ĐHGL toàn quốc lần 3 - Bài thuyết trình 2b: Dạy giáo lý, phương thế giáo dục và củng cố đức tin

Nguyễn Thị Hồng · · Phụng vụ Chư Thánh
Ðức tin là ân huệ Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, nhưng con người có tự do để đón nhận hay từ chối. Tư tưởng này được Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giải thích rõ hơn: “Niềm tin tôn giáo luôn có sẵn trong tâm hồn mỗi người, nhưng bộ phận cảm ứng nội tâm dành cho Chúa trong ta không đương nhiên hoạt động như một cái máy kỹ thuật mà nó như một thứ sống động, hoặc là cùng lớn lên với con người, hay là chai cứng đến độ có thể gần như chết khô. Nếu nội tâm ta luôn làm việc với bộ cảm ứng đó, nó càng ngày càng trở nên sắc bén, bằng không nó sẽ teo lại và như bị chôn vùi dưới ảnh hưởng của thuốc tê.”[1] Như vậy, đức tin chính là sự chấp nhận của trí tuệ đối với chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải cho loài người trong Ðức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần và qua Giáo hội. Đức tin là một tiến trình thăng trầm trong phận người. Quả thật, có những lúc con người đầy xác tín nhưng không thiếu những khi khắc khoải đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn đức tin. Chúng ta thấy rõ điều này khi đọc lại Lịch Sử Cứu Ðộ: dân Itraen đã phải trải qua biết bao thử thách để đi đến xác tín vào Thiên Chúa độc nhất; các Tông đồ đã theo Thầy Giêsu một thời gian khá lâu, cứ ngỡ rằng mình đã hoàn toàn tin tưởng vào Thầy, nhưng rồi các ông đã phải xin với Thầy “Xin ban thêm đức tin cho chúng con”, hạnh các Thánh cũng chứng minh rất rõ điều này. Ðức tin là một tiến trình. Nói cách khác, “đức tin là một con đường và bao lâu còn sống thì con người còn đi trên đường, và vì vậy, đức tin vẫn luôn bị đe dọa và chèn ép […]. Ðức tin chỉ có thể trưởng thành, khi trong mọi giai đoạn cuộc sống, nó đủ sức chấp nhận và chịu đựng sức mạnh cũng như sự o ép của không tin, cuối cùng thắng vượt chúng để lại bước đi tiếp trên một đoạn đường mới.”[2]Chính vì thế đức tin cần được giáo dục và được tôi luyện để trở nên trưởng thành. Dạy giáo lý chính là phương thế hữu hiệu để giáo dục đức tin. Kể từ sau Công Ðồng Vaticanô II, Hội Thánh Công giáo đã tái khám phá ra rằng truyền bá đức tin hay giáo dục đức tin là một cuộc gặp gỡ cá vị với Ðức Kitô, được thực hiện nhờ Thánh Kinh và Thánh truyền sinh động của Hội Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.[3] Ðiều này đã được Thánh Bộ Giáo Sĩ nhấn mạnh: “Mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những được tiếp xúc, mà còn được thông hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô.”[4]Ðây chính là nét độc đáo của giáo dục đức tin. Nội dung bài chia sẻ trình bày bốn điểm sau đây:- Nét độc đáo của sư phạm đức tin;- Những bước cơ bản trong tiến trình khai tâm Kitô giáo;- Nhìn lại tình hình chung việc thực hiện giáo dục đức tin;- Hướng giải quyết. 1. Nét độc đáo của sư phạm đức tin: gặp gỡ Thiên Chúa Như chúng ta đã biết, việc học giáo lý không giống như việc học các bộ môn văn hóa khác. