Mi-kha — Sách Ngôn sứ Mi-kha
Mi-kha
DẪN NHẬP SÁCH MI-KHA
Tác giả
Mi-kha có nghĩa làai bằng Đức Chúa ?Tên của ông nói lên phần nào sứ mạng của ông. Thiên Chúa vượt trên mọi sự, chẳng aibằngNgười ; vì vậy, tất cả phải quy hướng về Người. Cảm nghiệm tính cách siêu việt của Thiên Chúa không làm Mi-kha tách rời khỏi chiều kích xã hội của con người. Có lẽ vì thế mà Mi-kha được mệnh danh là vịngôn sứ xã hội.
Sứ điệp của Mi-kha rất thời sự, đặc biệt đối với xã hội của thế kỷ XXI hôm nay. Với một nội tâm phong phú, cộng thêm cái nguồn gốc dân dã của một người nông dân miền Mô-rát-ti cách thủ đô Giê-ru-sa-lem không xa, đã làm cho Mi-kha nói lên những lời sấm cứ vang vọng mãi trong tâm hồn người đọc, người nghe. Những hình ảnh sống động, những lời lẽ đơn sơ mộc mạc, nhưng cương quyết và đanh thép như xoáy sâu vào tâm hồn thính giả, độc giả, làm mọi người cứ nhớ mãi và phải tự chất vấn lương tâm của mình (x. Gr 26,18). Trước cảnh tàn phá của Sa-ma-ri và trước viễn tượng Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá, ôngmuốn thương khóc và rống lên, sẽ rên rĩ như chó sói, khóc than như đà điểu(1,8). Với những kẻ trục lợi, ông nói thẳng :Muốn cánh đồng nào là chúng cướp lấy, muốn ngôi nhà nào là chúng chiếm đoạt(2,2). Khi hạch tội các thủ lãnh, ông dùng đến những hình ảnh diễn tả thật chính xác và thấm thía tội lỗi của họ :Các ông lột da khỏi thân người ta và lóc thịt khỏi xương của họ, chúng ăn thịt dân tôi ...(3,3). Đối với các ngôn sứ giả, ông cũng chẳng tha :Khi không ai cho gì vào miệng chúng, thì chúng lại mở cuộc thánh chiến tấn công họ(3,5). Quay sang các nhà chức trách, ông chẳng hề run sợ :Các ngươi xây Xi-on bằng máu, dựng Giê-ru-sa-lem bằng bất công(3,10). Dân chúng gian lận, ông lên tiếng cảnh cáo :Hỡi nòi gian ác, làm sao ta chịu nổi những của cải chiếm được bằng dối gian, ê-pha thiếu hụt ... Ta coi là liêm chính thế nào được những bàn cân gian trá, những túi đựng các quả cân gian ? Hạng giàu có trong thành thì hung hãn, còn dân thành lại quen ăn gian nói dối(6,10-12). Khi diễn tả hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ ông không giấu giếm :Kẻ hiếu trung đã biệt dạng khỏi xứ ... Thủ lãnh chuyên phiền hà, thẩm phán quen đòi quà hối lộ, bậc trưởng thượng buông lời độc ác, luân thường đạo lý bị ngửa nghiêng(7,3). Còn trong gia đình như một xã hội thu nhỏ thì :Con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch(7,6).
