Tô-bi-a — Sách Tô-bi-a

vi

Tô-bi-a

DẪN NHẬP SÁCH TÔ-BI-A

Bản văn và bản dịch

Năm 405, khi phiên dịch Kinh Thánh ra bản Phổ thông, thánh Giê-rô-ni-mô đã sử dụng Kinh Thánh Híp-ri. Nhưng sách Tô-bi-a không có trong bộ Kinh Thánh Híp-ri. Vì thế, thánh Giê-rô-ni-mô đã nhờ một người phiên dịch bằng miệng từ bản A-ram truyền khẩu ra tiếng Híp-ri, rồi người dịch ra tiếng La-tinh và đọc cho thư ký chép. Như vậy, sách Tô-bi-a có nguồn gốc sê-mít đã thất lạc.

Tuy nhiên, những khám phá trong một hang động ở Cum-ran phát hiện ra những mảnh còn sót lại của bốn bản sao chép A-ram và một bản Híp-ri về sách Tô-bi-a.

Các bản dịch Hy-lạp, Xy-ri và La-tinh trình bày đối chiếu của bản văn. Bản dịch Hy-lạp chia làm hai nhóm : nhóm một là bản Xi-nai (S), bản này dài nhất, chịu ảnh hưởng tinh thần sê-mít khá mạnh, được bản La-tinh cổ và những mảnh sách Tô-bi-a được tìm thấy ở Cum-ran hỗ trợ. Nhóm hai gồm bản Va-ti-ca-nô (B) và A-lê-xan-ri-a (A).

Vậy bản văn Tb gốc là Híp-ri hay A-ram ? Thật khó xác định. Người ta không đủ chứng cứ để quả quyết ngôn ngữ nào được sử dụng trong sách Tô-bi-a nguyên thuỷ.

Bản phiên dịch của chúng tôi theo bản Xi-nai (S).

Vị trí sách Tô-bi-a trong quy điển

Đại Hội Giam-ni-a dựa vào quy điển A-lê-xan-ri-a đã đặt sách Tô-bi-a ra ngoài quy điển Kinh Thánh Híp-ri. Quy điển Kinh Thánh của anh em Tin Lành cũng không có. Sách Tô-bi-a được xếp vào loại ngoại thư. Còn phía Công Giáo, sau một thời gian lưỡng lự, đã nhìn nhận sách Tô-bi-a thuộc đệ nhị quy điển. Bản Phổ thông xếp sách Tô-bi-a sau sách Nơ-khe-mi-a, nhưng trước sách Giu-đi-tha và Ét-te.

Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng nhiều người Do-thái đã tự ý đọc sách Tô-bi-a. Các giáo phụ không nhất trí với nhau về sách Tô-bi-a. Ở phương Tây, thánh Giê-rô-ni-mô không coi sách Tô-bi-a thuộc quy điển. Trong khi đó, thánh Hy-pô-li-tô, Thượng Hội Đồng Rô-ma (382), thánh Âu-tinh, Công Đồng Híp-pôn (393) ... lại nhận sách Tô-bi-a thuộc quy điển. Ở phương Đông, đại diện những người phủ nhận tính quy điển của sách Tô-bi-a là Ô-ri-giê-nê, thánh A-tha-na-xi-ô, thánh Sy-ri-lô giám mục Giê-ru-sa-lem ... Đại diện những người công nhận như Cơ-lê-men-tê A-lê-xan-ri-a, thánh Gio-an Kim Khẩu, Téc-tu-li-a-nô, Công Đồng Công-tan-ti-nô-pô-li trong sắc lệnh “In Trullo” (692).

Sau cùng, Công Đồng Tren-tô tuyên bố sách Tô-bi-a thuộc quy điển vì có trong bản dịch Phổ thông.