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêdictiô XVI đã khẳng định trong tác phẩm “Thiên Chúa và Trần Thế”: “Niềm tin vào Thiên Chúa không phải là một kiến thức mà tôi có thể học được, như tôi học toán hay hóa học […]. Bởi đức tin đòi hỏi toàn lực đời sống, ý chí, tình yêu và bước ra khỏi mình”. Quả thật, việc giáo dục đức tin có một nét độc đáo riêng. Người thụ huấn được mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa một cách tự do bằng đối thoại với Ngài và nhận ra những giáo huấn của Ngài để hoán cải nội tâm. Nhờ đó, họ cảm nhận niềm hạnh phúc của người có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa vàbày tỏ những cảm nhận sâu sắc này raqua lời nói cũng như hành động. Chúng tacó thể tóm tắt tiến trình gặp gỡ Thiên Chúa qua 3 chữ: mở trí (đối thoại, tìm hiểu), mở tâm (mở lòng để đón nhận, đi đến hoán cải nội tâm) và mở tay (đáp trả bằng cuộc sống và lời rao giảng). a. Mở trí: đối thoại Qua những cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giêsu và các nhân vật trong Tin Mừng, chúng ta nhận ra Ðức Giêsu luôn mời gọi con người đi vào cuộc đối thoại để đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Ví dụ: trong cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Samari, hoặc với ông Giakêu, người thu thuế, Ðức Giêsu đã có cuộc đối thoại, trò chuyện và mạc khải về Thiên Chúa, Ðấng Cứu độ đầy yêu thương và tha thứ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở gặp gỡ và đối thoại thì chưa đủ. Có rất nhiều người đã nghe và đối thoại với Ðức Giêsu, nhưng tâm hồn họ vẫn còn đóng kín. Như vậy, mở trí làbước khởi đầu củatiến trình gặp gỡ với Thiên Chúa. Mở trí chuẩn bị cho bước chính yếu kế tiếp, mở tâm (hoán cải). b. Mở tâm: hoán cải Từ sự gặp gỡ và đối thoại với Ðức Giêsu, con người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu mời gọi họ nhận ra tình trạng hiện tại của bản thân và hoán cải. Khi gặp gỡ Giakêu, Ðức Giêsu đã không đòi hỏi ông bất cứ điều gì, ngoài lời đề nghị: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”Lời đề nghị này đã làm ông rung chuyển cõi lòng. Thật vậy, Giakêu đã cảm nhận được tình yêu thương của Thiên Chúa một cách sâu sắc. Thiên Chúa đã không chê ghét ông như những người đồng hương sống chung quanh ông. Ðối với họ, ông chỉ là kẻ tội lỗi. Cuộc đối thoại với Ðức Giêsu đã giúp ông Giakêu bắt gặp chân dung một Thiên Chúa từ nhân. Cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương, Giakêu đã hoán cải và thay đổi cuộc sống. Khi gặp gỡ người phụ nữ Samari, Ðức Giêsu đã đưa chị đi vào cuộc đối thoại về một đề tài rất đời thường, đề tài “nước”. Qua hình ảnh quen thuộc này, Ngài hướng dẫn chị hiểu biết về một loại nước khác, “Nước Hằng Sống”. Ðức Giêsu còn mạc khải cho chị rằng chính Ngài là Ðấng ban nước hằng sống, là Ðấng Messia là Ðấng Kitô. Từ cảm nghiệm về cuộc gặp gỡ này, người phụ nữ Samari đã bày tỏ lòng sám hối cách tự nguyện như ông Giakêu đã làm. Sự chân thành đối thoại và ước muốn thay đổi đời sống đã đưa dẫn đưa họ đến với đức tin. Họ chọn lựa thay đổi và sẵn sàng chấp nhận trả giá cho những chọn lựa của chính họ. Qua những ví dụ nêu trên, chúng ta thấy giai đoạn nội tâm hóa rất quan trọng trong tiến trình giáo dục đức tin. Đây chính là giai đoạn mà bản thân người thụ huấn phải quyết định cho việc hoán cải chính họ. Theo tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới, cuộc hoán cải trong việc giáo dục đức tin rất quan trọng