Đạo Đức (luân lý) Học - Lm. Joseph Nguyễn Đoàn Tân, OFM

Kitô hữu · · Đạo đức học

Con người không chỉ sống để thỏa mãn các nhu cầu bản năng nhưng còn theo đuổi các giá trị mà chúng ta tin rằng sẽ giúp cuộc sống trở nên hạnh phúc hơn. Chúng ta đánh giá mọi hành vi và chọn lựa của mình giữa trên các giá trị này. Tốn tại với các yếu tố di truyền hay môi sinh thì chúng ta thật sự tự do chọn lựa các giá trị này không? Các giá trị này đến từ đâu và dựa trên những tiêu chuẩn phán đoán nào? Các tiêu chuẩn ấy là tương đối hay tuyệt đối? Chủ quan hay khách quan? Có phù hợp với viễn tượng nhân bản không? Cuối cùng, tại sao chúng ta “nên” sống đạo đức? Đạo đức học là môn nghiên cứu các chủ đề rộng lớn và quan trọng này.

Từ “ethics” (đạo đức học, luân lý học) bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “ethos”, có nghĩa là “phong tục” (số ít) và ở số nhiều “ethe” mang nghĩa “tính cách”. Từ “morality” cũng có nghĩa tương đương như trong tiếng Hy lạp, bắt nguồn từ tiếng La tinh “mos” (và mores ở số nhiều). Tuy nhiên, từ “ethics” thì thông dụng hơn trong phạm vi triết học, còn “morality” thì được dùng nhiều hơn khi nói về thần học luân lý. Từ các nghĩa gốc này cho thấy đạo đức học liên quan đến các “hành vi” (phong tục) chúng ta phải làm lẫn “tính cách” (loại người) chúng ta muốn trở thành. Hai chủ đề này liên quan mật thiết với nhau, vì tính cách của chúng ta được hình thành chủ yếu từ cách thức chúng ta quen hành động. Các nghĩa gốc này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao chúng ta gọi đạo đức học là học về cách phải sống đời mình thế nào: Đạo đức học là môn học về cách cư xử và tính cách đúng đắn của con người.

Triết học không phải là môn học duy nhất xem xét cách cư xử và tính cách đúng đắn. Thần học cũng bàn về các vấn đề cơ bản này. Tuy nhiên, câu trả lời của thần học luân lý thì dựa trên các giả thuyết được chấp nhận bởi đức tin tôn giáo. Triết học đạo đức thì cố gắng cung cấp các câu trả lời hoàn toàn dựa trên lý trí và kinh nghiệm. Trong khi cách giải thích về giáo lý tôn giáo có thể khác biệt nhưng nền tảng căn bản của thần học luân lý thì không thể bị tranh cãi. Trái lại, trong triết học đạo đức, mọi câu hỏi đều có thể được đem ra bàn luận—ngay cả câu: liệu có một đạo đức học đúng hay không? Tuy nhiên, có một số nhà tư tưởng vừa là triết gia, vừa là thần học gia nhận thấy có sự hòa hợp giữa thần học luân lý và triết học đạo đức, cho dù các điểm xuất phát của hai môn học này thì khác nhau. Nói chung, có ba vấn để nền tảng trong đạo đức học. đó là (1) mối tương quan giữa đạo đức học và bản tính con người, (2) khai triển các giá trị và tiêu chuẩn để phán đoán các hành vi đạo đức, và (3) và lý giải cho mục đích của đời sống đạo đức.

Đạo Đức học và Bản tính Con người.

Có nhiều cách trả lởi cho câu hỏi “chúng ta nên sống đời mình thế nào để đạt hạnh phúc?” nhưng có lẽ cách thông thường nhất là chúng ta nên sống thế nào để chúng ta thể hiện bản tính con người. Như thế, trước tiên chúng ta phải xác định một cách tổng quát về bản tính con người và rồi cắt nghĩa làm thế nào chúng ta thể hiện được bản tính ấy. Nếu chúng ta chủ trương rằng bản tính con người là yêu thương thì đạo đức sẽ nhắm tới cách dùng lý trí để gia tăng hay củng cố sự yêu thương nơi con người. Nếu bản tính con người là tìm kiếm thỏa mãn hay hạnh phúc cho mọi người, thì tiêu chuẩn đạo đức phù hợp với mục đích ấy sẽ là vị lợi. Nếu bản tính chúng ta là thể hiện các khuynh hướng tự nhiên của con người, thì đạo đức học sẽ là việc khai thác cách áp dụng quy luật tự nhiên. Nếu con người là một thực thể mang tính xã hội, xem tha nhân như chính mình, thì các tiêu chuẩn đối xử công bằng và tôn trọng tự do của tha nhân sẽ là bổn phận thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội.

