Đa-ni-en — Sách Ngôn sứ Đa-ni-en
Đa-ni-en
DẪN NHẬP SÁCH ĐA-NI-EN
Sách Đa-ni-en
Trong bộ Cựu Ước Do-thái, sách Đa-ni-en nằm trong số các sách gọi là các “tác phẩm (khác)” (“KütûBîm” : các Thánh vịnh, Gióp, Châm ngôn, Rút, Diễm ca, Giảng viên, Ai ca, Ét-te, Đa-ni-en, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a, 1 và 2 Sử biên niên), sau Ét-te và trước Ét-ra.
Trong bộ Kinh Thánh Hy-lạp và các bản dịch khác, sách Đa-ni-en lại được kể vào số các sách ngôn sứ, sau Ê-dê-ki-en.
Độc giả nhận thấy có ba ngôn ngữ trong sách Đa-ni-en : Do-thái (1,1 – 2,4a ; 8-12) ; A-ram (2,4b – 7,28) ; Hy-lạp (3,24-50.51-90 ; 13,1-64 ; 14,1-22.23-42). Bản văn Do-thái không có những đoạn bằng tiếng Hy-lạp ; những đoạn này chỉ nằm trong LXX và bản Thê-ô-đô-xi-on (Théodotion). Truyền thống công giáo coi những đoạn này thuộc quy điển (Canon) của Kinh Thánh, tuy chỉ được thêm sau này ; do đó, người ta thường gọi những đoạn này là những phần bổ sung “quy điển thứ” (suppléments “deutérocanoniques”). Các Giáo Hội Tin lành không công nhận những phần này thuộc bộ Kinh Thánh.
Tại sao có hiện tượng ba ngôn ngữ trong sách Đa-ni-en ? Đó còn là một điều bí ẩn ! Theo một giả thuyết, có thể tác giả trước hết đã viết các chương 2-7 bằng tiếng A-ram là tiếng thông dụng vào thời đó tại Pa-lét-tin ; rồi tác giả tiếp tục viết tác phẩm bằng tiếng Híp-ri, vì chịu ảnh hưởng của phong trào quốc gia dấy lên do cuộc nổi dậy của nhà Ma-ca-bê (x. 2 Mcb 7,8.21.27) hoặc vì các vấn đề nói trong các chương 8-12 linh thiêng quá, do đó tác giả đã dùng tiếng Híp-ri. Đn 1 có thể đã được soạn thảo hoặc soạn thảo lại bằng tiếng Híp-ri. Theo một giả thuyết khác, đầu tiên có lẽ toàn tác phẩm (trừ 9,4-20) được soạn thảo bằng tiếng A-ram, rồi được dịch ra tiếng Híp-ri vì hai lý do sau đây (hoặc ít nhất một trong hai lý do) : 1) bảo đảm cho cuốn sách có một vị trí trong quy điển của Kinh Thánh Do-thái ; 2) chú trọng đến phong trào quốc gia, như đã nói ở trên.
Những đoạn “quy điển thứ” chỉ được giữ lại bằng tiếng Hy-lạp và rõ ràng bắt nguồn từ một nguyên bản A-ram hay Híp-ri. Chúng ta không biết khi nào tác giả (hoặc soạn giả) đã ghép những đoạn bằng tiếng Hy-lạp vào bản A-ram và Híp-ri. Dù sao đi nữa, tác giả (hoặc soạn giả) cuối cùng nghĩ không cần chỉ giữ một ngôn ngữ trong sách Đa-ni-en.
