Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản - Nguyễn Minh Quân (P2)
Theo chủ nghĩa hậu hiện đại, tri thức không phải chỉ thuần tuý làm giàu kiến thức cá nhân, mà nhấn mạnh đến khía cạnh chức năng, tri thức học hỏi để hành động chứ không phải chỉ để biết. Vì vậy, trong các xã hội tây phương chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, chính sách giáo dục thường được chú ý đến phương diện thực tiễn, tạo một sự liên kết chặt chẽ giữa giáo dục và hướng nghiệp.
Tiếp theo từ phần 1
Nguyễn Minh Quân
Tri Thức Dưới Quan Điểm Hậu Hiện Đại
Khai triển từ luận văn của J.F. Lyotard, Sarup [29] đã phân tích một cách khá chi tiết về tổ chức của tri thức theo lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong xã hội hậu hiện đại, tri thức không những được đặc trưng bởi tính chất ứng dụng, mà còn có thể phân phối, dự trữ, và sắp xếp: Tri Thức thuần tuý là một hiện tượng, một sản phẩm, do đó nó mang đầy đủ tính chất của một vật thể có giá trị trao đổi. Đi xa hơn, như Sarup đã nhấn mạnh theo lý luận của Lyotard, trong xã hội hậu hiện đại, bất cứ một loại tri thức nào mà không được mã hoá để nhận biết và lưu trữ bởi máy điện toán, thì không còn được xem là tri thức. Dựa theo khuôn mẫu này, đối lập với tri thức không còn là sự dốt nát như các cặp đối lập nhị phân trong chủ nghĩa hiện đại, mà là tạp hiệu (noise). Tạp hiệu được dùng để chỉ một cái gì đó không nhận thức được trong khuôn mẫu hậu hiện đại, tín hiệu không chuyên chở một thông tin có nghĩa nào.
Theo chủ nghĩa hậu hiện đại, tri thức không phải chỉ thuần tuý làm giàu kiến thức cá nhân, mà nhấn mạnh đến khía cạnh chức năng, tri thức học hỏi để hành động chứ không phải chỉ để biết. Vì vậy, trong các xã hội tây phương chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, chính sách giáo dục thường được chú ý đến phương diện thực tiễn, tạo một sự liên kết chặt chẽ giữa giáo dục và hướng nghiệp.
Sau hết, làm thế nào để xác định tri thức và tạp hiệu? Chủ nghĩa hậu hiện đại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng làm thế nào để phân biệt hai lãnh vực này, thay vào đó, dựa vào Ký Hiệu Học hậu hiện đại, tri thức là một hành động giải trình ngôn ngữ trước một hiện tượng, một sự kiện, một tạo vật…, còn đối với Lyotard, tri thức là một "trò chơi ngôn ngữ" (language game). Từ cách đặt vấn đề như thế chúng ta có thể phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa hai quan niệm tri thức hiện đại và hậu hiện đại. Tri thức theo quan niệm của chủ nghĩa hiện đại là sự phản ánh sự thật khách quan từ một hiện tượng, được làm rõ bản chất thông qua phương tiện khoa học. Nó trở thành tấm gương soi cho sự thật của vật thể và thế giới. Dưới lăng kính của chủ nghĩa hậu hiện đại, tri thức tự thân của nó cũng là một hiện tượng, được diễn dịch một cách chủ quan bằng giải trình ngôn ngữ, một quá trình hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân. Nói khác đi, không có tri thức khách quan và có trở thành tri thức cho một cá nhân hay không là dựa vào kinh nghiệm cá nhân cảm nhận hiện tượng. Lấy ví dụ, đối với một nhà phê bình văn học, hiểu biết những vấn đề về văn chương là điều tối cần thiết, nên sự ra đời một tác phẩm có thể loại hoàn toàn mới, sẽ trở thành một tri thức vì chưa bao giờ anh ta gặp một thể loại như thế từ trước, trái lại, tác phẩm đó rơi vào tay một anh lái buôn, anh ta không thấy hứng thú đọc tiếp, đối với bản thân anh ta nó là thứ anh ta không cần phải biết, tác phẩm biến thành một tạp hiệu.