Đó là hình ảnh xã hội mà Mi-kha phải đối diện và rao giảng. Tuy nhiên, ông không quá bi quan nhìn xã hội. Đằng sau những lời trách cứ, ông thấy loé lên một nguồn ánh sáng và ông loan báo niềm hy vọng đó cho dân. Có hy vọng nào đẹp hơn hy vọng được diễn tả trong Mk 4,1-3 về núi Nhà Đức Chúa, cái đẹp của cả hình thức lẫn nội dung ; hay lời sấm về người phụ nữ sinh con ở Mk 5,1-3 đã trở thành nổi tiếng và hầu như ai cũng biết. Bố cục sách Mi-kha cứ xen lẫn giữa những lời răn đe, kết án và những lời hứa tốt đẹp ; có thể đó là công trình của các tác giả thời lưu đày và hậu lưu đày ; nhưng dù sao điều đó cũng phản ánh tâm trạng của Mi-kha. Ông là một ngôn sứ dám nói lên sự thật, sự thật của Thiên Chúa và sự thật về con người : Con người là kẻ tội lỗi, vong ân bội nghĩa và thích chạy theo những điều xấu xa ; còn Thiên Chúa thì thánh thiện, trung tín và hay thứ tha, sãn sàng quên hết mọi ngu dại của con người nếu họ thật lòng trở lại. Có lời trách cứ nào mà lại vang vọng đầy tình yêu thương và âu yếm như ở cc. 6,3-4 :Dân Ta hỡi, Ta đã làm gì ngươi ? Ta đã làm chi khiến ngươi phiền lòng ? Hãy trả lời cho Ta. Phải chăng ...Con người là một kẻ hay chạy theo cái bên ngoài và tưởng đó là điều chính yếu, còn Thiên Chúa lại đòi hỏi và yêu chuộng cái chính yếu tự trong tâm hồn :Điều Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường đi với Thiên Chúa của bạn(6,8) (x. Am 5,24 ; Hs 6,6 ; Is 1,17.26).
Con người Mi-kha là như thế đó : một người dám nói thẳng, nói thật, dám đối mặt với những bất công áp bức trong xã hội, và đấu tranh cho quyền sống của con người. Tuy nhiên, ông không dừng lại ở đó, ông đưa người ta đi tới cùng đích của cuộc đời, đó chính là Thiên Chúa. Nơi Mi-kha và nơi lời rao giảng của ông đã tổng hợp được một cách tuyệt vời chiều kích xã hội và chiều kích thần linh của con người :Đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường đi với Thiên Chúa(x. 6,8).
Tác phẩm và bố cục
Sách Mi-kha được lưu giữ lại trong một tình trạng không còn nguyên vẹn và có nhiều chỗ tối tăm, khó hiểu. Điều đó chứng tỏ rằng sách đã trải qua một quá trình lịch sử hình thành khá phức tạp. Các nhà chuyên môn có nhiều ý kiến thật khác nhau về việc hình thành sách cũng như về nguồn gốc của các chất liệu chứa đựng trong tác phẩm. Có người cho rằng chỉ có ch. 1 – 3 là của Mi-kha, các phần còn lại là của một số tác giả khác thêm vào trong hoặc sau thời lưu đày. Một số tác giả khác lại chấp nhận phần lớn chất liệu là của Mi-kha trừ một vài đoạn nhỏ, chẳng hạn 4,1-4 (x. Is 2,2-4) ; 2,12-13 ; 7,8-20. Cũng như những sách ngôn sứ khác, sách Mi-kha cũng đã trải qua một quá trình hình thành lâu dài và phức tạp. Đầu tiên, chính vị ngôn sứ rao giảng. Đến một lúc nào đó vì nhu cầu truyền thông và lưu giữ xuất hiện, chính vị ngôn sứ hoặc thư ký của ông tra tay viết lại những lời giảng đó. Theo dòng thời gian, các môn đệ hoặc bạn bè của vị ngôn sứ, vì lòng yêu mến hoặc vì nhu cầu thực tế của cộng đoàn, đã tra tay hoàn thiện cuốn sách. Dù sao những chất liệu được sửa đổi, thêm bớt có lẽ cũng đều dựa vào những ký ức, những kỷ niệm, những tài liệu khác có liên quan đến vị ngôn sứ.
