Tổng Quan về Triết Học và Việt Triết - Giáo Sư John B. Trần Văn Đoàn (P1)

Kitô hữu · · Triết học Việt

Đối với đa số trí thức Việt, Việt Triết là một danh từ xa lạ, có tính chất hoang đường của dã sử. Ngay tới đầu thế kỷ thứ hai mươi, những cựu nho gia như cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim, Phan Khôi, v.v..., vẫn chưa ý thức tới một nền Việt Triết. Với cụ Lệ Thần, Triết học là một môn tri thức nhập cảng từ Âu Tây. Mặc dù cụ nhận thấy triết học của Bác-Sơn (Henri Bergson) gần giống với tư tưởng nho học, cụ vẫn quả quyết là Việt Nam chưa có triết học cá biệt. Theo cụ, Việt Nho chỉ là Hán Nho mà thôi. Trong cuộc tranh luận về Khổng Giáo, hai cụ họ Trần và họ Phan ra sức biện hộ hoặc triết học Tàu (cụ Trần) hoặc Pháp (cụ Phan), song không hề đã động tới lối tư duy của người Việt.

Giáo Sư John B. Trần Văn Đoàn

1. Lời Dẫn Nhập

Đối với đa số trí thức Việt, Việt Triết là một danh từ xa lạ, có tính chất hoang đường của dã sử. Ngay tới đầu thế kỷ thứ hai mươi, những cựu nho gia như cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim, Phan Khôi, v.v..., vẫn chưa ý thức tới một nền Việt Triết. Với cụ Lệ Thần, Triết học là một môn tri thức nhập cảng từ Âu Tây. Mặc dù cụ nhận thấy triết học của Bác-Sơn (Henri Bergson) gần giống với tư tưởng nho học, cụ vẫn quả quyết là Việt Nam chưa có triết học cá biệt. Theo cụ, Việt Nho chỉ là Hán Nho mà thôi. Trong cuộc tranh luận về Khổng Giáo, hai cụ họ Trần và họ Phan ra sức biện hộ hoặc triết học Tàu (cụ Trần) hoặc Pháp (cụ Phan), song không hề đã động tới lối tư duy của người Việt.

Ngay cho tới những năm gần đây, Việt Triết cũng ít được (hay nói đúng hơn không được) nhắc tới. Triết Đông dạy tại các Đại Học Việt chỉ là Triết Tàu hoặc Triết Ấn Độ. Những tạp chí nghiên cứu như Đông Phương, Tư Tưởng bàn nhiều tới văn hóa Việt song hầu như không thảo luận Việt Triết. Tương tự, những giáo sư Triết Đông đa số dạy Tứ Thư, Ngũ Kinh, Khổng Mạnh, Lão Trương, hay các kinh điển của Phật Giáo như kinh Vệ Đà, v.v... Ngoại trừ vị giáo thụ lão thành Nguyễn Đăng Thục, một trong những vị có công nhất vào thời bắt đầu của Việt Triết, các học giả Việt đa số dịch và chú thích các kinh điển của Trung Hoa (Các cụ Sào Nam Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Nhượng Tống, v.v...). Song Đăng Thục tiên sinh là một sử gia hơn là một triết gia. Bộ Lịch Sử triết Học Đông Phương, cũng như những nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ, nói lên cái uyên bác của cụ, song chưa đưa ra được một nền triết học đặc thù của người Việt có thể hấp dẫn thế hệ trẻ. Thế nên khi cụ Lương Kim Định xuất bản bộ Triết Lý An Vi, một nền triết được coi như là những suy tư phát xuất từ Việt Triết, tiên sinh được giới trí thức trẻ cũng như sinh viên nhiệt liệt tán thưởng và thần tượng hóa. Trên thực tế, triết học của Lương tiên sinh vào cuối thập niên 1960 chỉ là một khai quật và giải thích những quan điểm của nho giáo theo một lối nhìn khai phóng và hiện đại. Tác phẩm đại biểu của cụ bàn về Khổng Học thoát khỏi hệ thống quan liêu, phi nhân tính. Sau Cửa Khổng, cụ mới đi sâu hơn vào Việt Triết. Nói cách xác đáng hơn, trong những tác phẩm về Việt Triết, Lương tiên sinh lấy phương pháp của kết cấu luận (structuralism) để đào sâu vào những kết cấu trong các huyền thoại, hay để giải thích lịch sử cũng như lối suy tư biểu tượng. Hoặc, tiên sinh áp dụng môn hệ tộc học (genealogy, người Tàu dịch là Hệ Phả Học) mà hai nhà triết học Đức, Nghịch Tài (Friedrich Nietzche) và Hải Đức Cách (Martin Heidegger) từng phát triển, để đào sâu qua ngữ học vào nguồn gốc dân tộc Việt. Thế nên, triết Lý An Vi tuy hấp dẫn được một số rất đông thức giả (vào đầu thập niên 1970, hàng ngàn sinh viên chen chúc dự thính những bài diễn giảng của tiên sinh, (nền triết lý này vẫn bị hoài nghi mang tính chất Trung Hoa hơn là Việt). Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên, khi, ý thức khó khăn trên, Lương quân, để có thể thuyết phục chính mình, cố gắng biện minh cho Việt Nho, coi Việt Nho là nguồn gốc của Nho Học. Cụ gọi Việt Nho là Nguyên Nho để tách biệt khỏi Hán Nho. Lý thuyết của Kim Định rất táo bạo, chính vì vậy mà cụ gặp rất nhiều chống đối. Tuy nhiên, có những điểm liên quan đến Việt Triết đáng được chú trọng.