Bố cục
I. CÁC TRÌNH THUẬT (1,1 – 6,29)
1. Trẻ em Do-thái tại triều đình vua Na-bu-cô-đô-nô-xo (1,1-21)
2. Chiêm bao của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo : pho tượng kỳ quái (2,1-49)
– Nhà vua hỏi các thầy bói toán (2,1-13)
– Ông Đa-ni-en can thiệp (2,14-45)
– Vua tuyên xưng lòng tin (2,46-49)
3. Thờ lạy tượng vàng (3,1-30)
– Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo dựng tượng vàng (3,1-7)
– Người Do-thái bị tố cáo và kết án (3,8-23)
– Thánh ca của A-da-ri-a trong lò lửa (3,24* – 50*)
– Thánh ca của ba thanh niên trong lò lửa (3,51* – 90*)
– Vua nhìn nhận phép lạ (3,24-30)
4. Điềm báo mộng và cơn điên của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo (3,31 – 4,34)
– Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo kể lại giấc chiêm bao (4,1-15)
– Ông Đa-ni-en giải mộng (4,16-24)
– Giấc mơ thành hiện thực (4,25-34)
5. Bữa tiệc của vua Bên-sát-xa (5,1 – 6,1)
6. Ông Đa-ni-en trong hầm sư tử (6,2-29)
– Lòng ganh tị của các thống đốc (6,2-10)
– Ông Đa-ni-en cầu nguyện (6,11-16)
– Ông Đa-ni-en bị quăng vào hầm sư tử (6,17-25)
– Lời tuyên xưng đức tin của vua Đa-ri-ô (6,26-29)
II. CÁC THỊ KIẾN (7,1 – 12,13)
1. Giấc mộng của ông Đa-ni-en : bốn con thú (7,1-28)
– Thị kiến về các con thú (7,1-8)
– Thị kiến về Đấng Lão Thành và về Con Người (7,9-14)
– Giải thích thị kiến (7,15-28)
2. Thị kiến của ông Đa-ni-en : cừu đực và dê đực (8,1-27)
– Thị kiến (8,1-14)
– Thiên sứ Gáp-ri-ên giải thích thị kiến (8,15-27)
3. Lời tiên tri về bảy mươi tuần (9,1-27)
– Lời kinh của ông Đa-ni-en (9,1-19)
– Thiên sứ Gáp-ri-ên cắt nghĩa lời tiên tri (9,20-27)
4. Thị kiến lớn (10,1 – 12,13)
A. Thời thịnh nộ (10,1 – 11,39)
– Thị kiến về người mặc áo vải gai (10,1-8)
– Thiên sứ hiện ra (10,9-19)
– Lời báo trước (10,20 – 11,2a)
– Những cuộc chiến đầu tiên giữa nhà Xê-lêu-cô và nhà La-gô (11,2b-20)
– An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê (11,21-39)
B. Thời cùng tận (11,40 – 12,13)
– Ngày tận số của kẻ bách hại (11,40 – 12,1)
– Sống lại và thưởng phạt (12,2-4)
– Lời sấm được niêm phong (12,5-13)
III. PHỤ TRƯƠNG (13,1 – 14,42)
1. Bà Su-san-na và phán quyết của ông Đa-ni-en (13,1-64)
2. Thần Ben và con rắn (14,1-42)
– Ông Đa-ni-en và các tư tế của thần Ben (14,1-22)
– Ông Đa-ni-en giết con rắn (14,23-30)
– Ông Đa-ni-en trong hầm sư tử (14,31-42)
Sách Đa-ni-en gồm hai phần chính (1,1 – 6,29 ; 7,1 – 12,13) và một phụ trương (13,1 – 14,42). Phần thứ I có 6 truyện về ông Đa-ni-en và ba người bạn Do-thái tại triều đình Ba-by-lon dưới thời các vua : Na-bu-cô-đô-nô-xo, Bên-sát-xa và Đa-ri-ô (1) 1,1-21 ; 2) 2,1-49 ; 3) 3,1-30 ; 4) 3,31 – 4,34 ; 5) 5,1 – 6,1 ; 6) 6,2-29). Ba thị kiến (1) 7,1-28 ; 2) 8,1-27 ; 3) 10,1 – 12,13) và lời tiên tri về bảy mươi tuần (9,1-27) thuộc phần thứ II. Thiên Chúa đã cho ông Đa-ni-en thấy những thị kiến này tại Ba-by-lon dưới thời các vua Bên-sát-xa, Đa-ri-ô và Ky-rô. Ngoài ra, một phụ trương gồm ba truyện (1) 13,1-64 ; 2) 14,1-22 ; 3) 14,23-30) và trình thuật về ông Đa-ni-en trong hầm sư tử (14,31-42). Phần phụ trương này được ghép vào hai phần trên ở cuối cuốn sách.
