Thần học về Đại kết Kitô giáo (P1)
Hằng năm, tuần lễ từ ngày 18 đến 25 tháng 1, Giáo hội cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. Từ Vatican II, phong trào đại kết ít nhiều đã làm các Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Trong số các văn kiện về đại kết, cần lưu ý đến Thông điệp Ut Unum Sint được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 25/5/1995. Hơn nữa, những cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các vị lãnh đạo Giáo hội Chính thống, Anh em Tin lành… đã góp phần củng cố phong trào đại kết.
Tấn Anh
Nguồn: https://catechesis.net/than-hoc-ve-dai-ket-kito-giao/
Hằng năm, tuần lễ từ ngày 18 đến 25 tháng 1, Giáo hội cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. Từ Vatican II, phong trào đại kết ít nhiều đã làm các Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Trong số các văn kiện về đại kết, cần lưu ý đến Thông điệp Ut Unum Sint được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 25/5/1995. Hơn nữa, những cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các vị lãnh đạo Giáo hội Chính thống, Anh em Tin lành… đã góp phần củng cố phong trào đại kết.
Bài này xin triển khai 4 điểm cơ bản:
– Những lý do dẫn đến chia rẽ giữa các Kitô hữu.
– Lịch sử phong trào đại kết.
– Giáo hội Công giáo với cuộc đại kết từ Vatican II.
– Những hướng đi của phong trào đại kết.
A. NHỮNG LÝ DO DẪN ĐẾN CHIA RẼ GIỮA CÁC KITÔ HỮU
Ut Unum Sint: Đây là lời nguyện của Chúa Giêsu tại nhà tiệc ly trong Phúc âm theo thánh Gioan (17,21). Khi thánh sử cầm bút ghi lại những lời ấy, thì Hội thánh đã được thành lập hơn nửa thế kỷ và đã chứng kiến nhiều mầm mống chia rẽ. Thí dụ, theo thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi Côrintô (1,12), giáo đoàn này có bốn phe. Qua dòng lịch sử, nạn bè phái không bao giờ vắng bóng, dưới đủ mọi hình thức: khi thì vì tham vọng quyền hành, có lúc vì bất đồng ý kiến về đạo lý hay về đường lối mục vụ. Tuy nhiên, vết thương nặng nề hơn cả gây ra cho thân thể Đức Kitô không phải là những xích mích chia rẽ giữa vài cá nhân, mà là những sự ly khai của cả từng cộng đoàn to lớn, đến nỗi ra như họp thành một giáo hội khác, nếu chưa dám nói là tôn giáo khác. Thường thì lịch sử nói đến hai cuộc ly khai lớn trong lịch sử.
1. Cuộc ly khai Đông phương (giữa Rôma va Constantinôpôli) vào giữa thế kỷ 11.
2. Cuộc ly khai Tây phương (giữa Công giáo và Tin lành) vào thế kỷ thứ 16.
Tuy thực tế không hoàn toàn đúng như vậy, nhưng xin tạm dùng đó làm hai thời mốc để phân tích những cuộc ly khai trong lịch sử Giáo hội.
I. SỰ LY KHAI GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG (CHÍNH THỐNG GIÁO)
Khi trình bày lịch sử các công đồng, chúng tôi đã lưu ý là các Giáo hội Chính thống chỉ nhìn nhận bảy công đồng đầu tiên gọi là những công đồng của Hội thánh bất phân ly! Nhưng đó chỉ là một hình ảnh lý tưởng. Sự thực thì ra như cứ mỗi công đồng bế mạc lại nảy ra một nhóm ly khai.
Thực vậy, chúng ta biết rằng công đồng đầu tiên, Nixêa I được triệu tập năm 325 để chống lại lạc giáo Ariô. Lạc giáo này đã lôi cuốn rất nhiều giám mục và dầu bị công đồng Constantinôpôli I năm 381 lên án lần nữa, nhưng không những họ vẫn sống sót mà còn đi truyền giáo cho các dân Gothô.
Tuy nhiên, những sự rạn nứt lớn hơn trong Giáo hội xảy ra kể từ công đồng Êphêsô năm 431. Một số giáo hội bên Siria va Calđêa theo Nestoriô không chấp nhận công đồng, đã tách thành nhóm riêng (quen gọi là “Assiriano”, nay còn độ hơn 100.000 người sống tại Iran, Irak). Nên biết là họ đã đi giảng đạo bên Trung Quốc vào năm 635 (Sizafu?).