Dù sao đi nữa, những cố gắng của Kim Định đã đánh động tâm thức của những người ôm ấp hoài bão xây dựng một nền tư tưởng nước nhà. vào thập niên 1970 nhiều học giả Việt tiếp tục con đường trên. Họ du học bên Trung Hoa hay Nhật với một lý tưởng phục hưng tư tưởng đông phương hoặc xây dựng một nền Triết Học Việt Nam. Một trong những nhân sĩ đáng được nhắc tới là Tiến Sĩ Hán Chương Vũ Đình Trác. Hai luận án mà tiên sinh đệ trình tại Đại Học Phụ Nhân, Trung Hoa và Thượng Trí, Đông Kinh, Nhật nghiên cứu về Việt Triết, đặc biệt về Nguyễn Công Trứ, và Nguyễn Du. Đây là hai tác phẩm có tính chất triết học đầu tiên và thuần túy Việt Nam viết bằng ngoại ngữ được đệ trình cho độc giả ngoại quốc. Nhiều nhân sĩ khác, vì tình hình đất nước sau 1975 đã chuyển hướng vào những công việc khác.

Năm 1978, tôi quyết định tiếp tục công việc khai quật Việt Triết và Việt Thần. Từ bỏ công việc dạy học và phục vụ tại Áo, tôi trở lại Trung Hoa theo học Hán Ngữ và Triết Đông tại Đại Học Phụ Nhân. Năm 1979, tôi được Đại Học Phụ Nhân bổ nhiệm vào ghế Phó Giáo (Associate Professor) chuyên nhiệm về Triết Học Hiện Đại và Triết Lý Xã Hội tại Viện Nghiên Cứu Triết Học. Cơ hội thuận lợi này giúp tôi có thể tiếp tục nghiên cứu thêm về triết Trung Hoa. Năm 1982, tôi dò dẫm phát biểu một số suy tư về Việt Thần. Những suy tư trên được Kim Định tiên sinh đáp lời và thách đố. Sự cổ võ của Lương quân khiến tôi có ý định thành lập một nhóm nghiên cứu về Việt Triết. Do đó tôi mời Lương tiên sinh qua Trung Hoa tham dự hội nghị, và phát biểu luận văn. Một già một trẻ bắt đầu chương trình hợp tác lâu dài. Trong khi tiên sinh bận rộn với An Việt và xuất bản tác phẩm phát triển Việt Triết trong những cộng đồng Việt tại hải ngoại, tôi xúc tiến tìm kiếm các tài năng, cũng như đưa Việt Triết vào trong diễn đàn quốc tế. Cái may mắn của tôi là được nhiều học giả nhiệt tâm ủng hộ. Bằng hữu linh mục Vũ Kim Chính không những cổ võ mà còn đích thân tham dự. Như cụ Hán Chương, linh mục Vũ Kim Chính thông thạo cái học đông tây. Vũ linh mục có lẽ là người Việt duy nhất đậu hai bằng tiến sĩ tại Âu và Á. Năm 1985, khi tôi rời Phụ Nhân qua Đại Học Quốc Gia Đài Loan (Quốc Lập Đài Loan Đại Học), Vũ Tiến Sĩ được bổ nhiệm Phụ Giáo, kiêm môn Triết học Đức tại đại học Phụ Nhân. Từ năm 1988, giáo sư Kim Định, Tiến sĩ Vũ Đình Trác, Tiến sĩ Vũ Kim Chính và tôi, chính thức phát biểu những luận văn về Việt Triết trong các hội nghị quốc tế. Năm 1987, chúng tôi phát biểu về Việt Nho tại Thư Viện Quốc Gia trung Hoa. Về đề tài Nho Học tại Việt Nam, năm 1988 tại Hội Nghị Triết Học Thế Giới ở Brighton. Năm 1990, Lương tiên sinh và tôi phát biểu Việt Triết trong Hội Nghị Á Phi tại Toronto. Năm 1993 tôi tổ chức hai buổi hội thảo (Panel) về Việt Triết trong Hội Nghị Triết Học Thế Giới tại Mạc Tư Khoa và Hội Nghị Á Phi tại Hương Cảng.