Thể văn
“Midrash haggadah”
Sau khi đọc Đn 1 ; 3-6, độc giả tinh ý có thể nhận ra những nhân tố liên kết phần thứ I (trừ Đn 2) của sách Đa-ni-en với thể văn “midrash haggadah”. “Midrash” có nghĩa là sự tìm kiếm, việc học hỏi, công việc nghiên cứu. “Midrash” thường được dùng để chỉ nỗ lực tìm hiểu một bản văn Kinh Thánh, giải thích và trình bày ý nghĩa Kinh Thánh cũng như ứng dụng vào cuộc sống cụ thể. Từ này cũng được sử dụng để chỉ cố gắng dựa vào những yếu tố không thuộc lãnh vực Kinh Thánh mà viết ra những trình thuật Kinh Thánh.
Có thể chia “midrash” làm hai loại chính yếu : “halakah” và “haggadah”. “Midrash halakah” chú trọng đến những bản văn Kinh Thánh có tính cách luật pháp nhằm tìm hiểu và khám phá các quy luật về đời sống và hoạt động thích hợp với thời đại mới và hoàn cảnh mới. “Midrash haggadah” nhắm các bản văn Kinh Thánh không mang tính cách luật pháp. Có thể phân biệt ba hình thức thuộc loại này : 1) hình thức chú giải : cắt nghĩa từng câu trong bản văn Kinh Thánh ; 2) hình thức giảng huấn (homilétique) : giải thích bản văn Kinh Thánh trong một bài giảng huấn ; 3) hình thức trình thuật : dùng các truyền thống ngoài Kinh Thánh, những truyền thuyết và trình thuật, những nhân vật và dự kiện để viết ra các trình thuật Kinh Thánh. Tất cả ba hình thức vừa kể đều nhắm đưa ra một giáo huấn, một bài học hoặc lời khuyên liên quan đến lòng tin và cuộc sống của thính độc giả.
Đn 1 ; 3-6 thuộc loại “midrash haggadah” theo hình thức thứ ba là hình thức trình thuật.
“Pesher midrash”
Trong sách Đa-ni-en, chương 9 thuộc thể văn “pesher midrash”. Đó là đoạn liên quan đến Gr 25,11-12 và 29,10. Bản văn ngôn sứ này nói về thời gian bảy mươi năm trước khi cuộc lưu đày kết thúc. Tác giả của sách Đa-ni-en giải thích, cắt nghĩa bản văn ngôn sứ và áp dụng cho thời Ma-ca-bê. Bảy mươi năm biến thành bảy mươi tuần và chia làm ba giai đoạn : 1) bảy tuần ; 2) sáu mươi hai tuần ; 3) một tuần (9,24-27). Từ Ba-by-lon, Thiên Chúa đã đưa dân Người về quê cha đất tổ ; Người sẽ không để dân Người rơi vào tay vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê.
Thể văn khải huyền
Từ “khải huyền” dịch từ Hy-lạp “apocalypsis” có nghĩa là sự tỏ bày. Người Do-thái sử dụng từ này để chỉ loại văn nhắm mục tiêu tỏ bày tương lai, cách riêng thời cuối cùng. Nhờ các thị kiến, Thiên Chúa mặc khải kế hoạch của Người về nhân loại : cuộc phán xét cánh chung sẽ diễn ra, và một thời mới, thời chan chứa hạnh phúc bất tận, sẽ bắt đầu. Đn 2 ; 7-8 ; 10-12 gồm những đoạn mang tính cách khải huyền. Tác giả dùng kiểu hành văn cố tình bí nhiệm, mù mờ để trình bày diễn tiến các sự việc xảy ra. Thể văn khải huyền hay nói đến các thiên thần có nhiệm vụ tỏ bày những điều bí ẩn của Thiên Chúa. Trong các đoạn mang hình thức khải huyền, độc giả có thể nhận ra điểm này : Thiên Chúa hằng hoạt động trong lịch sử nhân loại ; Người tìm đủ mọi cách để thực hiện ý định của Người ; những kẻ bách hại không thể đạt tới mục tiêu của họ. Thể văn này xuất hiện vào một giai đoạn khủng hoảng (trong thực tế từ thế kỷ II tCN đến thế kỷ II sau CN) và như thế đem lại cho độc giả niềm hy vọng cậy trông giữa bao cảnh thử thách gian nan.