Hai mươi năm sau đó, vì không chấp nhận Công đồng Calxêđônia (451), đến lượt các Giáo hội bên Ai Cập (Coptô), Etiôpia và Armênia ly khai, họp thành các Giáo hội “Monophysit” (Đức Kitô chỉ có một bản tính). Ngày nay, các Giáo hội này chỉ còn là một thiểu số khiêm nhường giữa vùng lãnh thổ Hồi giáo ở Trung đông. Tuy nhiên, các sử gia cho rằng nguyên nhân của các cuộc ly khai không thuộc lãnh vực đức tin cho bằng vì những động lực văn hoá chính trị. Về văn hóa: ngôn ngữ thần học hồi đó chưa được chính xác, khiến cho các bản dịch không thiếu lần đã gây ngộ nhận. Về chính trị: Ai cập, Siria, Calđêa, Armênia là những trung tâm văn hoá và đế quốc từ lâu đời, vì thế họ không chịu khuất phục hoàng triều ở Constantinôpôli, chỉ chú trọng văn hóa Hy Lạp (Ngày nay, các giáo đoàn này mệnh danh là “Siro-orthodox”, bành trướng sang tận An Độ, Malankar).
Sau những cuộc ly khai của phái Nerstôriô và Nhất tính, những giáo hội nào chấp nhận giáo lý của Công đồng Calxêđônia tự nhận là “Chính thống” (giáo lý chân chính, theo gốc Hy Lạp: Orthodoxia gồm bởi “orthos”: chân chính, trung thực; và “doxa”: phụng tự, ý kiến). Trên thực tế, thì vào cuối thiên niên thứ nhất chỉ còn có hai tòa khác (Alexanđria, Antiôkia, Armênia, Calđêa) thì hoặc đã lạc đạo hay là đã rơi vào tay của Hồi giáo.
Những lý do đưa đến sự tuyệt thông giữa Constantinôpôli và Rôma vào năm 1054 thì nhiều và phức tạp. Đừng kể sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (Latin, Hy Lạp), còn có sự cạnh tranh về quyền thế (nhất là kể từ khi Constantinôpoli được chọn làm thủ đô mới của đế quốc, đang khi mà Rôma cũ dần dần bị rơi vào tay man di). Thêm vào đó là những quan niệm Giáo hội học khác nhau về việc lãnh đạo Giáo hội: Rôma thì đề cao vai trò lãnh đạo của Giáo hoàng; còn Constantinôpôli đòi hỏi rằng, những chuện quan trọng phải được đem bàn ở công đồng, với sự thỏa thuận của tất cả các thượng phụ.
Thực ra, sau năm 1054, hai tòa Rôma và Constantinôpôli vẫn còn giữ liên lạc với nhau. Như chúng ta đã biết, các Công đồng Lyon II và Firenze đã cố gắng tìm hợp nhất nhưng không thành. Đàng khác, Constantinôpôli đã rơi vào tay Hồi giáo từ năm 1453. Các Giáo hội Chính thống bành trướng ở các nước Đông Au (Serbia, Bulgaria, Rumania…), đặc biệt là Cựu Liên Xô cũ (Nga, Gerogia, Ukraina), với tòa thượng phụ Moscơva thường tranh chấp với tòa Constantinôpôli.
II. SỰ LY KHAI TÂY PHƯƠNG
Vào thời Trung cổ, Giáo hội Công giáo đã có lúc có tới hai ba giáo hoàng. May thay, tình trạng đó không kéo dài cho lắm (1378 – 1417). Từ thế kỷ 16 mới bắt đầu những sự ly khai lớn với sức tác động dây chuyền.
