Na-khum — Sách Ngôn sứ Na-khum

vi

Na-khum

DẪN NHẬP SÁCH NA-KHUM

Tác giả

Na-khum có nghĩa làngười được an ủi, kẻ được củng cố. Làngười được an ủi, ông trở thành kẻ đem sự an ủi đến cho dân tộc của mình (2,1). Về con người của Na-khum, người ta chỉ biết có một điều và điều đó cũng chẳng rõ ràng bao nhiêu : ông là người En-cốt (1,1). En-cốt nằm ở nơi nào ? Có nhiều giả thuyết được đưa ra : có người cho nó ở miền Giu-đa, kẻ khác lại cho nó ở Ga-li-lê, người khác nữa lại cho nó nằm ở phía bắc Ni-ni-vê, và cũng có người cho nó chính là Ca-phác-na-um vì Ca-phác-na-um có nghĩa làlàng của Na-khum. Đọc qua bản văn, người ta nhận thấy Na-khum là một người nhạy cảm với thời cuộc và yêu mến quốc gia dân tộc của mình. Những biến cố chính trị, xã hội xảy ra ở các nước lân cận đều làm cho Na-khum quan tâm ; ông biết chúng là những tín hiệu và chúng mang một sứ điệp nào đó (1,9 – 2,1 ; 3,8-11). Nô A-môn của Ai-cập kiêu hùng và mạnh mẽ đã bị tàn phá tan hoang ư ? Ni-ni-vê sẽ cùng chung số phận ! Thành phố vấy máu đó đáng chịu hình phạt vì nó đã sản sinh ra một đứa con dám mưu toan làm điều dữ chống lại Đức Chúa (1,11). Quyền lực trần thế này dù có mạnh mẽ đến đâu rồi cũng sẽ qua đi ; cuối cùng chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng dẫn dắt lịch sử và chiến thắng trên mọi sự. Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử và cả vận mạng của con người. Người là một Thiên Chúa tốt lành, chậm giận, nhưng cũng sãn sàng trừng phạt những kẻ làm điều dữ chống lại Người (x. 1,3.7). Và thực sự, đế quốc Át-sua đang bi quân Mê-đi và Ba-by-lon tấn công, thành Ni-ni-vê cũng không thể nào thoát khỏi sự trừng phạt ! Trước những tai hoạ của đế quốc Át-sua và của thành Ni-ni-vê, Na-khum, cùng với dân tộc của ông cũng như bao dân tộc khác đã bị đế quốc Át-sua thống trị trong bao năm trời, cất tiếng hò reo và vỗ tay vui mừng. Sự thất bại của đế quốc Át-sua, sự phá huỷ của thành phố Ni-ni-vê là sự giải thoát đối với họ (3,18-19).

Bố cục

Lời giới thiệu (1,1)

I. Lời mở đầu (1,2 – 2,1)

1. Thánh vịnh – Cơn thịnh nộ của Đức Chúa (1,2-8)

2. Các lời sấm xen kẽ nhau về Giu-đa và về Ni-ni-vê (1,9 – 2,1)

– Về Giu-đa (1,9-10)

– Về Át-sua (1,11)

– Về Giu-đa (1,12-13)

– Về vua Ni-ni-vê (1,14)

– Về Giu-đa (2,1)

II. Ni-ni-vê bị sụp đổ

1. Tấn công (2,2-11)

2. Bản án cho con sư tử Át-sua (2,12-14)

3. Bản án cho Ni-ni-vê đàng điếm (3,1-7)

4. Bài học Nô A-môn (3,8-11)

5. Ni-ni-vê chuẩn bị nhưng vô ích (3,12-17)

6. Điếu văn (3,18-19)

Thời gian biên soạn

Sách Na-khum không nói rõ cho chúng ta biết thời gian ngôn sứ Na-khum rao giảng cũng như lúc sách được biên soạn. Tuy nhiên, một vài chỉ dẫn gián tiếp trong sách cho chúng ta đoán biết được phần nào. Theo 3,8-11, Na-khum có đề cập đến việc thành phố Nô A-môn của Ai-cập đã bị phá huỷ. Năm 663 tCN, quân Át-sua đã đánh chiếm thành phố Nô A-môn (Tép-bơ) dưới thời vua Át-náp-pa. Na-khum diễn tả biến cố đó như một sự kiện đã xảy ra không lâu và nhiều người chắc còn nhớ đến. Như vậy sách phải biên soạn sau năm 663 tCN. Hơn nữa, Na-khum có nói đến việc Ni-ni-vê sẽ bị tấn công và sụp đổ như chuyện không thể tránh và sắp xảy ra (2,2). Ni-ni-vê đã bị quân Ba-by-lon và quân Mê-đi đánh chiếm vào giữa năm 612 tCN. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng : sách Na-khum đã được biên soạn vào giữa những năm 663-612 tCN và có lẽ được biên soạn vào những năm gần biến cố năm 612 tCN hơn.