Mặt khác, nếu chúng ta cho rằng bản tính con người không hoàn toàn là tốt, thì đạo đức là tìm cách thống trị, sửa sai các khuynh hướng tự nhiên của con người. Ví dụ, người ta có thể coi con người cơ bản là ích kỷ thì đạo đức học cần giúp khắc phục khuynh hướng vị kỷ hầu để đem lại lợi ích cho người khác. Khi triết gia phủ nhận về một bản tính chung thì giá trị đạo đức là thể hiện sự tự do tự sáng tạo qua các chọn lựa độc đáo của mình. Khó khăn ở đây là làm sao dung hòa sự mâu thuẫn giữa loại tự do tự tạo của mình với tự do của tha nhân. Cũng có những nhà nghiên cứu đạo đức học cho rằng yếu tố phái tính chi phối bản tính con người, do đó các nguyên tắc đạo đức tốt cho nam giới không thể giúp phụ nữ phát triển toàn diện và thể hiện bản tính chân thực của họ. Như thế thì “bản tính con người” vẫn còn là một vấn nạn lớn cho đạo đức học. Đó là khuynh hướng tự nhiên hay bản năng của con người, hay là những tập tục, thói quen xuất phát từ truyền thống tôn giáo, văn hóa? Trong khi chưa có sự thống nhất về định nghĩa của “bản tính con người” thì khó mà đạt đến một quan điểm chung về đạo đức học.

Các tiêu chuẩn đánh giá đạo đức

Đạo đức học nghiên cứu về cách chúng ta phán đoán một hành vi nhân bản là tốt hay xấu, đúng hay sai, căn cứ trên các tiêu chuẩn đạo đức được giả định. Từ thời Cổ Đại Hy Lạp, con người đã nhận biết có những qui luật chi phối lương tâm con người cao cả hơn là qui luật xã hội hay vua chúa. Trong vở kịch “Antigone” của Sophocles, Antigone đã áp dụng qui luật này để biện minh cho hành vi chôn cất xác người anh ruột, cho dù đó là điều bị vua Creon cấm vì người anh đó đã nổi loạn chống lại chính quyền thành Thebes. Những qui luật đạo đức nền tảng đó qua thời gian đã kết hợp thành các tiêu chuẩn đạo đức.

Trong lịch sử có một số tiêu chuẩn đạo đức được khai triển và chấp nhận rộng rãi như: đạo đức học vị kỷ, đạo đức học vị lợi của Bentham & Mill, đạo đức học luật tự nhiên, đạo đức học bổn phận của Kant, đạo đức học nhân đức của Aristote. Cả bốn tiêu chuẩn đạo đức đầu tiên đều nhắm vào hành vi: làm thế nào chúng ta có thể quyết định hành vi hay chọn lựa nào thích hợp nhất cho hoàn cảnh của mình? Tuy nhiên, đạo đức học nhân đức nhắm vào sự thiện hảo của con người: cái gì tốt nhất cho con người như là một chủ thể luân lý? Làm thế nào để giúp con người thể hiện sự hoàn hảo luân lý của mình? Sự hiểu biết và ý định của chủ thể rất cần thiết trong công việc phán đoán đạo đức.

Cả hai đạo đức học vị lợi và vị kỷ đều phán đoán dựa trên các hậu quả mà hành động hay tính cách tạo ra (consequentialism). Ví dụ, chúng ta khen ngợi các hành động bảo vệ môi trường vì chúng giúp thế hệ chúng ta và các thế hệ tương lai sống khỏe mạnh hơn và tốt đẹp hơn. Chúng ta kết án hành động giết người vì sự thiệt hại nó gây ra cho gia đình và bạn bè của nạn nhân, cho cộng đồng nơi tội ác diễn ra, và cho xã hội nói chung. Chúng ta khen ngợi tính quảng đại vì nó giúp một người biết quan tâm tới người khác và thăng tiến hạnh phúc của họ. Chúng ta kết án sự căm ghét vì nó làm hại người bị căm ghét, giảm nhân tính của người có lòng căm ghét, và làm xã hội xấu đi.

Đạo đức học luật tự nhiên nhấn mạnh vào ý hướng của hành vi (intentionalism). Giả sử tôi giúp cứu chữa một đứa bé em bé bị xe tông, chắc chắn hành động của tôi sẽ được xem là tốt. Nhưng hành động này là tốt cho dù tôi không cứu được mạng sống đứa bé, vì tôi đã có ý hướng giúp người bị nạn và tôi đã làm hết sức của mình. Giả sử đứa bé lớn lên rồi trở thành một tên giết người hàng loạt, thì hành động của tôi vẫn được xem là tốt về mặt đạo đức vì ý hướng tốt đứng sau hành động ấy. Ngược lại, nếu tôi là một dược sĩ và giả tạo các dữ liệu nghiên cứu để công ty có thể được phê chuẩn một thứ thuốc mới, và tôi được thưởng nhiều tiền. Dữ liệu sai lạc của tôi làm cho thuốc này được phê chuẩn, và nó lại trở thành một thứ thuốc an toàn và chữa trị bệnh nhân rất tốt. Nhưng hành vi giả tạo của tôi là sai đạo đức, cho dù kết quả sau cùng là tốt.