Mỹ Học Theo Quan Điểm Hiện Đại và Hậu Hiện Đại
Theo một nghĩa rất hạn hẹp, chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại gắn liền với những khuynh hướng mỹ học có tính chất đặc trưng cho thời kỳ hiện đại và thời kỳ hậu hiện đại. Như đã khảo sát ở phần đầu, chủ nghĩa hiện đại xuất hiện vào giai đoạn sau cùng của thời kỳ hiện đại (cuối thế kỷ thứ 19) với những đại diện tiêu biểu như: Joyce, Yeats, Gide, Proust, Rilke, Kafka, Mann, Musil, Lawrence và Faulkner (Văn Chương); Rilke, Pound, Eliot, Lorca, Valéry (Thi Ca); Strindberg, Pirandelo và Wedekind (Kịch); Matisse, Picasso, Braque, Cézanne và những trường phái Vị Lai, Biểu Hiện, Đa Đa, Siêu Thực, trong hội hoạ; Stravinsky, Schoenberg và Berg (Âm Nhạc). Những đặc điềm mỹ học của chủ nghĩa hiện đại có thể tóm tắt như sau (2): nhấn mạnh đến sự diễn tả quá trình nhận thức xảy ra như thế nào hơn là những gì được cảm nhận, sử dụng hình thức ấn tượng và nêu bật vai trò chủ thể trong hành văn, như trường hợp lối viết của thể loại dòng ý thức (stream of consciousness) trong tác phẩm của James Joyce; loại trừ lối viết tự sự, bắt nguồn từ một ngôi thứ ba thông suốt hết mọi sự, có cảm quan cố định và một làn ranh rõ ràng về đạo đức; xoá nhoà sự tách biệt giữa các thể loại, do đó thơ đến gần với văn xuôi (trường hợp Eliot) và văn xuôi đến gần với thơ (trường hợp của Woof và Joyce); tác phẩm mỹ thuật có dạng thức phân đoạn, không liên tục và là một kết hợp ngẫu nhiên nhiều chất liệu; tác phẩm mang nhiều sắc thái nội hướng, ý thức bản ngã của tác giả, để mỗi sáng tác mang một ý nghĩa mỹ học tự thân; và sau cùng là sự chối bỏ các lý thuyết mỹ học khuôn sáo để tiến đến sự ngẫu hứng và khám phá sự sáng tạo, phủ nhận sự phân biệt các dạng thức cao thấp trong mỹ học.
Quan điểm mỹ học hậu hiện đại mang những đặc điểm như: xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống thường ngày; phá bỏ những giai tầng văn hoá quý phái và văn hoá đại chúng; phủ nhận tính chất nguyên thuỷ của một tác phẩm nghệ thuật và cho rằng nghệ thuật cũng chỉ là một hiện tượng lập lại; nhấn mạnh đến phong cách trộn lẫn giữa nhân vật và sự can thiệp của chính tác giả vào tác phẩm; tính chất kết dính nhiều mảng kết cấu khác nhau trong cùng một tác phẩm, tựa như một bức tranh khảm có nhiều chất liệu dị biệt, là điều khá phổ biến trong các tác phẩm hậu hiện đại. Nghệ thuật hậu hiện đại cũng có nhiều điểm tương đồng với quan niệm mỹ học hiện đại, như sự soi rọi nội tâm, ý thức bản ngã, cách đoạn và không liên tục, tính đồng diễn… Nhưng ngược lại, thái độ của chủ nghĩa hậu hiện đại trong mỹ học là phi cấu trúc, phi tâm hoá và từ chối vai trò chủ thể của con người, một sự tiếp nhận, mô tả hiện tượng không suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất sự vật theo chủ quan tác giả; thay vào đó, tác giả cũng tham gia vào một trò chơi ngoại biểu, tạo ra những đối kháng có tính chất mỉa mai và châm biếm để người đọc tự tìm thấy trong tác phẩm và nếu cần tác giả sẽ chủ động lôi kéo người đọc vào trò chơi đó.
Quan điểm mỹ học hiện đại vẫn còn mang nặng tính chất đại tự sự, khi nhiều công trình nghệ thuật được sáng tác để mang một thông điệp cho loài người biết rằng, nghệ thuật hiện đại có khả năng tạo ranhững tác phẩm có sự đồng nhất, kết cấu chặt chẻ và mang những ý nghĩa của đời sống mà chính sự phát triển các phương tiện hiện đại đã làm chúng biến mất. Nghệ thuật hiện đại tự khoác cho nó một vai trò lịch sử to lớn để tái tạo lại những gì mà các thể chế khác của nhân loại đã bó tay. Nói chung, nền mỹ học hiện đại, giống như chủ thuyết khai sinh ra nó, vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi những niềm tin vào khả năng vô hạn của con người, một khả năng dựa hẳn vào tính chất tuyệt đối của sự thật phát hiện bởi các phương tiện khoa học.