Tác giả

Trong Tb 1,3 – 3,15 nhân vật Tô-bít tự thuật trong ngôi thứ nhất, và lời thiên sứ Ra-pha-en “Hãy viết ra những điều xảy ra cho cha con ông” (12,20), có phải đó là những chỉ dẫn cho thấy ông Tô-bít là tác giả ? Chắc chắn là không. Như đa số các sách Cựu Ước, sách Tô-bi-a không có tác giả hữu danh. Chúng ta không biết tác giả sách Tô-bi-a là một người Do-thái ở Pa-lét-tin hay đang sống phân tán ? Chúng ta biết chắc điều này : ông là một người Do-thái đạo đức, tuân giữ Lề Luật và làm việc thiện. Ông yêu mến đền thờ và tế tự ở đền thờ (1,3-8). Ông nhận xét đền thờ thứ hai kém lộng lẫy hơn (13,9-11 ; 14,5-7).

Thời gian và nơi biên soạn

Thời gian biên soạn

Có người cho rằng sách Tô-bi-a được biên soạn thế kỷ VII – V tCN, vì tác giả có những sai lầm về lịch sử và địa lý.

Người khác nghĩ rằng thời gian cuối cùng là thế kỷ IV tCN, thời Ba-tư đô hộ Pa-lét-tin. Lý do nhận thời điểm này : sách chưa nói đến con người sống lại sau khi chết.

Có người lại nhận sách Tô-bi-a xuất hiện khoảng 250-175 tCN, vì dựa vào tiếng A-ram trong bản Tb được tìm thấy ở Cum-ran và các bản văn bằng tiếng A-ram ngoài Kinh Thánh ở Cum-ran không khác nhau lắm ; thêm vào đó, tiếng Híp-ri của sách Tb được tìm thấy ở Cum-ran là tiếng Híp-ri sau thời lưu đày. Chứng cứ ở ngay trong sách Tb khiến người ta thừa nhận thời điểm của sách Tb thuộc thế kỷ III-II tCN : bố thí cho đồng bào (1,3.8.16-18 ; 2,2-3), không ăn đồ của dân ngoại (1,11), chống lại hôn nhân với người ngoại (4,12). Tinh thần chống dân ngoại thể hiện nơi Tb giống các sách thuộc thế kỷ III-II tCN như Đn, Gđt, Et (nhất là phần phụ lục bằng tiếng Hy-lạp), chứng tỏ sách được viết trước thời Ma-ca-bê (167-135 tCN). Như vậy, thời điểm biên soạn sách Tô-bi-a không sớm hơn 300 năm tCN là hợp lý.

Nơi biên soạn

Không xác định được tác giả và thời gian biên soạn, chúng ta cũng không thể khẳng định nơi biên soạn sách Tô-bi-a. Đa số học giả ngày nay cho rằng sách đã được biên soạn nơi những người Do-thái đang phân tán ở phương Đông hơn là ở Pa-lét-tin, hoặc ở Ai-cập.

Mục đích

Sách Tô-bi-a nhằm mục đích giáo huấn. Thiên Chúa là Đấng rất công bình và tự do. Người không bao giờ bỏ rơi người công chính và đạo đức. Đau khổ không phải là trừng phạt, mà chỉ là thử thách. Thiên Chúa thưởng người công chính và phạt kẻ gian ác. Vì thế, dân Chúa được mời gọi tin tưởng vững mạnh vào Thiên Chúa. Sách Tô-bi-a được viết cho những người Do-thái đang chịu ách thống trị của nền văn hoá Hy-lạp tại Pa-lét-tin cũng như ở nơi đang phân tán, khích lệ họ sống theo Lề Luật để biểu lộ lòng thương xót, công lý và tự do của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày.

Văn loại và hình thức văn chương

Một số học giả Kinh Thánh cho rằng sách Tô-bi-a thuộc loại sách giáo huấn, thuộc phong trào khôn ngoan như sách Gióp hay Diễm ca. Xét nội dung và hình thức như thái độ cư xử, nói chuyện, tư tưởng, cầu nguyện của ông Tô-bít, của Tô-bi-a và Xa-ra ... đặc biệt các đoạn 4,13-19 ; 12,7-10 ; 14,3-11. Người ta dễ dàng cho sách Tô-bi-a thuộc loại giáo huấn.