Niên biểu
Theo quan niệm thông thường của rất nhiều người, sách Đa-ni-en đã được soạn thảo vào thế kỷ VI tCN, nghĩa là vào cuối thời lưu đày tại Ba-by-lon và ngay sau đó. Nhưng dựa vào lịch sử, ngôn ngữ và đạo lý, chắc phải công nhận là tác phẩm này đã ra đời vào thế kỷ II tCN :
Lịch sử
1. Tác giả chỉ đưa ra một cái nhìn mơ hồ, đôi khi không ăn khớp với lịch sử của thế kỷ VI vào thời các đế quốc Ba-by-lon và Ba-tư : a) Không thấy có một cuộc lưu đày nào xảy ra năm thứ ba đời vua Giơ-hô-gia-kim cai trị xứ Giu-đa như Đn 1,1-2 đã ghi ; b) Theo Đn 5,1-2, Bên-sát-xa là vua con kế vị vua Na-bu-cô-đô-nô-xo ; nhưng thực sự, theo lịch sử, Na-bô-nít (Nabonide) (555-538) là vua thứ tư kế vị vua Na-bu-cô-đô-nô-xo và Bên-sát-xa là con vua Na-bô-nít, không bao giờ lên ngôi vua và như thế không thể trực tiếp kế vị vua Na-bu-cô-đô-nô-xo (604-562) ; c) Đn 6,1 ; 9,1 và 11,1 nói về ông “Đa-ri-ô, người Mê-đi-a” ; lịch sử không hề biết đến nhân vật này. Trong các vua Ba-tư, vua thứ ba mang tên Đa-ri-ô đệ nhất (522-486) lại không phải là người Mê-đi-a ; d) Trong số các vua Ba-by-lon, không hề có ai mang tên “Bên-sát-xa” như Đn 7,1 đã ghi ; đ) Không có một vua Đa-ri-ô nào (đệ nhất, đệ nhị, đệ tam) cai trị Ba-by-lon cả (xem Đn 9,1).
2. Trái lại, trong chương 11, tác giả nói một cách thông thạo về cuộc tranh chấp giữa nhà Xê-lêu-cô và nhà La-gô, về lịch sử thế kỷ II tCN (vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê thời Ma-ca-bê ...)
Nếu sách Đa-ni-en là một tác phẩm thuộc thế kỷ VI tCN, thì tác giả đã cung cấp cho độc giả một số chi tiết minh bạch và chính xác về các nhân vật và sự kiện thuộc thời đó rồi ; ngoài ra, những gì liên quan đến thời sau này cũng chỉ được đề cập đến cách mù mờ thôi. Nhưng thực ra, mọi sự đều ngược hẳn.
Ngôn ngữ
1. Trong cả cuốn sách Đa-ni-en có một số từ Ba-tư, (ví dụ : “raz” trong 2,18), và mấy từ Hy-lạp (x. Đn 3,5.7.10.15). Đó là một dấu cho thấy : sách Đa-ni-en thuộc giai đoạn muộn thời, nhất là thời nằm sau cuộc chiến thắng của A-lê-xan-đê Đại đế (331-323).
2. Theo các nhà ngữ học chuyên về lãnh vực ngôn ngữ Kinh Thánh, tiếng Híp-ri trong sách Đa-ni-en thuộc giai đoạn sau thời Ét-ra và Nơ-khe-mi-a, nghĩa là sau thế kỷ V tCN. Chắc chắn tiếng A-ram trong sách Đa-ni-en cũng là tiếng sử dụng vào thời sau thế kỷ V tCN.
Đạo lý
Sách Đa-ni-en đề cập tới vài điểm đạo lý : các thiên thần, thời cùng tận, sự sống lại, vấn đề thưởng phạt. Một người sống trong thế kỷ VI không thể có những suy nghĩ về những điểm đạo lý đó được.
Vị trí trong quy điển Do-thái
Sách Đa-ni-en không nằm trong số các sách ngôn sứ, nhưng trong số các “tác phẩm (khác)” (“KütûBîm”). Sự kiện này có nghĩa là bộ sách các ngôn sứ đã hoàn thành, khi sách Đa-ni-en xuất hiện.