và cần được duy trì[5] để giúp con người ngày càng đạt đến sự hoàn thiện như lời mời gọi của Ðức Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện”(Mt 5, 48). Và Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI cũng nhấn mạnh: “Sẽ không có được thật nhiều tín hữu, nếu nội dung rao giảng không nhập được tâm của họ, để họ có thể thốt lên rằng: Ðúng, những gì tôn giáo nói quả là những điều tôi cần”[6]. Đức Thánh Cha đưa ra ví dụ cụ thể tại chính quê hương của ngài, nơi chương trình và việc dạy giáo lý trong trường học đều do các giáo phận đảm trách: “Ở nước Ðức, các em từ 9 tới 13 tuổi được học giáo lý trong trường học. Nhưng rồi tại sao chẳng còn gì đọng lại nơi các em, thật không hiểu nổi!”[7]Như vậy, Ðức Thánh Cha muốn nhấn mạnh, nội tâm hóa những điều đã học trong giáo lý là yếu tố thiết yếu trong giáo dục đức tin. Như vậy chúng ta có thể hiểu được nguyên nhân sâu xa tại sao cùng một bài giảng, cùng một thầy dạy là Ðức Giêsu nhưng người này tin, kẻ khác lại chống đối. Thực tế cho chúng ta thấyrằng cùng được giáo dục như nhau, có người có đức tin, nhưng vẫn có người thờ ơ và vô tâm. c. Mở tay: đáp trả Ðức tin được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể. Thánh Giacôbê đã khẳng định: “Ðức tin không có việc làm là đức tin chết.”Thật vậy, những người đã tin phải có cuộc sống đi đôi với điều họ tin. Khi cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa và tin vào lòng nhân hậu và tha thứ của Ngài, Giakêu đã tự thay đổi để sống đúng phẩm giá, đúng lẽ công bình và bác ái. Khi nhận ra được chân dung của Thiên Chúa và yêu mến Người, người phụ nữ Samari đã trở thành môn đệ đích thực của Chúa: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng”(Ga 4,39). Quả thật, khi cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời, con người không thể im lặng để chỉ giữ riêng cho bản thân nhưng họ có nhu cầu chia sẻ niềm vui này cho mọi người bằng nhiều cách, bởi vì “Niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi”. Tuy nhiên, chia sẻ niềm vui được ơn đức tin không phải là một việc tùy ý nhưng là một trách nhiệm của mọi người, vì đã là Kitô hữu có nghĩa là phải truyền giáo. Nếu là người yêu mến đức tin, người Kitô hữu có trách nhiệm phải làm chứng cho đức tin, thông truyền đức tin đến người khác để có thêm nhiều người tham dự vào niềm tin Kitô. Thiếu nhiệt huyết truyền giáo là thiếu nhiệt tình với đức tin[8]. Như vậy, giáo dục đức tin là cuộc gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa, đối thoại với Ngài, cảm nhận được tình yêu của Ngài để rồi sống và loan báo niềm vui được yêu thương cho anh chị em xung quanh. 2. Bảy bước căn bản của phương pháp Khai tâm Kitô giáo[9]: Trong Huấn giáo, cuộc gặp gỡ Thiên Chúa được xem là những bước trong tiến trình khai tâm Kitô giáo. Khai tâm Kitô giáo chính là mở lòng con người ra đón nhận mạc khải: Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Ðức Giêsu, nhờ Thánh Thần và qua Giáo hội, mà biến cố trọng tâm của kinh nghiệm Kitô giáo là cái chết và sự phục sinh của Ðức Kitô, để hoán cải đời sống và hiệp thông trong đời sống mới nơi Ðức Kitô. Khi áp dụng phương pháp khai tâm Kitô giáo, người giáo lý viên cần lưu ý bảy điểm sau:

Đọc toàn bài tại tgpsaigon.net