Chủ nghĩa hậu hiện đại, trái lại, xem mỹ học cũng như các vật thể giả tạo khác mà hiện thực hoàn toàn bị khuất lấp sau những hiện tượng, những Simulacrum. Càng nhiều hiện tượng, “hiện thực” càng được làm đầy thêm (hyper-reality) và vai trò của nghệ thuật chỉ thuần tuý là tham gia vào trò chơi hỗn loạn giữa các vật thể giả tạo đó, và việc có tin tưởng vào hiện thực biểu hiện hay không là hoàn toàn tuỳ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người đọc, tuỳ thuộc vào nền văn hoá mà họ đang sinh hoạt và tuỳ vào khả năng phản ánh hiện thực thông qua hành động giải trình ngôn ngữ, và cứ như thế mà mỹ học hậu hiện đại cứ kéo dài sự diễn dịch ra ngoài mọi biên cương để tiến về nơi bất tận.
Đối với văn học Việt Nam, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại gần như chưa có một dấu ấn nào đáng kể (xem thêm bài viết của Nguyễn Hưng Quốc trong số này). Cũng có một số “đại học giả” kiến nghị rằng chúng ta nên giữ một thái độ bao dung và thể tất tối đa với văn học nước nhà, không nên vì cái mới mà xoá bỏ cái cũ. Tôi đồng ý, bảo vệ nền văn học (và rộng hơn là văn hoá) truyền thống của dân tộc là chuyện nên làm; nhưng tôi cảm thấy bị lạc trong “cao trào văn hoá truyền thống” đó. Truyền thống là một giải trình ngôn ngữ văn hoá, chúng ta sẽ không bao giờ mất, bởi tự thân giải trình ngôn ngữ văn hoá này xuất phát từ quan điểm cá nhân rất Việt Nam đã thâm căn cố đế trong máu huyết của mỗi một chúng ta (có ai nhìn tà áo dài Việt Nam mà bảo rằng đó là cái váy đâu). Cái còn lại mà chúng ta sẽ mất là đà tiến hoá của nhân loại. Khi thế giới đang vượt lên trên mọi giới hạn của dân tộc và biên giới quốc gia để tạo nên một cách nhìn đa nguyên về cuộc sống, để tạo nên một sự hoà trộn giữa các nền văn hoá nói chung và văn học nói riêng, lẽ nào chúng ta cứ ôm giữ mãi một đại tự sự “độc tôn”: Việt nam là đỉnh cao của trí tuệ và lương tri của loài người. Một đại tự sự đã làm cho những trí óc siêu việt chứng minh một cách rất “khoa học và biện chứng” rằng củ mì có chất đạm cao hơn thịt bò. Một đại tự sự đã làm cho ai đó ở Tây ba năm, ở Mỹ nửa đời niên thiếu, vẫn nặng lòng với dân tộc, để hô hào bảo vệ nền văn hoá truyền thống dân tộc, vì e rằng văn hoá Âu Mỹ sẽ ăn tươi nuốt sống nền văn học Việt Nam. Chủ nghĩa hậu hiện đại không những không phá huỷ nền văn hoá dân tộc mà ngược lại, còn cổ xuý cho sự phát triển tính đa dạng của các nền văn hoá (và văn học) nhỏ bé đó. Chỉ có điều nên thể hiện nó dưới một quan điểm mới hơn, lạ hơn và thú vị hơn. Để làm được như vậy, không phải chúng ta có nên bao dung với nền văn học nước nhà hay không, mà thực ra những kẻ hô hào bao dung đó phải từ bỏ những Đại Tự Sự kiểu như: dân tộc ta thông minh có thừa… Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng vân vân. May ra văn học Việt có được một lối đi mới mẻ trong kỷ nguyên tới.
_________________________
[1]Mary Klages, Postmodernism đăng trên trang web: http://www.colorado.edu/English/ENGL2012Klages/pomo.htm
[2]Baudrilla, J. (1996) Disneyworld Company đăng trên nhật báo xuất bản tại Paris: Liberation ngày 4 tháng 5 năm 1996, bản dịch Anh ngữ của Francois Debris.
