IV. QUAN TÂM ĐẶC BIỆT ĐẾN VIỆC ĐÀO TẠO TU ĐỨC — Sắc Lệnh Về Đào Tạo Linh Mục – Optatam Totius – Ban hành ngày 28/10/1965.
IV. QUAN TÂM ĐẶC BIỆT ĐẾN VIỆC ĐÀO TẠO TU ĐỨC
Việc đào tạo tu đức phải gắn liền với việc học hỏi về giáo thuyết và mục vụ, đồng thời, với sự giúp đỡ của vị Linh hướng, () các chủng sinh phải tập sống kết hợp liên lỉ và thân tình với Chúa Cha, nhờ Con của Người là Chúa Giê-su Ki-tô, trong Chúa Thánh Thần. Được nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô Tư Tế nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh, họ luôn sống gắn bó với Người như những người bạn tâm giao14 trong mối liên kết mật thiết trọn đời. Họ phải sống mầu nhiệm Vượt Qua của Người đến độ có thể đưa cả đoàn chiên được trao phó cùng đi vào mầu nhiệm ấy. Các chủng sinh phải học biết tìm gặp Chúa Ki-tô trong việc trung thành suy gẫm lời Chúa, trong việc thông hiệp tích cực các mầu nhiệm thánh của Giáo Hội, nhất là bí tích Thánh Thể và kinh nguyện thần vụ; () họ nhận ra Chúa nơi vị Giám mục đã sai họ đi, và nơi những con người họ được sai đến, nhất là những người nghèo khổ, những người hèn mọn, đau yếu, tội lỗi và chưa có niềm tin. Với tình con thảo, họ yêu mến và tôn kính Đức Trinh Nữ Rất Thánh Ma-ri-a, người Mẹ mà Chúa Ki-tô khi hấp hối trên Thánh giá đã trao ban cho môn đệ yêu dấu.
Phải cố gắng thực hành các việc đạo đức theo như tập quán tốt lành của Giáo Hội, nhưng phải lưu tâm đừng để việc đào tạo tu đức chỉ hạn hẹp trong những việc đạo đức này hay chỉ đáp ứng về mặt tình cảm tôn giáo Trước tiên, các chủng sinh phải học sống theo mẫu mực Phúc Âm, kiên vững trong đức tin, đức cậy và đức mến, để nhờ việc thực hành các nhân đức này, họ có được tinh thần cầu nguyện, () củng cố và bảo vệ ơn gọi của mình, tăng cường những nhân đức khác và thêm nhiệt thành để chinh phục mọi người về cho Chúa Ki-tô.
Các chủng sinh phải thấm nhuần mầu nhiệm Giáo Hội đã được Thánh Công Đồng này đặc biệt minh giải, sao cho luôn biết gắn bó với vị Đại Diện Chúa Ki-tô bằng một tình yêu khiêm tốn và hiếu thảo, và khi đã trở thành linh mục, () họ liên kết với vị Giám mục của mình như những cộng tác viên tín cẩn, và cộng tác với các anh em linh mục khác trong sự hiệp nhất, qua đó có thể lôi kéo mọi người về với Chúa Ki-tô. Phải dạy cho họ biết mở rộng tâm hồn tham gia cuộc sống của toàn thể Giáo Hội theo như lời Thánh Augustinô dạy: “Kẻ nào càng yêu mến Giáo Hội của Chúa Ki-tô, càng có Chúa Thánh Thần”. () Các chủng sinh phải hiểu thật rõ mục đích của họ không phải là để đi tìm quyền lực hay danh vọng, nhưng để hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa và thực thi tác vụ mục tử. Họ phải được hướng dẫn đặc biệt để có đức vâng phục của đời linh mục, nếp sống khó nghèo và tinh thần từ bỏ, () đến độ biết tự nguyện từ bỏ ngay cả những gì được phép nhưng không thích hợp và làm cho mình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô chịu đóng đinh.
Các chủng sinh phải được dạy để biết rõ về những trách nhiệm họ phải đảm nhận, cũng như về những khó khăn của đời linh mục; tuy nhiên, đừng để cho các chủng sinh nghĩ rằng công tác sau này của họ hầu như chỉ toàn là nguy hiểm, nhưng tốt hơn nên giúp họ biết củng cố thật vững mạnh đời sống thiêng liêng xuất phát từ hoạt động mục vụ
Đối với các chủng sinh đang noi giữ truyền thống đáng kính của nếp sống độc thân linh mục theo các quy luật thánh thiện và kiên vững trong nghi chế phụng vụ của mình, họ phải được đào tạo cách cẩn thận để sống một bậc sống mà trong đó, khi khước từ đời sống hôn nhân vì Nước Trời (x. Mt 19, 12), họ gắn bó với Chúa bằng một tình yêu không san sẻ20 hoàn toàn phù hợp với Giao Ước mới, làm chứng cho cuộc sống lại trong thế giới tương lai (x. Lc 20,36), () và nhận được sự trợ lực vô cùng thích hợp cho việc thực thi không ngừng đức ái toàn hảo, nhờ đó họ trở nên mọi sự cho mọi người trong thừa tác vụ linh mục. () Họ cần cảm nhận rằng mình phải đón nhận bậc sống này với cả tâm tình tri ân cảm tạ, không như một qui định của giáo luật, nhưng như một ân huệ quý báu của Thiên Chúa mà họ luôn khiêm tốn van xin và mau mắn đáp trả cách tự do và quảng đại, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy và giúp đỡ.