Chắc rằng Lutêrô (1483-1546), nguyên là một linh mục dòng Augustinô, không hề có ý định thành lập một Giáo hội ly khai. Ong chỉ muốn đề ra một cuộc cải cách giáo hội. Sự cải cách này không những chỉ nằm trong phạm vi kỷ luật nhưng còn đi vào những điểm căn bản của đức tin, tựa như khi chỉ chấp nhận Kinh thánh như là nguồn duy nhất của mạc khải (sola Scriptura), khi nhấn mạnh tới đạo lý về sự cứu rỗi duy nhờ đức tin (soli Deo gloria); họ cũng đặt sự giảng thuyết và nghe Lời Chúa lên trên việc phụng tự bí tích. Nói chung, phong trào do Llutêrô xướng lên được gọi là Cải cách (Reforme: có nơi dịch là: cải lương, cải giáo, tân giáo). Họ cũng được mệnh danh là Protestant. Trước đây, danh từ này được dịch là “Thệ phản”, với nghĩa xấu là những người đã phản bội lời thề. Sự thực không phải vậy, nguyên gốc của nó có nghĩa là “phản đối” (hay: phản kháng), được áp dụng cho những ông hoàng theo phe Lutêrô, phản đối những quyết nghị của quốc hội họp ở Speyer năm 1529. Hội nghị này với đa số theo Công giáo đã biểu quyết rằng, những ai theo Lutêrô phải rút ra khỏi các vùng do những ông hoàng công giáo kiểm soát (như vậy có nghĩa là người dân phải theo đạo của ông lãnh chúa). Vì muốn bảo vệ tự do lương tâm mỗi người, 6 ông hoàng và 14 thành phố phản đối quyết định đó, chấm dứt tình trạng sống chung giữa đôi bên. Từ đó, những ai trung thành với Rôma thì gọi là Công giáo (Catholique: nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là: phổ quát, bao gồm tất cả); đối lại là nhóm Cải cách. Thế rồi, dần dần phe Cải cách do những lý do khác nhau, lại bị phân tách ra các ngành biệt lập. Có thể phân biệt ra ba ngành chính sau đây: Lutêrô, Calvinô và Anh giáo.
1. Những người theo Lutêrô, đa số bên Đức, họp thành các Giáo hội Tin lành (Evangelische Kirche)
Ở Việt Nam, tiếng “Tin lành” có thể gây hiểu lầm. Theo nguyên ngữ, tiếng “Evangelium” có thể dịch là: Phúc âm, Tin mừng, Tin vui hay Tin lành. Những người theo Lutêrô gọi mình là Evangelist vì muốn trở về với Tin mừng nguyên tuyền. Thế nhưng, các “Hội thánh Tin lành” ở Việt Nam chỉ có họ hàng rất xa với các Giáo hội Lutêrô. Nguồn gốc gần hơn của các nhóm Tin lành Việt Nam là các phong trào Evangelicals, phát xuất từ bên Anh hồi thế kỷ 19 như sẽ nói sau (hiện nay các giáo đoàn theo Lutêrô trên thế giới họp thành: “Lutheran World Dedration”).
2. Những nhóm người theo Ulrich Zwingli (1484-1531) và Jean Calvin (1509-1564)
Những nhóm người theo Ulrich Zwingli (1484-1531) và Jean Calvin (1509-1564) thì đổi tên là Giáo hội Cải cách (Eglise Reformee); Sang Anh và Hoa Kỳ, họ mang tên là Giáo hội Trưởng lão (Presbyterians). Danh từ này ám chỉ cơ chế đặc biệt đó là mỗi cộng đoàn được cai quản do hội đồng các “Presbyter” (nguyên lão, kỳ mục). Từ ngữ này lấy từ Tân ước (Cv 14,23), do dân bầu (ngày nay, họ họp nhau thành: “World Alliance of Reformed Churches”).
3. Nhóm thứ ba là Anh giáo
Tuy ra đời vào thời cải cách, nhưng họ không chấp nhận các đạo lý của Lutêrô. Sự ly khai khỏi Rôma bắt đầu từ việc Tòa thánh không chấp nhận cho vua Henry VIII (1509 – 1547) ly dị. Nhà vua tuyên bố mình là giáo chủ của Giáo hội bên Anh (supreme head of the Church of England).
Lúc đầu sự ly khai chỉ có tính cách chính trị, nhưng dần dần cũng mang thêm tính cách đạo lý, khi du nhập các tư tưởng của Lutêrô và Calvinô. Thực ra, gọi là “Anh giáo” thì không đúng, bởi vì đây không phải là một tôn giáo riêng biệt. Tên gọi chính thức là Giáo hội Anh quốc (Church of England) và từ khi được bành trướng qua các nước thuộc địa, họ mang danh là: “Sự thông hiệp Anh” (Anglican Communion; ở Mỹ, họ được gọi là “Episcopalians”). Nội bộ của họ gồm có khuynh hướng:
– Low Church (Giáo hội thấp), khuynh hướng theo nhóm Cải cách;
– High Church (Giáo hội cao), gần gũi với Công giáo;
– Broad Church (Giáo hội rộng), khuynh hướng rất tự do.
