích nghi canh tân, cần xét đến tính cách khác biệt ấy, đồng thời cũng phải nâng đỡ nếp sống phục vụ Chúa Ki-tô của các tu sĩ trong các Hội dòng bằng những phương thế thích hợp với từng Hội dòng.
Phải trung thành duy trì và càng ngày càng làm sáng tỏ tinh thần đích thực của định chế đan tu khả kính ở Đông phương cũng như Tây phương, một định chế đã đóng góp nhiều công trạng to lớn suốt bao thế kỷ cho Giáo Hội cũng như cho cộng đồng nhân loại. Các đan sĩ chủ yếu đảm trách phận vụ tuy âm thầm nhưng cao quý là phụng sự Thiên Chúa trong nội vi đan viện, hoặc hoàn toàn hiến thân lo việc phụng tự trong nếp sống ẩn dật, hoặc phụ trách cách hợp pháp một số việc tông đồ hay công trình bác ái Ki-tô giáo. Vì thế, trong khi vẫn duy trì tính chất riêng biệt của mỗi dòng, họ cũng cần canh tân và thích nghi những truyền thống cổ kính tốt lành với những nhu cầu hiện nay của các linh hồn để đan viện nên như nơi vun trồng phát triển dân Ki-tô giáo.
Cũng vậy, các dòng có qui luật hay hiến chương liên kết chặt chẽ đời tông đồ với việc hát kinh nhật tụng và những luật lệ đan viện, hãy hòa hợp cách sống với các đòi hỏi của những việc tông đồ thích hợp, làm sao để vừa trung thành giữ được lối sống của mình vừa mang lại nhiều ơn phúc cho Giáo Hội
Đời sống tu trì dành cho giáo dân, nam cũng như nữ, mang đầy đủ ý nghĩa của một bậc sống với việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm. Vì thế, với sự quí trọng dành cho nếp sống này, một nếp sống rất hữu ích cho công tác mục vụ của Giáo Hội trong lãnh vực giáo dục thanh thiếu niên, săn sóc bệnh nhân và nhiều tác vụ khác, Thánh Công Đồng khích lệ các tu sĩ trong ơn gọi của họ và kêu mời họ hãy thích nghi cuộc sống với những đòi hỏi của thời hiện đại.
Thánh Công Đồng tuyên bố rằng không có gì trở ngại trong việc một số tu sĩ thuộc các tu hội dành cho các sư huynh lãnh nhận chức thánh, để đáp ứng những nhu cầu cần đến tác vụ linh mục trong các tu sở, tùy theo Tổng Tu Nghị quyết định, nhưng vẫn phải duy trì tính chất giáo dân của tu hội
Những tu hội tại thế, tuy không phải là dòng tu, nhưng cũng có lời khấn thật sự và trọn vẹn được Giáo Hội công nhận để giữ các lời khuyên Phúc Âm ở giữa đời. Lời khấn ấy thánh hiến các hội viên nam cũng như nữ, giáo dân cũng như giáo sĩ hiện đang sống giữa thế gian. Bởi đó, chính họ trước hết phải quyết tâm tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa trong đức ái trọn hảo, và các tu hội phải bảo toàn tính chất đặc thù của mình là sống tại thế, để dù ở đâu, họ cũng có thể chu toàn hữu hiệu việc tông đồ giữa thế gian và từ thế gian, theo như tôn chỉ của tu hội.
Tuy nhiên, các tu hội đó phải biết rõ là họ chỉ có thể chu toàn nhiệm vụ trọng đại ấy nếu các hội viên được huấn luyện chu đáo về giáo lý cũng như nhân bản, sao cho họ thực sự là men giữa đời để làm cho Thân Thể Chúa Ki-tô được mạnh mẽ và tăng trưởng Vì vậy các bề trên phải thật sự quan tâm trước nhất đến việc huấn luyện tu đức, cũng như chương trình đào tạo tiếp nối về sau.