Một số học giả khác lại quả quyết sách Tô-bi-a thuộc loại lịch sử. Cuộc lưu đày dân Ít-ra-en ở Át-sua và ở Mê-đi : 1,10 ; 3,7 ; 4,1 (x. 2 V 15,29) phải chăng đó là cuộc lưu đày lần I năm 734 dưới thời Tích-lát Pi-le-xe III ? Sau khi Sa-ma-ri thất thủ (721), dân bị vua Át-sua là San-ma-ne-xe (Tb 1,2 ; 2 V 17,38) bắt đi đày lần II (2 V 17,6). Các vua Át-sua như San-ma-ne-xe (1,2), Xan-khê-ríp (1,15), Ê-xa-khát-đôn (1,22), vua Mê-đi như A-khi-a-kha-rốt (14,15) là những nhân vật lịch sử. Chiếm thành Ni-ni-vê (14,15) là sự kiện lịch sử. Những quy chế tôn giáo (1,6-8) và xã hội, nhất là hôn nhân với người ngoại bang (4,12 ; 6,12) là những sự kiện xã hội thuộc Do-thái giáo sau thời lưu đày.

Tuy nhiên bên cạnh tính chính xác của lịch sử, còn có những điểm không chính xác. Náp-ta-li không bao giờ bị San-ma-ne-xe (1,1) bắt đi đày, nhưng bị Tích-lát Pi-le-xe (2 V 15,29). Không phải Xan-khê-ríp kế vị San-ma-ne-xe (1,15) mà là Xác-gôn II.

Tác giả không am tường địa lý : từ Ra-ghê đi Éc-ta-ban mất hai ngày (5,6), thực tế hai nơi cách nhau gần 300 cây số. Éc-ta-ban cao 2010 mét, không phải là đồng bằng ; Ra-ghê cao 300 mét chưa thể là vùng núi.

Vậy chúng ta coi sách Tô-bi-a là một sách lịch sử khá tự do. Thế nên, sách Tô-bi-a được xem như là một loại tiểu thuyết, với đặc tính hư cấu, thể hiện qua biến cố lịch sử và những tình tiết câu chuyện đầy hấp dẫn. Chúng ta có thể gọi sách Tô-bi-a là lịch sử tiểu thuyết.

Bố cục

I. Mở : giới thiệu thân thế và hoàn cảnh ông Tô-bít (Tb 1,1-2)

II. Chính truyện (Tb 1,3 – 14,1a)

1. Cảnh một : hai tâm hồn đau khổ (Tb 1,3 – 3,17)

a. Phân cảnh một : ông Tô-bít tự thuật (Tb 1,3 – 3,6)

b. Phân cảnh hai : chuyện cô Xa-ra (Tb 3,7-15)

c. Chuyển cảnh : sứ mạng của thiên sứ Ra-pha-en (Tb 3,16-17)

2. Cảnh hai : cậu Tô-bi-a và hành trình gian khổ (Tb 4,1 – 6,18)

a. Phân cảnh một : chuẩn bị hành trình (Tb 4,1 – 6,1)

– Dặn dò của ông Tô-bít cho cậu Tô-bi-a (Tb 4,1-21)

– Bạn đồng hành của cậu Tô-bi-a (Tb 5,1 – 6,1)

b. Phân cảnh hai : hành trình (Tb 6,2-18)

– Chuyện con cá (Tb 6,2-9)

– Thiên sứ nói cho cậu Tô-bi-a biết về cô Xa-ra (Tb 6,10-18)

3. Cảnh ba : tại nhà ông Ra-gu-ên (Tb 7,1 – 10,14)

a. Phân cảnh một : lập tờ hôn thú (Tb 7,1-17)

– Hội ngộ giữa cậu Tô-bi-a và gia đình ông Ra-gu-ên (Tb 7,1-8)