Bản luận văn sau đây, đáp lại lời mời của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Trúc, tóm lược cũng như hệ thống hóa những suy tư vụn vặt về Việt Triết. Bản văn này cũng tạm thời trả lời những chất vấn về Việt Triết của quý đồng sự như giáo sư L. Van der Meersch (giám đốc Viện Đông Học tại Đại Học Balê), giáo sư Tatsuro Yamamoto, Đại Học Đông Kinh, giáo sư Đỗ Vệ Minh, Đại Học Harvard, v.v... Đồng thời, chúng tôi cũng hy vọng có thể giúp các bạn trẻ từng tha thiết với tư tưởng dân tộc có một cái nhìn tổng quát cũng như xác định về tư tưởng của người Việt.

Luận văn do đó có tính chất giới thiệu, bao gồm những phần chính sau:

1. Những chiều hướng triết học,

2. Việt Triết (bản tính, đặc tính, phương pháp), và

3. Hướng về tương lai hay là Dự phóng của Việt Triết.

2. Những chiều hướng triết học

Triết học là một môn học về tư tưởng thấy trong bất cứ dân tộc nào. Tư tưởng, hay suy tư tự nó chưa phải là triết học. Chỉ có những suy tư có hệ thống, minh bạch xác đáng, có hiệu năng cũng như có tính chất khoa học mới đáng được gọi là triết học. Thế nên từ đông sang tây, tự cổ tới kim, triết học thường được định nghĩa như là nền học về sự khôn ngoan (hay yêu quý sự khôn ngoan, đeo đuổi sự khôn ngoan - philosophia), hoặc như là một khoa học thực hành (practical sciences), hay như một công cụ của chân lý hay của thần học. Tự thời nhà Châu (1111-249 BC), những suy tư về vũ trụ, về Thượng Đế và về định mệnh của con người đã được hệ thống cũng như bàn luận. Mặc dù danh từ triết học chỉ mới được dịch sang tiếng Trung Hoa từ Nhật ngữ vào cuối thế kỷ 19, ý nghĩa của triết học như là một hệ thống về sự khôn ngoan, về tính chất thực hành (đạo đức) đã thấy ngay trước thời Châu (tức thời Hạ và Thượng, quãng 2183-1112 BC). Tương tự, mặc dù triết học mới chỉ xuất hiện một cách chính thức trong các trường học từ thời Pháp thuộc, Việt Triết như là một hệ thống tư tưởng về định mệnh Việt dân, về nếp sống, đạo đức cũng như tổ chức xã hội của dân tộc, đã xuất hiện ngay thời lập quốc, tức thời Hồng Bàng. Điểm mà chúng ta muốn bàn tới không phải chúng ta có một nền Việt Triết hay không, song là Việt Triết có những đặc tính gì, phương pháp chi, hiệu năng ra sao, v.v... Lý do dễ hiểu là, nếu chúng ta theo một chiều hướng triết học của tây phương, thí dụ triết học phân tích (analytics), hay chiều hướng thực chính (positivism), hay thực nghiệm (exprimentalism), hay duy nghiệm (empiricism), chúng ta khó có thể kiếm ra, đừng nói đến hiểu cái gọi là Việt Triết. Song nếu coi triết học như là triết lý thực hành, triết học nhân sinh, hay triết lý về định mệnh, thì chúng ta rất dễ dàng nhận thấy có một nền Việt Triết. Để giúp các bạn trẻ hiểu thêm về những điểm chính yếu của Việt Triết (sẽ được bàn đến trong phần tới), chúng tôi xin mạn phép được mạn đàm về những khuynh hướng chính trong nền triết học từ thời Hy lạp, hay từ thời trước Khổng Tử cho tới hiện đại, và sau đó thử xác định Việt Triết trong những chiều hướng này.