[3]Epstein, M. On the place of Postmoderism in Postmordernity in the book Russian Postmodernism: New perspectives on Post-Soviet Culture. New York, Oxford: Berghalm Books (1999), pp. 456-468.
[4]Bell, D. (1976) The Cultural Contradictions of Capitalism. London: Heinemann, p. 50.
[5]Oden, T. C. (1992) Two Worlds: Notes on the Death of Modernity in America and Russia. Downers Grove, Illinois: InterVarsity Press. P32.
[6]Bock, K. (1979) Theory of Progress, Development, Evolution in Bottomore, T. and Nisbet, R. A history of Sociological Analysis. London: Heinemann. Calinescu, M. (1977) Faces of Modernity. London: Indiana University Press. Habermas, J. (1981) Modernity versus Postmodernity. New German Critique, 22:9.
[7]Smart, B. (1990) Modernity, Postmodernity and Present in Turner, B. S. (1991) Theories of Modernity and Postmodernity. London: SAGE Publ, p17.
[8]Benjamin, W. (1973) Illumination. London: Fontana, p196.
[9]Harbemas, J (1987) The Philosophical Discourse of Modernity. Cambridge: Polity, p8.
[10]Berman, M. (1983) All that is Solid Melts in Air. London: Verso, p40.
[11]Calinescu, M. (1977) Faces of Modernity. London: Indiana University Press, p4.
[12]Sách đã dẫn trong (14), p41.
[13]Lash, S. (1987) Modernity or Modernism: Weber and contemporary social theory, in Whimster, S. and Lash, S (eds) Max Weber, Rationality and Modernity. London: Allen and Unwin.
[14]Flax, J. (1990) Thinking Fragments: Psychoanalysis, Feminism, and Postmodernism in the Contemporary West. California: The University of California Press, p41.
[15]Featherstone, M. In Pursuite of the Postmodern: An Introduction. In Theory, Culture & Society Volume 5, 195-215. London: SAGE Publication, 1988.
[16]Toynbee, A. (1939) A Study of History. Volume 5. Oxford: Oxford University Press, p43.
[17]Best, S. and Kellner, D. (1991) Postmodern Theory: Critical Interrogations. New York: Guiford Press. Introduction of Chapter 1.
[18]Lyotard, J. F. (1979) The Postmodern Condition: A Report on Knowledge. Translated by Geoff Bennington and Brian Massumi, Manchester: Manchester University Press (1984).
[19]Hassan, I. (1985) Theory, Culture and Society. Postmodern Culture, 2(3): 119-131.
[20]Huyssen, F. (1984) Mapping the Postmodern. New German Critique 33.
[21]Jameson, F. (1984) Postmodernism, or the Cultural Logic of Late Capitalism. New Left Review 146.
[22]Lemke, J. L. (1994) Semiotics and the Deconstruction of Conceptual Learning. J. Soc. For Accelerative Learning and Teaching.
[23]Lyotard, J. F. (1979) The Postmodern Condition: A Report on Knowledge. Translated by Geoff Bennington and Brian Massumi, Manchester: Manchester University Press, 1984).
[24]Beinstein, R. (1985) Habermas and Modernity. Oxford: Polity and Richters, A. (1988) Habermas and Foucault. Theory, Culture & Society: Vol 5, No. 4.
[25]Foucault, M. (1969) The Archaeology of Knowledge and The Discourse on Language. New York: Pantheon Books, 1972. Chapter 1: The Unities of Discourse.
[26]Lemke, J. L. (1989) Social Semiotics: A new model for literacy education. In D. Bloome Edition. Classrooms and Literacy, pp 289-309. Norwood, New Jersey: Ablex Publishing.
[27]Lemke, J. L. (1985) Ideology, Intertexuality, and The Notion of Register. In Benson, J. D. and Greaves, W. S. Editions: Systemic Perspectives on Discourse, pp 275-294. Norwood, New Jersey: Ablex Publishing.
[28]Woolley, M. (1996) Beyond Simulation: Production and the Nostalgia Industry. SSPP.net Vol.2, No.1, Sep. 1999.
[29]Sarup, M. (1993) An Introduction Guide to Post-Structuralism and Postmodernism. Atlanta: University of Georgia Press.
Nguồn: https://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=333