Chính nhờ sự đa đạng đó, mà Giáo hội Anh quốc đã nhiều lần muốn đứng ra bắt cầu môi giới giữa Công giáo và Cải cách. Nhưng cũng cần phải thêm rằng, cũng vì sự đa dạng đó mà đã nảy ra bao nhiêu phe phái khác, nhất là tại Hoa Kỳ, cựu thuộc địa của Anh. Chúng ta có thể kể:
+ Methodists: Danh xưng này được đặt ra để chế nhạo cái “method” mà họ dùng khi cầu nguyện và học Kinh thánh, khởi đầu do hai anh em John Wesley (1703- 1791) và Charles Wesley (1707- 1788). Từ nhóm Methodist tách ra Đạo quân Cứu rỗi (Salvation Army) năm 1865.
+ Baptists: Chủ trương chỉ rửa tội cho người lớn bằng việc dìm mình. Từ nhóm này tách ra nhóm Cơ đốc Phục lâm (Adventists) năm 1844 (E.G. White), những người chờ Đức Kitô quang lâm vào ngày thứ 7 (Seventh-Day Adventists; Sabbatists).
+ Evangelicals: Một từ rất rộng, bao gồm rất nhiều phái. Nói chung, các tín điều của họ rất đơn giản; về cơ cấu tổ chức cũng vậy. Xem ra, một đặc tính chung của họ là giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen (cứ chữ, không đếm xỉa tới khung cảnh lịch sử văn chương) và họ không tham gia các phong trào đại kết. Như đã nói trên, các nhóm Tin lành được truyền sang Việt Nam thuộc ngành này chứ không phải thuộc Giáo hội Lutêrô. (Hội thánh Tin lành Việt Nam là chi nhánh của “The Christian and Missionary Alliance” do A.B. Simpson khởi xướng năm 1887).
B. LỊCH SỬ PHONG TRÀO ĐẠI KẾT
Hai Công đồng Lyon II (1274) và Fiernze (1439) đã cố gắng tìm ra những công thức thỏa hiệp giữa Rôma và Constantinôpôli, nhưng sự hợp nhất không được bền lâu. Vào thời cải cách, nhiều cuộc gặp gỡ giữa Lutêrô với Tòa thánh đã diễn ra trước và trong Công đồng Trentô. Hồi triệu tập Công đồng Vaticanô I, Đức Piô IX đã mời các Giáo hội Chính thống đến dự, nhưng thư mời bị gửi trả lại. Thực ra, cho tới đầu thề kỷ XX, Giáo hội Công giáo hiểu sự hợp nhất theo nghĩa là các phe phái kia hãy ăn năn trở lại phục tùng Đức Giáo hoàng: đó là hình ảnh lý tưởng của một đàn chiên với một chủ chiên. Công tác hợp nhất được ủy thác cho bộ Truyền giáo: cơ quan này phải tìm cách để cho người ngoại giáo lẫn người lạc giáo trở lại với chính đạo. Dưới viễn ảnh đó, không có chuyện “đối thoại đại kết”. Danh từ này được đặt lên do một phong trào bắt nguồn từ các nhóm Cải cách.
I. PHONG TRÀO ĐẠI KẾT NGOÀI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
Tiếng “đại kết” dịch bởi từ “oecumenismus”. Thực ra, từ này trong nguyên ngữ Hy Lạp và Latin mang rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Hy Lạp, từ “oikuomene”( bởi danh từ “oikos”: nhà) lúc đầu có nghĩa là những vùng đất đã có người cư ngụ (đã xây cất nhà cửa), rồi dần dần mở rộng ra đến toàn thể thế giới. Cách riêng, hoàng đế Rôma mang tước là “oikumêne”, nghĩa là bá chủ khắp thế giới (chỉ trừ những vùng đất hoang dã của quan man di, Barbaroi). Từ đó mà sinh ra tính từ “oecumeniscus” (thí dụ: “concilium oecumenicum” : công đồng do hoàng đế triệu tập, hay là công đồng quy tụ hàng giám mục thế giới).
Khi phong trào hợp nhất các Kitô hữu ra đời vào thế kỷ XX, người ta muốn lấy lại tiếng “oecumenismus” để biểu lộ niềm khát khao được thấy Giáo hội mang chiều kích hoàn vũ, vượt qua hết mọi hình thức phân ly chia rẽ.
Có thể lấy năm 1910 như khởi điểm của phong trào đại kết cận đại. Vào năm ấy, một đại hội của các Hội truyền giáo Tin lành (World Missionary Conference) được tổ chức Edinburgh, (Scotland). Lý do đưa tới việc tổ chức đại hội là thực trạng chua chát của các xứ truyền giáo, khi mà các giáo đoàn trẻ chất vấn những nhóm thừa sai: “Tại sao các ông đều rao giảng một Đức Kitô như nhau, mà nào là metosist, nào là luteranist, nào là episcopalist? Tại sao các ông vừa mang cho chúng tôi Tin mừng của Đức Kitô, lại vừa mang theo các sự phân hóa từ Au Mỹ sang đây làm gì?”.