2.1. Triết Học như là môn học về nguyên lý tối hậu,

hay những nguyên nhân chính yếu của con người và vũ trụ

Triết học, được sử sách ghi lại, phát hiện từ khi có lịch sử con người. Vào thời đầu, triết học được hiểu như môn học về những huyền bí, những sự biến đổi của thế giới thiên nhiên. Những hiền triết Hy Lạp quan sát sự kiện thiên biến vạn hóa, và tìm ra một nguyên lý, hay một động lực, hay một yếu tố để giải thích hiện tượng thiên nhiên. Họ hoặc nhận nguyên chất như thủy, hỏa, khí, hay yếu tố như vô định, số tượng, hoặc nguyên tử như là căn nguyên của người Tàu về luật biến hóa của vũ trụ. Đạo, lưỡng cực, tứ tượng, bát quái, v.v... là những yếu tố cũng như biến dạng của vũ trụ. Trong Việt Triết, chúng ta cũng thấy những tư tưởng về vũ trụ (vũ trụ luận) tương tự. Qua những huyền thoại như truyện bà "Nữ Oa đội đá vá trời", hay truyện của ông "Bành Tổ", hay truyện "Lạc Long Quân với bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng", hay truyện "Thần Kim Quy", v.v..., ta thấy tư tưởng chính yếu của Việt Triết vẫn là đi kiếm một nguyên lý tối hậu giải thích vũ trụ, định mệnh con người và dân tộc.

