Như đã thấy, thần học đang phải đối diện với những khó khăn đặc biệt trong việc xác định cho thích đáng và minh bạch “bản tính” và “sự sống” của Chúa Thánh Thần. Sở dĩ phải dùng đến các từ “bản tính” và “sự sống” ở đây là bởi vì tất cả mọi thuật ngữ được dùng để nói về Thiên Chúa đều mang tính cách loại suy; và ở đây, với đối tượng nhắm tới là Chúa Thánh Thần, phép loại suy lại càng phải hơn bao giờ hết, được dùng đến. Nói về Ngôi Hai, Kinh Thánh dùng một số danh hiệu như: Giêsu, Con, Kitô, Lời,… có thể giúp gầy dựng nên các dạng loại Kitô học khác nhau. Còn đối với Ngôi Ba, ngữ vựng được dùng để giới trình tỏ ra là phong phú hơn nhiều nhưng cũng mơ hồ hơn rất nhiều, như: gió, nước, hơi thở, dấu ấn, việc xức dầu, ân huệ, tình yêu, v.v., và từ đó cũng đã làm phát sinh nhiều dạng Thần khí học, tức rất nhiều cách hiểu về Chúa Thánh Thần. Chỉ có một đức tin duy nhất, song lại có nhiều dạng loại thần học khác nhau. Phương Đông cũng như phương Tây đều đề xuất nhiều cách hiểu khác biệt nhau về Ba Ngôi, cách riêng là về Chúa Thánh Thần. Giữa tình trạng bất đồng đó, vấn đề nhiệm xuất của Thánh Thần đã trở thành một chủ đề nổi bật, đưa đến những tranh luận gay gắt, và rốt cuộc, đã được dùng làm lý chứng thần học biện minh cho việc chia rẽ chính trị vốn đã ngấm ngầm âm ỉ từ lâu.[1]