Chính vì ý thức rằng, sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một chướng ngại cho việc truyền giáo, cho nên các Hội Truyền giáo mới quyế định nhóm họp lại để tìm cách thức giải quyết. Cuộc gặp gỡ giữa các Hội Truyền giáo đã dần dần đưa tới sự gặp gỡ giữa các Giáo hội dưới danh nghĩa của Hội đồng Quốc tế Truyền giáo (Intenrnational Missionary Council) ra đời năm 1921. Từ kinh nhiệm gặp gỡ vừa nói, dần dần nảy ra hai cơ quan khác, biểu lộ cho hai đường lối để tiến tới sự hiệp nhất: một đàng về đạo lý, một đàng về hoạt động. Cơ quan thứ nhất mang tên là Faith and Order (Pháp: Foi et Constitution: “Đức tin và Định chế”) chuyên về các vấn đề đức tin và thể chế của Giáo hội. Họ đã tổ chức hai hội nghị quốc tế ở Lausanne (1927) và Edinburh (1937). Cơ quan thứ hai mang danh là Life and Work (Pháp: Vie et Action: “Đời sống và Hành Động”) được thành hình ngay từ năm 1925 tại hội nghị Stockholm (Thụy Điển). Phương châm của họ là: “đạo lý năng gây chia rẽ, còn hành động thì sẽ gây đoàn kết”. Vì vậy, việc hợp tác vào các công tác phụng sự xây dựng xã hội sẽ dần dần đưa các giáo hội xích lại với nhau. Tuy nhiên, sau hội nghị lần thứ hai tại Oxford năm 1937, họ nhận thấy rằng sự chia rẽ về đạo lý cũng mang theo những chia rẽ về quan điểm hành động. Do đó mà hai cơ quan đã đồng ý sát nhập lại thành một tổ chức mang danh là “Hội đồng thế giới các Giáo hội” (World Council of Churches), với quy chế tạm thời được biểu quyết tại Utrecht năm 1938 [1]. Tiếc rằn, thế chiến thứ hai bùng nổ, cho nên phải chờ tới năm 1948 thì mới có thể triệu tập đại hội đầu tiên, từ ngày 22/8 tời 4/9 tại Amsterdam (Hòa Lan). Tiêu chuẩn đạo lý căn bản để gia nhập Hội đồng là chấp nhận Đức Kitô là Chúa Cứu Thế. Phải chờ tới năm 1961, đại hội New Delhi mới hoàn chỉnh công thức phát biểu đạo lý căn bản sau:
“Hội đồng thể giới các giáo hội là một hội nghị của các giáo hội tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế theo Kinh thánh; do đó, họ nỗ lực thể hiện ơn gọi chung hầu làm vinh danh Thiên Chúa duy nhất, Cha, Con và Thánh Thần”.
Đúng ra đây không phải là một tín biểu mới, nhưng chỉ muốn đặt ra một cơ sở tổi thiểu cho các cuộc đối thoại giữa các thành viên. Thực vậy, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, không thiếu lần có những nhóm tự xưng là Kitô hữu nhưng lại không chấp nhận thiên tính của Đức Kitô hoặc không chấp nhận tín điều Chúa Ba Ngôi. Hội đồng thế giới các Giáo hội không phải là một thứ siêu Giáo hội, cũng chẳng phải là Giáo hội duy nhất mà phong trào đại kết mong đạt đến. Tổ chức này chỉ là nơi để các Giáo hội đến gặp gỡ học hỏi lẫn nhau và tương trợ nhau, trong sứ mạng truyền giáo. Trụ sở của hội đồng đặt tại Geneve.
Từ ngày thành lập tại Amsterdam năm 1948 đến nay, Hội đồng đã tổ chức các đại hội sau đây: Evanston (1954), New Delhi (1961), Uppsal (1968), Nairobi (1975), Vancouver (1983), Canberra (1991).
Đại hội lần tới được dự trù sẽ họp vào năm 1998, tại Harare (Zimbabwe).