– Cậu Tô-bi-a cầu hôn cô Xa-ra (Tb 7,9-14)

– Nỗi lo sợ của gia đình ông Ra-gu-ên (Tb 7,15-17)

b. Phân cảnh hai : đêm tân hôn (Tb 8,1-21)

– Diệt quỷ (Tb 8,1-3)

– Lời cầu nguyện của cậu Tô-bi-a và cô Xa-ra (Tb 8,4-9)

– Bé cái lầm và tạ ơn (Tb 8,10-18)

– Chuẩn bị tiệc mừng ; của hồi môn (Tb 8,19-21)

c. Phân cảnh ba : hôn lễ và hồi gia (Tb 9,1 – 10,14)

– Song hỷ lâm môn : đòi được nợ, cưới được vợ (Tb 9,1-6)

– Tại quê nhà, nỗi lo lắng của bà An-na (Tb 10,1-5)

– Rước dâu (Tb 10,8-14)

4. Cảnh bốn : đoàn viên (Tb 11,1-19)

a. Phân cảnh một : ông Tô-bít được sáng mắt (Tb 11,1-15)

b. Phân cảnh hai : đón dâu và tiệc cưới (Tb 11,16-19)

5. Cảnh năm : Vén màn bí mật (Tb 12,1 – 14,1)

a. Phân cảnh một : A-da-ri-a chính là thiên sứ Ra-pha-en (Tb 12,1-22)

– Cậu Tô-bi-a đền ơn bạn đồng hành (Tb 12,1-5)

– Thiên sứ Ra-pha-en khuyên nhủ hai cha con và tự giới thiệu (Tb 12,6-15)

– Thiên sứ lên trời (Tb 12,16-22)

b. Phân cảnh hai : lời cầu nguyện của ông Tô-bít (Tb 13,1 – 14,1a)

III. Kết truyện (Tb 14,1b-15)

1. Phân cảnh một : di chúc và an nghỉ của ông Tô-bít (Tb 14,1b-11)

2. Phân cảnh hai : ông Tô-bi-a về sống gần nhà cha mẹ vợ, an hưởng tuổi già và qua đời (Tb 14,12-15)

Bài học

Thiên Chúa

Quan niệm về Thiên Chúa được nhà thuật truyện nêu rõ trong các danh hiệu của Thiên Chúa. Thiên Chúa được gọi là Chúa (3,2.6-15 ; 12,15 ; 13,4.16), Đấng Tối Cao (1,13 ; 4,11), Đức Chúa (13,11), Vua hiển trị thiên thu (13,7.11), Chúa hiển trị đến muôn đời (13,15), Đức Vua trên trời (13,17), Đức Vua cao cả (13,16). Người biết mọi sự (x. 3,14 : Thiên Chúa biết rõ cô Xa-ra vẫn còn trong sạch).

Thiên Chúa siêu việt được mô tả trong 13,1-8. Tuy là Thiên Chúa siêu việt, Người còn là “Thân phụ của chúng ta” (13,4). Quả vậy, Thiên Chúa không những đã khai sinh ra dân Ít-ra-en, nuôi dưỡng và là thầy dạy của dân, mà còn là Đấng giáo hoá và là thẩm phán, là người Cha đáng yêu và thương xót, tha thứ và hồi phục dân lưu đày.

Thiên Chúa quan phòng được mô tả qua vai trò của thiên sứ Ra-pha-en. Thiên sứ có nhiệm vụ làm trung gian (3,16 ; 12,12), người đưa tin (5,10 ; 12,20), người giúp đỡ cá nhân (5,10 ; 6,4-5.8 ; 9,2-4), người chữa lành (12,14). Thiên sứ Ra-pha-en làm chứng rằng Thiên Chúa siêu việt của Ít-ra-en ở với Tô-bít và Xa-ra. Thiên sứ là một trong các thiên sứ quan trọng nhất (4,16-17 ; 12,12-15.19-20). Thiên sứ hành động rất giống con người, rất nhân bản, không áp đặt hành động của Thiên Chúa trên con người.