Tất cả những lý do vừa kể bắt chúng ta phải công nhận : sách Đa-ni-en không thể được soạn thảo vào thế kỷ VI tCN, nhưng sau này : nói chung, vào thời Ma-ca-bê ; theo nhiều học giả : giữa năm 167 và năm 164 là năm vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê qua đời (gần năm 164, ít lâu trước năm 164 : xem Đn 11,45).
Tác giả
Nói chung, sách Đa-ni-en có một kiểu trình bày tương tự như một số các sách ngôn sứ khác : những trình thuật về cuộc đời của nhân vật chính (1-6) ; nhân vật chính nói về bản thân trong vài đoạn (đại từ ở ngôi thứ nhất số ít : “tôi” : 7,2-28 ; 8,1-27 ; 9,2-22 ; 10,2-18 ; 12,5-8) ; các chương mang tính cách khải huyền (7-12). Nhưng sách Đa-ni-en có một đặc điểm làm nổi bật sự khác biệt của cuốn sách này đối với các sách ngôn sứ khác. Quả thật, trong khi tác giả nói rõ về các vua thuộc thế kỷ VI tCN (Na-bu-cô-đô-nô-xo : 1-4 ; Ky-rô : 10,1) và hai vua khác không thấy tên tuổi trong lịch sử thời ấy (Bên-sát-xa : 5 ; 7 ; 8, và Đa-ri-ô người Mê-đi-a : 6 và 9), thì độc giả nhận thấy rằng sách Đa-ni-en ám chỉ những nhân vật và các sự kiện thuộc thời sau từ thế kỷ IV cho đến thế kỷ II tCN : A-lê-xan-đê Đại Đế (331-323) : 8,5.8.21 ; 11,3 ; nhà Xê-lêu-cô : chẳng hạn vua An-ti-ô-khô II (261-246) : 11,11 ... ; nhà La-gô : ví dụ vua Pơ-tô-lê-mê đệ nhất (304-285) : 11,5, vua Pơ-tô-lê-mê IV (222-204) : 11,11 ... ; trong nhà Xê-lêu-cô, đặc biệt vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê (175-164) : 7,8.25 ; 8,9.10-12.17.23 ; 9,26 ; 11,21.35.36.40.45 ; 12,6. Đàng khác, Ed 14,14 ; 28,3 nói đến “Danel”. “Danel” là vị anh hùng, nhân vật chính trong các thi phẩm của Râs Shamra (thế kỷ XIV tCN). Đó là một truyền thống cổ xưa, có lẽ chung cho các dân Ca-na-an. “Danel” và Daniel” có một từ gốc chung : “dan” (ở ngôi thứ ba số ít) do “diân” có nghĩa là xét xử ; “el” là Thiên Chúa. “Danel” là “Thiên Chúa xét xử”, còn “Daniel” có nghĩa là “Thiên Chúa xét xử tôi”. Theo truyền thống cổ xưa, “Daniel” được coi như một nhân vật nổi tiếng về sự khôn ngoan, công chính và trung thành với thần minh, với Thiên Chúa. Những đức tính và thái độ đó làm cho nhân vật “Daniel” đáng được coi như một điển hình để tạo nên một thể văn mới mang tính cách ngôn sứ và giáo huấn. Có lẽ, nhân vật “Daniel” đã để lại một dấu vết nhỏ trong Hs 14,10 là lời của một nhà hiền triết nặc danh, soạn giả cuối cùng của sách Hô-sê.
Như thế, Đa-ni-en không phải là tác giả của sách Đa-ni-en, nhưng chỉ là nhân vật chính trong cuốn đó. Vậy tác giả là ai ?
Chung chung, các học giả cho rằng người đã thực sự soạn thảo sách Đa-ni-en là một tác giả nặc danh. Theo kiểu thực hành thời xưa, tác giả của những tác phẩm tôn giáo cũng như ngoài tôn giáo không tỏ mình, thường dấu tên ẩn mình sau một nhân vật có tên tuổi. Điển hình là trường hợp vua Sa-lô-môn. Bởi vì vua này là một nhân vật khôn ngoan nhất trong thời đó (x. 1 V 4,9-14), nên ông được coi là tác giả của các sách : Châm ngôn (Cn 1,1 ; 10,1 ; 25,1) ; Khôn ngoan (9,7-8.12) ; Diễm ca (1,1). Nố của sách Đa-ni-en có một điểm tương tự, nhưng cũng có điểm dị biệt với những trường hợp khác. Tác giả thực thụ của sách Đa-ni-en thì nặc danh ; nhưng ông đã ẩn mình sau “Daniel”, một nhân vật trong truyền thống cổ xưa của Ca-na-an, chứ không phải một nhân vật lịch sử. “Daniel” đã được chọn, vì sự khôn ngoan, công chính và trung thành với thần minh là những đức tính thích hợp với mục tiêu và nội dung của sách Đa-ni-en.