Có nhiều cách phân chia bố cục khác nhau. Chúng ta theo cách chia bố cục truyền thống vẫn được nhiều người chấp nhận :
Lời giới thiệu tổng quát về tác giả và nội dung lời giảng (1,1)
I. Ít-ra-en bị kiện – Đe doạ và trừng phạt (1,2 – 3,12)
1. Án xử Sa-ma-ri (1,2-7)
2. Bài ai ca khóc các thành miền đất thấp (1,8-16)
3. Chống những kẻ trục lợi (2,1-5)
4. Ngôn sứ loan báo điều bất hạnh (2,6-11)
5. Lời hứa tái thiết (2,12-13)
6. Chống các thủ lãnh áp bức dân (3,1-4)
7. Chống các ngôn sứ hám lợi (3,5-8)
8. Báo cho nhà chức trách về cảnh điêu tàn của Xi-on (3,9-12)
II. Các lời hứa với Xi-on (4,1 – 5,14)
1. Triều đại tương lai của Đức Chúa ở Xi-on (4,1-5)
2. Đàn chiên tản mác được tập hợp ở Xi-on (4,6-8)
3. Xi-on bị bao vây, lưu đày và được giải thoát (4,9-10)
4. Các nước bị đập tan ở Xi-on (4,11-13)
5. Nguy khốn và vinh quang của vương triều Đa-vít (4,14 – 5,3)
6. Người sẽ chiến thắng Át-sua (5,4-5)
7. Vai trò tương lai của số còn sót lại giữa chư dân (5,6-7)
8. Đức Chúa sẽ loại bỏ mọi sức quyến rũ (5,8-14)
III. Ít-ra-en lại bị kiện cáo – Khiển trách và đe doạ (6,1 – 7,7)
1. Đức Chúa kiện cáo dân Người (6,1-8)
2. Chống sự gian giảo của dân thành (6,9-15)
3. Gương Sa-ma-ri (6,16)
4. Bất công ở khắp nơi (7,1-7)
IV. Niềm hy vọng (7,8-20)
1. Xi-on bị kẻ thù sỉ nhục (7,8-10)
2. Lời sấm tiên báo ngày hồi phục (7,11-13)
3. Cầu xin cho các nước phải hỗn độn (7,14-17)
4. Xin Thiên Chúa thứ tha (7,18-20)
Thời gian biên soạn
Một vài năm trước khi Mi-kha công khai rao giảng cho vương quốc Giu-đa ở phía nam, thì ở miền bắc, các ngôn sứ A-mốt và Hô-sê đã rao giảng và cảnh tỉnh dân Ít-ra-en. Sứ mạng các ông có phần nào giống nhau ở điểm : kêu gọi mọi người ăn năn thống hối, nếu không Thiên Chúa sẽ tiêu diệt họ. Và thực sự biến cố năm 721 tCN đã kết liễu số phận của Ít-ra-en (x. 1,2-7 ; 6,16). Năm 701 tCN, Xan-khê-ríp lại đánh chiếm các thành miền đất thấp (1,8-16). Xan-khê-ríp chắc cũng chẳng tha cho Giê-ru-sa-lem ! Mi-kha chắc đã sống những giây phút lịch sử sôi động này. Ông lớn tiếng kêu gọi dân Giu-đa ở phương nam từ bỏ con đường xấu xa tội lỗi để trở về với Thiên Chúa. Theo Mk 1,1 thì Thiên Chúa đã phán với Mi-kha dưới thời ba vị vua Giu-đa là Giô-tham, A-khát và Giơ-khít-ki-gia, tức là vào những năm 740-687 tCN. Tuy nhiên ở Gr 12,18-19, Giê-rê-mi-a nói đến việc Mi-kha thi hành sứ mạng dưới thời vua Giơ-khít-ki-gia (716-687 tCN). Như vậy, theo nội dung của sách, theo các chỉ điểm ở Mk 1,1 và Gr 12,18-19, chúng ta có thể kết luận rằng Mi-kha đã thi hành sứ mạng ngôn sứ vào giữa những năm 721-687 tCN.
Tuy nhiên, như đã nói ở phần trên, sách Mi-kha như chúng ta có hiện nay, đã được hình thành trong thời lưu đày hoặc sau thời lưu đày. Sách đã trải qua một quá trình hình thành phức tạp.