2.2. Triết Học như là công cụ khoa học

giúp con người nhận thức chân lý, cũng như Thượng Đế

Sự thực, như các triết gia nhận ra, là không có một yếu tố chi, cũng không có một nguyên chất nào, càng không có một động lực nào khác có thể giải thích được cái toàn thể, sự biến hóa, cũng như định luật của vũ trụ. Điều này, ngay từ thời Su-Cát (Socrates) từng ngạo cười những nhà ngụy biện (Sophists), triết gia bắt đầu nhận ra sự vô bổ của những kiến thức về vũ trụ. Đối với Su-Cát và ngay cả A-Lý-Đa-Đức (Aristoteles), triết học là triết học về con người! Thế nên, triết học mang một mục đích giúp con người nhận thức được chính con người. Lần đầu tiên chúng ta thấy xuất hiện môn nhân học (Anthropology). Song con người là gì? Câu hỏi hóc búa này, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được câu trả lời thỏa mãn. Để giải thích linh ư vạn vật, triết gia bắt buộc phải tìm kiếm những yếu tính khoa học (tức những yếu tính có thể giải thích, phán quyết, tiên đoán cũng như xác quyết sự vật hay hiện tượng. Hai tính chất phổ biến (universal) và tất yếu (necessity) được coi như là yếu tính của khoa học. Theo các triết gia, những yếu tính này hoặc phải là lý tính (reason) với trường phái duy lý (rationalism), hoặc là tinh thần (Spirit) với trường phái duy linh (spiritualism), hoặc là nguyên chất với trường phái duy vật (materialism); chúng có thể giải thích bản chất linh ư vạn vật của con người. Bồ-La-Thư (Platon) gọi cái nguyên lý tối hậu có tính chất phổ biến và tất yếu này là "quan niệm" hay "lý hình", trong khi A-Lý-Đa-Đức cho là nguyên nhân tối hậu. Dù sao đi nữa, triết lý Hy-Lạp vẫn không thỏa mãn được trí thức của con người về vũ trụ. Lịch sử con người cũng như định mệnh của con người không được triết Hy-Lạp giải thích một cách thỏa đáng. Đây là một lý do chính yếu khiến các thần học gia như thánh Âu-Cơ-Tinh (St. Augustine) phải tổng hợp triết lý Hy-Lạp với truyền thống Dothái: đối với ngài chỉ có Thượng Đế mới là nguyên lý, động lực cũng như căn nguyên tối hậu giải thích cũng như quyết định vận mệnh, quy luật của vũ trụ, hạn chế vào công việc tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế mà thôi. Triết học biến thành nữ tì của Thần Học (philosophia theologiae ancilla). Trong triết học Trung Hoa, chúng ta nhận thấy một biến thiên tương tự, tuy thiếu minh bạch và biện luận, từ việc giải thích vũ trụ như là thiên, (thiên đồng nghĩa với thiên nhiên, hay thế giới nằm trên con người) cho tới việc coi Thiên như là chúa tể. Người Tàu tự trước thời Châu tới thời Xuân Thu (thời Khổng Tử) đã coi Thiên như là một nguyên lý, động lực cũng như Thượng Đế để giải thích cũng như quyết đoán số mệnh của vũ trụ và con người. Trong Việt Triết, chúng ta nhận thấy những suy tư tương tự. Con người, trên con đường đi tìm nguyên lý tối hậu, hay một động lực tối thượng thường phát hiện đấng tối cao, tức Thượng Đế. Nếu không tìm ra Ngài, chúng ta tự thần thánh hóa con người, với mục đích nhờ Thượng Đế để giải đáp những khó khăn mà con người không thể tự lực giải quyết. Những khó khăn này thường là những vấn nạn của con người như định mệnh, sinh mệnh vấn đề sống còn, cũng như những vấn nạn liên quan như chủng tộc và quốc gia. Thế nên khi tổ tiên chúng ta tôn thờ thánh Dóng, tôn kính thánh Trần Hưng Đạo, hay bái thờ hai bà Trưng, đây không phải chỉ là những hành vi thiếu ý thức. Ngược lại, chúng mang một ý nghĩa triết học sâu sa về định mệnh của dân tộc. Chính vì thế, chúng ta không được phép khinh thường dã sử. Trong dã sử, thí dụ những truyện về bà Nữ Oa đội đá vá trời, ông Bành Tổ khai thiên lập quốc, Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ 100 trứng, v.v..., đều hàm ngụ minh triết của Việt dân. Sự gắn bó với định mệnh cũng như công việc đi tìm kiếm và giải đáp định mệnh của con người nói lên tinh thần tôn giáo của người Việt. Nơi đây có một điểm khác biệt nhỏ giữa Việt Triết và Hán Triết, đó là nếu ở bên Trung Hoa, Nho học được chia ra làm hai nhánh: tư tưởng nho gia và nho giáo, và nếu người Tàu họ trọng dụng Nho học nhưng khinh thường Nho giáo, thì người Việt chúng ta thường chú trọng nhiều hơn tới Nho giáo. Điểm này cũng nói lên, Việt Triết không chỉ bị hạn hẹp trong trí thức, song tiềm tàng trong đời sống của Việt dân.

2.3. Triết Học như là môn học giúp con người

đạt tới tri thức chân thực

Thế nhưng, định mệnh của con người không thể chứng minh một cách khoa học được. Định mệnh, Thượng Đế, khát vọng về cực lạc, tuy chân thật song ta không dễ dàng gì chứng minh được sự hiện hữu cũng như bản chất của Ngài, cũng như khó có thể xác định được những khát vọng con người một cách minh bạch. Thượng Đế chỉ mặc khải cho những người tin yêu Ngài. Thượng Đế chỉ xuất hiện với những người đơn sơ như các trẻ nhỏ. Chính vì vậy, ngay vào thời Trung Cổ, các triết gia đã nhận ra điểm này khi họ xác định tính chất thiết yếu và ưu tiên của đức tin: credo ut intelligam (tin để hiểu), hoặc credo quia absurdum (tin vì phi lý). Ngay cả vào thời hiện đại, những triết gia duy lý như Khang-Đức (Kant) cũng phải chấp nhận một sự kiện, đó là ba nguyên tố (postulata) như Thượng Đế, Tự Do và Linh Hồn bất diệt là những sự thật hiển nhiên, song không thể dùng lý trí để chứng minh.