Các chủng sinh phải hiểu biết chính xác các bổn phận và phẩm giá của hôn nhân công giáo, là biểu trưng cho tình yêu của Chúa Ki-tô và Giáo Hội (x Ep 5,22-23); họ cũng phải nhận thức tính cách ưu việt của đức khiết tịnh dâng hiến cho Chúa Ki-tô, () để tận hiến trọn hồn xác cho Chúa bằng một quyết định chín chắn và quảng đại.
Các chủng sinh cũng cần được cảnh báo về những hiểm nguy đe dọa đức khiết tịnh, nhất là trong xã hội hiện đại; () nhờ sự hỗ trợ của Chúa và của con người nâng đỡ, họ phải học biết thực thi hoàn toàn việc khước từ hôn nhân, sao cho nếp sống độc thân không hề gây tổn hại cho cuộc sống và hoạt động của họ, nhưng đúng ra giúp họ biết làm chủ hồn xác vững vàng hơn và đạt tới sự trưởng thành trọn vẹn hơn, đồng thời giúp họ cảm nghiệm cách hoàn hảo hơn mối phúc thật được nói đến trong Phúc Âm
Các tiêu chuẩn giáo dục Ki-tô giáo phải được tuân hành cách hoàn hảo, và được bổ túc thích đáng bằng những khám phá mới của khoa tâm lý và khoa sư phạm lành mạnh. Vì thế, bằng một chương trình thích hợp trong việc đào tạo, phải chú tâm vun trồng nơi các chủng sinh sự trưởng thành nhân bản cần thiết, được nhận biết cách chủ yếu qua sự ổn định tinh thần, qua khả năng quyết định chín chắn và qua cách nhận định chính xác về các biến cố và về con người. Các chủng sinh phải tập thói quen rèn luyện thật tốt tư cách của mình; phải được đào tạo để có tinh thần quả cảm, và cách chung họ phải học biết quý chuộng những đức tính được mọi người đánh giá cao và làm cho thừa tác viên của Đức Ki-tô được quý mến, () như tính trung thực, thái độ luôn quan tâm đến công bằng, trung tín giữ lời hứa, lịch thiệp, khiêm tốn và nhân ái trong giao tiếp.
Kỷ luật trong đời sống nơi chủng viện không những phải được coi như một trợ lực vững vàng cho đời sống cộng đoàn và đức bác ái, nhưng còn là một yếu tố cần thiết cho việc đào tạo toàn diện, nhằm tập được sự tự chủ, đạt đến sự trưởng thành nhân cách thật vững chắc, rèn luyện các thái độ tinh thần khác nữa, là những điều sẽ giúp rất nhiều cho hoạt động của Giáo Hội được ổn định và có hiệu quả Dù sao đi nữa, kỷ luật này phải được áp dụng thế nào để các chủng sinh biết đón nhận quyền bính của các bề trên với thái độ xác tín nội tâm, nghĩa là vì lương tâm (x. Rm 13,5) và vì những lý do siêu nhiên. Những qui định kỷ luật phải được áp dụng tùy theo lứa tuổi, để khi thực tập dần dần làm chủ bản thân, các chủng sinh quen sử dụng sự tự do cách khôn ngoan, hành động cách tự nguyện và nhiệt tình, quen làm việc chung với anh em và với giáo dân. ()
Nhờ được thấm nhuần lòng mộ mến việc đạo đức, yêu thích sự thinh lặng, và quan tâm đến việc tương trợ lẫn nhau, toàn bộ nếp sống trong chủng viện phải được quan niệm như là bước khởi đầu dẫn vào đời sống linh mục sau này
Để cho việc đào tạo thiêng liêng được vững chắc hơn, và để các chủng sinh có một chọn lựa chín chắn trong việc theo đuổi ơn gọi, các Giám mục có bổn phận ấn định thời gian thích hợp cho một chương trình nghiêm huấn đặc biệt dẫn vào đời sống thiêng liêng. Các ngài cũng phải xét xem, nếu thuận tiện, có thể gián đoạn việc học trong một thời gian hoặc tổ chức kỳ thực tập mục vụ thích ứng để thử luyện cách đầy đủ hơn các ứng viên xin chịu chức linh mục. Các Giám mục có thể tùy theo hoàn cảnh từng miền mà quy định nâng cao mức tuổi chịu chức thánh do luật chung hiện thời ấn định, cũng có thể quyết định cho các chủng sinh, sau khi mãn ban thần học, thi hành chức vụ phó tế trong một thời gian thích hợp, trước khi được thụ phong linh mục.