Chúng ta còn nhận thấy Thiên Chúa quan phòng nơi ông Tô-bít và cô Xa-ra. Hai người đã chịu thử thách, rồi được đền bù xứng đáng. Họ tìm lại hạnh phúc, hơn thế nữa hạnh phúc còn gia tăng gấp bội ; hạnh phúc ấy chẳng bao giờ mất nữa. Họ là những người công chính, mà công chính dẫn tới hạnh phúc. Nguyên tắc thưởng phạt ngay từ đời này được diễn tả nhiều lần, nhất là trong những đoạn văn có tính giáo huấn (4,13-19 ; 12,7-10 ; 14,8-11).

Quan niệm độc thần rải rác trong sách Tô-bi-a. Thánh thi kết thúc trình thuật diễn tả hay nhất về quan niệm độc thần (13,7.13.16), đáng tán dương, chúc tụng (13,3.7.16). Ông Tô-bít tin tưởng gọi Thiên Chúa là Đức Chúa chúng con, Cha muôn thuở (13,4.10.15).

Con người đạo đức

Lời khuyên của ông Tô-bít cho con, cậu Tô-bi-a (4,3-21 ; 14,8-11) là chìa khoá để đọc sách Tô-bi-a. Tất cả những lời chỉ giáo giúp người Do-thái đang sống ở đất khách quê người giữ được căn tính và nếp sống công chính của một người đạo đức. Đó là luật sống.

Trước hết dân Chúa phải trung tín với Thiên Chúa và tuân giữ các điều răn của Người. Trung tín với Thiên Chúa đứng hàng đầu các bổn phận (1,12 ; 2,2 ; 4,5 ; 14,8-9). Tỉ mỉ giữ luật Mô-sê và cẩn thận giữ các truyền thống (1,8).

Không còn đền thờ, không còn tế tự, dân Chúa ở chốn lưu đày hoặc đang phân tán giữa các dân tộc, phải giữ các bổn phận cá nhân đối với Thiên Chúa và với tha nhân. Tha nhân trong sách Tô-bi-a còn giới hạn nơi thân nhân và đồng bào (1,3.16.17 ; 2,2). Ông Tô-bít đã thực hiện những việc đạo đức, đôi khi phải trả một giá rất đắt. Ông lưu ý con ông trả lương sòng phẳng (4,14 ; 5,3.7.10.15 ; 12,1). Bản thân ông ra tay chôn cất kẻ xấu số (1,17-18 ; 2,3-8) trợ giúp những ai thiếu thốn (1,17 ; 2,2.10 ; 4,16). Nhưng bố thí và cầu nguyện trổi vượt mọi bổn phận.

Phương tiện liên kết với đồng bào đang sống tha phương lưu đày là bố thí (1,16 ; 4,7-8.16 ; 14,8-9). Bố thí chính là kho tàng, là của lễ đền tội, hy lễ làm đẹp lòng Thiên Chúa (4,9-11 ; 14,8-11).

Sách Tô-bi-a nhấn mạnh đến cầu nguyện (3,1-6.11-15 ; 8,5-8 ; 14,8-12). Cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa (ch. 13). Cầu nguyện là dấu chỉ người công chính sống trung tín với Thiên Chúa. Đó là trường hợp của ông Tô-bít và cô Xa-ra. Cầu nguyện trong đêm tân hôn (8,5-7). Cầu cho đồng bào (13,3.6.10.12), cho dân ngoại (13,11).

Ba cột trụ nâng đỡ Do-thái giáo : cầu nguyện, bố thí, ăn chay. Sách Tô-bi-a đã làm nổi bật bố thí và cầu nguyện. Thế nên, hình ảnh con người đạo đức trong sách Tô-bi-a cũng là chân dung của một người Do-thái giáo trước thời Đức Giê-su và trong thời sinh tiền của Người.