Sự phát triển của khoa học, nhất là toán học và thiên văn học, khiến con người có ảo tưởng, quả quyết cho bất cứ điều gì chân thực, cũng có thể chứng minh được. Sự thành công của các nhà bác học như linh mục Cơ-Bạch-Ni (N. Copernicus, Kopernig), Kép-Lân (J. Kepler) và Gia-Li-Lê-Âu (G. Galileo), và nhất là Như-Tuần (Isaac Newton) vào những thế kỷ 16 và 17 khiến ảo tưởng này biến thành một tín lý. Với một niềm tin như vậy, họ cổ võ triết học tự lập, thoát khỏi sự trao buộc của thần học. Triết học đầu thai biến thành một công cụ trí thức. Chúng ta không lấy làm lạ gì nếu nền triết học hiện đại (epistemology hay gnoseology). Đối với những triết học như Đệ-Các (René Descartes) hay Ba-Công (Francis Bacon), mục đích của triết học hạn hẹp vào trong công việc chứng minh sự chân thật hay giả dối, đúng hay sai mà thôi. Là một công cụ của trí thức, triết học càng chú trọng tới phương pháp. Một phương pháp đúng sẽ đưa tới một kiến thức xác thực. Thế nên, đối với các triết gia này, để chứng minh đúng hay sai, chúng ta trước hết phải tìm ra một phương pháp có hiệu năng. Nói cách khác, triết học của họ chỉ là một phương pháp luận (methodology) nhiều hơn là tri thức luận. Phương pháp hiệu năng nhất đối với Đệ-Các đó là phương pháp của toán học, nhất là phương pháp phân tích (analytic). Phương pháp này có thể chứng minh bất cứ điều chân thật nào cũng phải tinh tuyền và minh bạch (clara et distincta) mà chúng ta không thể hồ nghi. Đối với Ba-Công, phương pháp hữu nghiệm nhất là phương pháp quy nạp (induction): chỉ những tri thức nào có thể chứng minh được bằng kinh nghiệm (empirical) hay thực nghiệm (experimental) mới đáng được gọi là tri thức. Những triết gia sau, bao gồm Khang -Đức và Lữ-Kha (John Locke) cũng như Huy-Mai (David Hume) phát triển hai phương pháp của Đệ-Các và của Ba-Công tới mức điêu luyện hơn mà thôi.

Nhiều người bị ảnh hưởng của triết Tây Phương, thường nhận định là triết đông nói chung, và Việt Triết nói riêng, thiếu một nền trí thức luận, và nhất là phương pháp luận. Lối phê bình của họ một phần nào đúng, song cũng có phần sai. Trên thực tế, triết đông nói chung và Việt Triết nói riêng, quả thực không có cống hiến được một phương pháp hoàn toàn khoa học chắc chắn. Ngay trong Kinh Dịch, những bản tính toán cũng không được chính xác như toán học của Âu-Kỳ-Đệ (Euclides). Ngay vào thời gọi là duy lý như thời Tống và Minh, những luận lý của Công Tôn-Dương cũng khó có thể đạt được tính chất chặt chẽ thấy trong hệ thống luận lý hình thức của Tây Phương. Song, nếu chúng ta chú ý tới lối tư duy của người Việt, một điểm mà không ai có thể từ chối được, là người Việt áp dụng thực nghiệm với kinh nghiệm để đưa ra một tri thức xác đáng. Thí dụ câu phong dao: "Chết cha ăn cơm với cá, chết mẹ liếm lá đầu đường" nói lên một kiến thức xã hội: người mẹ chăm sóc con kỹ lưỡng hơn người cha. Kiến thức này rút ra từ những kinh nghiệm của đại chúng được thực nghiệm quảng đại. Mức xác đáng của câu phong dao trên có thể đạt tới gần 100%. (Tuy nhiên kiến thức trên không thể bảo đảm là người mẹ yêu con cái hơn người cha).

2.4. Triết Học như là một hệ thống luận lý

xác định lịch sử nhân loại

Nhưng hạn chế triết học vào một nền tri thức luận không những chỉ biến triết học thành một công cụ hay phương pháp, mà còn làm triết học nghèo đói thêm. Những triết gia như Huyền-Cách (Georg F. Hegel) và ngay cả Mã-Sỹ (Karl Marx) nhận định triết học như là một tinh thần của thời đại hay của một dân tộc (Zeitsgeist và Volksgeist). Như là tinh thần, triết học hướng dẫn cả lịch sử nhân loại, cũng như xác định và tiên đoán được cả lịch sử. Mỗi thời kỳ, mỗi biến cố, mỗi nền văn hóa hay nghệ thuật, mỗi tôn giáo, v.v..., chỉ là những lối xuất hiện khác biệt của tinh thần mà thôi. Tuy phản đối Huyền-Cách, Mã-Sỹ vẫn theo lịch sử quan của Huyền-Cách. Họ Mã chỉ lật ngược lại cái luận lý tinh thần của Huyền-Cách mà thôi. Đối với Mã-Sỹ, triết học không những chỉ hướng dẫn lịch sử mà còn phản ảnh tất cả thế giới con người. (Karl Marx, Theses ober Feuerbach, These 11).