Đức khiết tịnh “vì Nước Trời” (Mt 19,12), mà các tu sĩ khấn giữ, phải được quí trọng như một hồng ân cao cả. Thật vậy, đức khiết tịnh mang lại tự do cho trái tim con người theo một cách thế đặc biệt (x. 1 Cr 7,32-35) để mến Chúa và yêu thương mọi người nồng nàn hơn, đồng thời trở thành dấu chỉ đặc biệt của hạnh phúc thiên đàng và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến thân phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ. Những con người khiết tịnh nhắc nhớ tất cả các Ki-tô hữu sự kết hợp lạ lùng do Thiên Chúa thiết lập và sẽ tỏ hiện đầy đủ ở đời sau, lúc đó Giáo Hội đón nhận Chúa Ki-tô là Lang Quân duy nhất của mình.
Vì thế, khi nỗ lực trung thành giữ lời tuyên khấn, các tu sĩ hãy tin vào lời Chúa Ki-tô và trông cậy ơn Thiên Chúa trợ giúp, đừng quá tin vào sức riêng, hãy thực hành khổ chế cũng như gìn giữ ngũ quan Đừng bỏ qua những phương thế tự nhiên giúp cho tinh thần và thể xác được lành mạnh. Như thế, họ sẽ không bị lung lạc vì những chủ thuyết sai lạc cho rằng việc tiết dục trọn vẹn là điều không thể thực hiện, hoặc có hại cho sự phát triển con người, đồng thời, nhờ vào bản năng thiêng liêng, họ biết khước từ tất cả những gì đe dọa đức khiết tịnh. Hơn nữa, mọi người, nhất là các bề trên, hãy nhớ rằng chính tình huynh đệ đích thực giữa các tu sĩ trong đời sống cộng đoàn sẽ bảo vệ đức khiết tịnh an toàn hơn cả.
Sự tiết dục trọn vẹn đụng chạm đến những khuynh hướng thâm sâu của bản tính con người, nên những ai muốn khấn giữ khiết tịnh chỉ nên quyết định và chỉ được chấp thuận sau một thời gian thử thách đầy đủ và có được sự trưởng thành cần thiết về tâm lý cũng như tình cảm Không những phải cảnh báo họ về những nguy hiểm thường xảy đến cho đức khiết tịnh, mà còn phải huấn luyện thế nào để họ đón nhận nếp sống độc thân được hiến dâng cho Thiên Chúa, đồng thời cũng làm triển nở con người toàn diện.
Tự nguyện sống khó nghèo để bước theo Chúa Ki-tô là một dấu chỉ rất được quí trọng đặc biệt trong xã hội ngày nay, vì thế, các tu sĩ hãy chú tâm thực hành và biểu lộ đức khó nghèo bằng những hình thức mới hợp theo hoàn cảnh sống. Nhờ nhân đức này, họ được san sẻ sự nghèo khó của Chúa Ki-tô, Đấng tuy giàu có, đã trở nên thiếu thốn vì chúng ta để chúng ta được dư dật nhờ sự nghèo khó của Người (x. 2 Cr 8,9; Mt 8,20).
Nếp sống khó nghèo trong đời tu không chỉ hạn hẹp trong việc lệ thuộc bề trên khi sử dụng của cải, nhưng phải nghèo khó cả trong thực tế cũng như trong tinh thần để chỉ lo thu tích kho tàng trên trời (x Mt 6,20).
Trong phận vụ riêng của mỗi người, các tu sĩ phải cảm thấy mình bị ràng buộc bởi luật lao động chung trong cộng đoàn, và trong khi tự cung cấp những gì cần thiết để sống và hoạt động, họ trút bỏ mọi lo lắng áy náy để luôn phó thác vào sự Quan Phòng của Cha trên Trời (x Mt 6,25).
Các Hội dòng có thể ấn định trong hiến chương cho phép các tu sĩ khước từ gia sản đã có hay sẽ lãnh nhận
Mặc dầu các Hội dòng, trừ khi qui luật và hiến chương dạy cách khác, có quyền sở hữu tất cả những của cải vật chất cần thiết để sống và để hoạt động, nhưng hãy tránh mọi hình thức xa hoa, vụ lợi quá đáng hoặc thu tích dư thừa