Để hiểu rõ hơn tác giả nặc danh, chúng ta có thể tự hỏi : phải chăng tác giả đã theo phong trào người “Hásîdîm”, nghĩa là những người “đạo đức”, “trung thành” (1 Mcb 2,42) ? Những người này tuyệt đối trung thành với Lề Luật và mạnh mẽ chống lại mọi nỗ lực Hy-lạp hoá, ngoại giáo hoá dân tộc Ít-ra-en. Cuộc nổi dậy của nhà Ma-ca-bê được họ hết mình hỗ trợ (2 Mcb 14,6), bao lâu cuộc nổi dậy này còn mang tính cách tôn giáo. Sách Đa-ni-en cũng chủ trương một đường lối như phong trào người “Hásîdîm” bênh vực, duy trì mọi yêu sách của đạo Do-thái và dân tộc Ít-ra-en. Nhưng tác giả không hề nói đến việc sử dụng khí giới, vũ lực để chống lại những kẻ vi phạm Lề Luật và Giao ước. Do đó, chắc tác giả chỉ theo tinh thần của phong trào, chứ không phải là một thành viên thực thụ.
Mặc dù Đa-ni-en, nhân vật chính, không phải là một nhân vật lịch sử đóng vai trò ngôn sứ, tác giả muốn trình bày sứ điệp mặc khải cho chúng ta nhờ nhân vật chính đã nhận và giải thích các thị kiến của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta dễ hiểu tại sao sách Đa-ni-en đã được kể vào số các sách ngôn sứ trong bộ Kinh Thánh Hy-lạp và các bản dịch khác.
Đạo lý
Sách Đa-ni-en đưa ra một cái nhìn khá rộng và sâu về mối tương quan của Thiên Chúa với lịch sử nói chung, với lịch sử dân tộc và tôn giáo Ít-ra-en nói riêng. Tác giả có một tâm thức sắc bén về sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử. Nội dung chính yếu của sách Đa-ni-en tập trung vào quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa trên mọi nhân vật và biến cố trần gian.
Thiên Chúa và quyền tối thượng của Người
Trong thế giới chung quanh Ít-ra-en vào thế kỷ II tCN, dân chúng diễn tả những tâm tình tôn giáo hoặc muốn bảo vệ quyền lợi của cá nhân và gia đình nhờ lòng sùng bái các thần minh (3,12.14.18 ...), các tượng thần (3,1-7.10-11.12.14-16.18 ; 5,4.23 ; 14,3-8 ...) hoặc loài động vật (14,23-24) ; vua cũng ưa thích thần dân tỏ lòng tôn kính đối với bản thân như đối với các thần (6,8.13). Sống trong bầu khí đó, Ít-ra-en lại càng có nhu cầu đề cao và bảo vệ đạo độc thần.
Trong sách Đa-ni-en, hết mọi loài thụ tạo ca ngợi vinh quang của Thiên Chúa duy nhất (3,52*-90*), nên các quyền lực chính trị phải công nhận quyền tối thượng của Người trên họ (4,31-32 ; 5,23 ...), bởi vì mọi quyền bính đều phát xuất từ Thiên Chúa (2,37-38 ; 4,22b.29b ; 5,18-19 ...). Người là Thiên Chúa duy nhất (14,41), Đấng làm chủ thời gian và lịch sử (2,20-23a ...), Đấng giữ độc quyền mặc khải các điều bí nhiệm (2,18-19.22.28.29b-30a.47). Đây đó trong sách Đa-ni-en, tác giả tán dương Thiên Chúa và đưa ra nhiều tước hiệu diễn tả vị trí và quyền năng vô song, tuyệt đối của Người đối với các thần minh, các thiên thần và các vua chúa, đối với vũ trụ, trời đất, đối với dân tộc Ít-ra-en : Người là “Thiên Chúa”, là “Chúa Thượng” (9,3), là “Thần các thần” (2,47 ; 3,90* ; 11,36), là “Thống Lãnh các đạo binh” (8,11) ; Thiên Chúa là “Đấng Vua trời” (4,34), là “Chúa Tể trời cao” (5,23) ; Người làm chủ tứ thời bát tiết (2,21), là “Chúa Tể, là Thiên Chúa duy nhất quang vinh trên khắp cõi trần gian” (3,45*) ; Người là “vị Thủ Lãnh tối cao” (8,25), là “Chúa tể các vua” (2,47), là “Đấng Lão Thành” (7,13-14) trao cho Con Người quyền thống trị muôn dân (4,14.22.29), là Thiên Chúa của dân tộc Ít-ra-en (2,23 ; 3,26*-45*).