Đạo đức học bổn phận lý luận rằng tiêu chuẩn dùng để đánh giá đạo đức của một hành động hay một tính cách hệ tại một số đặc tính hình thức nào đó mà hành động này có (formalism). Theo một lý thuyết như thế, một hành động chỉ là tốt về đạo đức nếu nó có tính chất là “có thể trở thành phổ quát”—mọi người trong cùng hoàn cảnh sẽ thực hiện. Như thế, để xác định một hành động là đạo đức, chúng ta phải giả định là mọi người cùng thực hiện hành động ấy. Ví dụ, nếu một mình tôi trốn thuế thu nhập thì chính phủ sẽ vẫn hoạt động bình thường, nhưng hành động trốn thuế của tôi là sai trái vì chính phủ sẽ sụp đổ nếu không ai đóng thuế thu nhập.

Cuối cùng đạo đức học nhân đức (virtues ethics) quan niệm rằng một con ngưởi với cá tính tốt thì hành động hay phán đoán của họ sẽ thể hiện tính cách tốt của tác nhân. Do đó, qua thói quen dùng lý trí để chọn cái “trung dung” giữa bất cập và thái quá trong cuộc sống, chúng ta tạo nên một “cá tính thứ nhì” hầu mang lại hạnh phúc và thiện hảo cho cuộc sống. Nhân đức là sức mạnh giúp con người thể hiện tiềm năng cá nhân và trở thành loại người mà chúng ta muốn trở thành. Con người có nhân đức thì sẽ biết biện phân giữa các mục đích công cụ và nội tại, cùng với sự chọn lựa tốt nhất trong mọi hoàn cảnh. Các nhân đức bổ túc cho nhau, và cuộc sống là một tiến trình phát triển nhân đức không ngừng.

Tại sao nên sống đạo đức?

Một ví dụ cụ thể. Giả sử tôi đồng ý với xã hội rằng ăn cắp là sai, lấy tài sản của người khác là nghịch với đời sống chính trực. Rồi giả sử một hôm tôi đi trên con đường phố vắng vào ban đêm và nhặt được một cái ví với 10 triệu đồng, cùng với tên và địa chỉ của người mất cái ví ấy. Đạo đức học đòi hỏi tôi phải trả lại số tiền ấy cho người bị mất. Nhưng tôi suy nghĩ rằng, nếu tôi bỏ chiếc ví này vào túi mình thì cũng chẳng ai biết, và lấy số tiền ấy để mua một máy vi tính mới thật hấp dẫn biết bao. Tôi tự hỏi, liệu mình phải làm hành vi đạo đức là trả lại cái ví tiền, hay làm hành động hấp dẫn là có một cái máy vi tính mới toanh. Trong bóng tối không ai biết gì cả, thì tại sao tôi phải hành động đạo đức? Có lý do chính đáng nào để tôi chọn sống chính trực thay vì sống thú vị hơn hay không?

Đạo đức liên hệ đến mục đích cuối cùng mà lối sống (phong tục, tập quán, hạnh kiểm, của một người, quốc gia, thời đại) đã được tự ý công nhận. Nó bảo ta những việc phải làm, giúp ý chí nhận ra những quy luật cần thiết, và giúp con người biết sử dụng tự do theo cách đúng đắn để đạt tới cuộc sống hạnh phúc. Nó còn là cuộc sống hợp với nhân phẩm, được thúc bách bởi lý tưởng và hướng dẫn hành động về những mục đích tạo nguồn bình an cho con người. Ta biết những điều thiện ấy một cách khách quan, vì chúng là tốt cho cộng đoàn và cá nhân. Nhưng điều thiện là tốt vì lý do nào, có phải vì nó tốt hay ta muốn chọn nó? Một người làm việc tốt nhưng với mục đích xấu có phải là người tốt không? Hoặc một người có ý tốt nhưng lại làm điều không tốt do không biết, liệu người ấy có phải là người xấu không? Như thế, cách lập luận khách quan trên đây cần phải được bổ túc bởi sự tìm kiếm tri thức của chủ thể luân lý, tức là cách chủ thể hiểu và lý giải cho động lực và hảnh vi của mình.

Nhiệm vụ của đạo đức học là tìm các hướng dẫn để giúp chúng ta đạt được mục tiêu mà chúng ta giả thiết thì câu hỏi “Tại sao nên sống đạo đức?” nằm ở ngoài lãnh vực của triết học đạo đức. Chúng ta sống đạo đức có thể là vì những lý do thực tiễn, không thuộc phạm vi triết học: sợ bị luật pháp trừng phạt; tránh làm mất danh giá và bạn bè; muốn lương tâm khỏi bị cắn rứt, etc.. Cũng có những lý do mang tính thần học: làm hài lòng Thượng đế, vì đời sống mai sau, sợ bị trừng phạt, muốn lập công đức. Mặc khác, câu hỏi “Tại sao phải sống đạo đức?” cũng là một câu hỏi đạo đức học vì “sống chính trực” đồng nghĩa với “có một đời sống tốt.” Nếu sống đạo đức tức là đang tìm kiếm một đời sống “tốt hơn” những ham muốn tầm thường và cố gắng thăng tiến cuộc sống tới cùng một sự thiện “cao thượng” hơn. thì đó cũng chính là mục đích của đạo đức học vậy.

Nguồn: https://hocvienofm.com/bai-viet/dao-duc-hoc/dao-duc-hoc