Hiện nay có tới hơn 300 Giáo hội đã làm thành viên của Hội Đồng, trong đó có cả các Giáo hội Chính thống. Giáo hội Công giáo không gia nhập Hội đồng, vì quan điểm khác nhau về Giáo hội học. Tuy nhiên, từ năm 1961, Giáo hội Công giáo gửi quan sát viên tham dự các đại hội, và nhất là từ năm 1965 đã thành lập một nhóm làm việc chung với Hội đồng. Ngoài ra, Giáo hội Công giáo còn cử 12 đại biểu làm thành viên chính thức của Uy ban “Đức tin và Định chế”. Như đã nói trên đây, vai trò của Uy ban này là nghiên cứu những khía cạnh thần học nhằm tiến tới sự hợp nhất các Kitô hữu. Theo quan điểm của Uy ban, sự hợp nhất các Kitô hữu có nghĩa là sự thông hiệp trong đức tin, trong đời sống làm chứng tá Phúc âm và trong sứ mạng truyền giáo. Để tiến tới sự hiệp nhất đó, cần phải qua 3 chặng sau đây:
1. Cùng tuyên xưng một đức tin tông truyền;
2. Nhìn nhận nơi các Giáo hội cùng có chung những yếu tố tông truyền, đặc biệt là bí tích rửa tội, Thánh thể và các tác vụ;
3. Thiết lập những cơ chế chung nhằm bảo đảm việc chung nhau làm chứng tá, cũng như những cơ quan có thẩm quyền quyết định đường lối hành động và giảng dạy.
Chặng thứ nhất được đánh dấu với văn kiện “Tuyên xưng một niềm tin” (Confessing the One Faith) được hoàn chỉnh vào năm 1993 trong phiên họp tại Santiago de Compostela.
Chặng thứ hai được tiến hành với việc tham khao lược đồ mang tên “Rửa tội – Thánh thể- Tác vụ” (Baptism, Eucharist, Ministry, gọi tắt bằng 3 chữ đầu là BEM, soạn tại Lima năm 1982).
II. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VỚI PHONG TRÀO ĐẠI KẾT
Trong số các nhân vật mở đường cho phong trào đại kết về phía Công giáo, ta có thể kể Hồng y John Henry Newman (1801- 1890) hồi cuối thế kỷ 19. Khi còn là phần tử của Giáo hội Anh quốc, cha Newman đã mở những cuộc hội thảo để xích lại gần Giáo hội Công giáo. Y nguyên đó vẫn tiếp tục sau khi cha gia nhập Công giáo. Sang thế kỷ XX, vào những năm 1921 – 1926, tại Malines đã có những cuộc đối thoại giữa Lord Halifax, một giáo dân Anh giáo với linh mục Portal người Pháp, dưới sự điều động của Hồng y Mercier. Năm 1925, cha Lambert Beauduin (1873-1960) thành lập đan viện Biển đức tại Chevretogne và năm 1926, cha C.J. Dumont mở trung tâm “Istina” hướng tới việc học hỏi và đối thoại với các Giáo hội Đông phương. Năm 1933, cha Paul Couturier (1881- 1953) đã mở Trung tâm Công giáo đại kết ở Lyon, cổ động việc cầu nguyện cho các Kitô hữu được hợp nhất. Năm 1937, cha Yves Congar (1904 – 1995) xuất bản quyển sách Chretiens denunis. Principes d’un “oecumenisme catholique”, một tác phẩm thần học Công giáo đầu tiên về đại kết.
Thế nhưng đó chỉ là những sáng kiến cá nhân. Toà thánh tỏ ra dè dặt đối với phong trào đại kết: thông điệp Mortalium animos của Đức Piô XI (6/1/ 1928) chấp nhận một đường lối hợp nhất duy nhất là các nhóm ly khai phải trở về với Giáo hội Công giáo. Dưới thời đức Piô XII, huấn thị De motione ecumenica của Bộ Thánh vụ (20/12/1949) hé mở cho người Công giáo được phép tham gia vào các hội nghị đại kết với một số điều kiện. Phải chờ tới khi đức Gioan XXIII đắc cử Giáo hoàng thì lập tức lập trường của Tòa Thánh mới thay đổi. Sau khi loan báo triệu tập công đồng Vaticano II, vào ngày lễ Hiện xuống năm 1960 (5/ 6), Ngài đã cho thành lập Văn Phòng Cổ Võ Sự Hợp Nhất Các Kitô Hữu, do Đức Hồng y Augustinô Bea (1881-1968) làm chủ tịch. Việc đối thoại đại kết trở thành một điểm then chốt trong chương trình của Công đồng.
Xem tiếp phần 2