Thiên Chúa và lịch sử
Thiên Chúa của sách Đa-ni-en là Đấng “am tường những điều bí ẩn” và thấy trước mọi biến cố sẽ xảy ra trong trần gian (13,42 ; x. 2,28-29). Vì thế, việc mặc khải những điều thẳm sâu bí ẩn, những điều bí nhiệm hoàn toàn thuộc quyền của Người (2,22.28.29b.30a.47).
Sách Đa-ni-en lại còn cho thấy : Thiên Chúa hằng hoạt động trong lịch sử và điều khiển lịch sử. Mọi biến cố xảy ra chẳng phải là hiệu quả của sự ngẫu nhiên, của chuyện tình cờ hoặc của số mệnh đã định sãn. Nhưng đó là ý định đời đời của Thiên Chúa được thực hiện trong thời gian. Đn 4,32 diễn tả ý này cách minh bạch : “Theo ý muốn của Người, Thiên Chúa điều khiển cả đạo binh trên trời, lẫn cư dân dưới đất. Chẳng có ai cản được tay Người và dám hỏi rằng : Ngài làm gì thế ?” Ngay cả vua chúa cũng phải công nhận rằng Thiên Chúa đã thực hiện bao việc lạ lùng trên mặt đất (vua Na-bu-cô-đô-nô-xo : 3,32-33 ; vua Đa-ri-ô : 6,28). Quyền năng của Người nổi bật trong những lần can thiệp vào những bước thăng trầm của các vương quốc trần gian : phế lập các vua (2,21 ; 5,19.23-28), hạ bệ kẻ quen thói kiêu căng (4,34), đặt kẻ hèn mọn lên cầm đầu (4,14), trao vương quốc loài người cho kẻ nào Người muốn (4,14.22.29 ; 5,21), cho dân thánh của Đấng Tối Cao (7,18.27) ...
Đứng trước Thiên Chúa cao cả và hoàn toàn siêu việt, các vương quốc trần gian cứ liên tục kế tiếp nhau và dần dần biến mất trong thời gian : Ba-by-lon (đầu bằng vàng ; x. 2,32.38) ; Mê-đi-a (ngực và hai cánh tay bằng bạc ; x. 2,32.39) ; Ba-tư (bụng và hai bắp đùi bằng đồng ; x. 2,32.39) ; Hy-lạp (hai bắp chân bằng sắt ; x. 2,33-40) ; từ năm 305 trở đi, sau khi A-lê-xan-đê Đại đế băng hà, vương quốc Hy-lạp chia làm hai : vương quốc do nhà Xê-lêu-cô cai trị và vương quốc do nhà La-gô điều khiển. Thiên Chúa dùng một yếu tố hoặc những yếu tố bí nhiệm làm cho các vương quốc đó biến dần đi. Tác giả sách Đa-ni-en sử dụng một hình ảnh để chỉ yếu tố hoặc những yếu tố đó : “một tảng đá” (2,34.45) ; tảng đá ấy trở thành “một hòn núi lớn” (2,35).
Nhưng trong cả giai đoạn nằm trước thời vương quốc của Thiên Chúa, độc giả nhận thấy : có những vua chúa, những con người và nhóm người tỏ thái độ thù nghịch với Thiên Chúa, với đạo Do-thái và cũng có những tín hữu trung thành với Thiên Chúa, với đạo Do-thái.