Triết đông, nhất là triết của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, không những phản ảnh được tâm linh con người, mà còn đòi hỏi biến đổi định mệnh hay lịch sử của con người. Những quan niệm cho rằng triết đông thụ động, không liên quan tới lịch sử, thật ra hoàn toàn sai lầm. Việt Triết, một phần bị ảnh hưởng của tam giáo rất sâu, một phần tự bản chất của mình, không những không phải là một suy tư thiếu liên quan tới vận mệnh con người. Việt Triết, như thấy trong huyền thoại, luôn đưa ra một cái nhìn, hay một luận lý về lịch sử của Việt dân. Bản Bình Ngô Đại Cáo không chỉ bàn đến việc đánh bại quân Ngô, bảo vệ đất nước, song còn nói đến tương lai tinh thần dân tộc, nói lên cái cộng cảm (consensus communis), cộng tính siêu việt (transcendence) và những bản chất khác của người Việt. Bình Ngô Đại Cáo không chỉ là một lời hịch; Bình Ngô Đại Cáo là một bản tuyên ngôn (Manifesto). Đây là những điểm mà triết gia người Phổ, ông Phi-Thời (J. Fichte), mãi vào thế kỷ 19 mới nhận ra khi viết bản Đức Quốc Tuyên Cáo Luận (Reden an die deutsche Nation); những điểm mà Mã-Sỹ mới nhận thức được khi soạn thảo bản tuyên ngôn của cộng sản (1848).

2.5. Triết Học như là một suy tư

tìm cách biến đổi thế giới

Như từng bàn tới trong điểm trên (2.4), triết học cũng là một triết lý hành động. Khác với những lối triết học được bàn cãi tại các bữa tiệc, hay trong phòng khách; ngược lại với những triết học được coi như đồ trang sức cho các vua chúa hay các bà hoàng, hay như công cụ thuần túy, triết đông nói chung và Việt triết nói riêng, là một nền triết lý hành động. Song không hoàn toàn giống triết học của Mã-Sỹ (như nhiều vị bị ảnh hưởng của Mã-thuyết (Marxism) hay cộng-thuyết (communism) như nhóm triết gia tại Trung Hoa đại lục, hay tại Việt Nam chủ trương, triết hành động của đông phương không nhằm gạt bỏ những điều kiện của thiên nhiên một cách quá khích, song sống theo thiên nhiên (Đạo Lão), hoặc dựa vào luật thiên nhiên để xây dựng xã hội (Khổng giáo). Ngoại trừ Phật giáo, tìm cách thoát ly vòng luân hồi của sinh tử, va coi hư vô như là một lối giải quyết tường tận của những vấn nạn nhân sinh (sinh, lão, bệnh và tử). Triết đông nói chung liên hệ trực tiếp với con người trong xã hội hay trong vũ trụ (thiên nhiên). Như chúng tôi đã nhận định, Việt triết không chỉ thụ hưởng những tư tưởng của tam giáo, mà Việt Triết còn tổng hợp những tư tưởng này với tư tưởng của Việt dân. Thí dụ như cụ Nguyễn Du, tuy bị ảnh hưởng của Phật giáo về định mệnh con người:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

song cụ không yếm thế, bi quan tìm cách trốn lánh cuộc đời như Phật Giáo, cụ nhận định là tu tâm mới chính là phương thế hữu hiệu đạt thân, hay đi xa hơn, tu tâm là một phương cách biến đổi con người và thế giới:

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Như cụ Nguyễn Du, đa số các triết gia Việt hướng theo triết lý thực hành, tổng hợp lối nhìn của tam giáo với lối tư duy của Việt Triết để cải biến con người và xã hội Việt. Về phương diện này, ảnh hưởng của Nho Học trên tư tưởng Việt Triết rất rõ rệt: quan niệm "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" (Đại Học, chương I) ảnh hưởng tới thuyết thiện tâm (Mạnh Tử) và tu tâm (Khổng Tử) của Nguyễn Du.

Xem tiếp phần 2

Giáo Sư John B. Trần Văn Đoàn

Đại Học Quốc Gia Đài Loan

(Viết xong tại Viện Triết Học, Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội, Bắc Kinh, 24.07.1996)

Nguồn tin: Giáo phận Thanh Hoá