V. TU CHỈNH CÁC MÔN HỌC CỦA GIÁO HỘI — Sắc Lệnh Về Đào Tạo Linh Mục – Optatam Totius – Ban hành ngày 28/10/1965.
V. TU CHỈNH CÁC MÔN HỌC CỦA GIÁO HỘI
Trước khi bắt đầu các môn riêng biệt của Giáo Hội, các chủng sinh phải học xong phần giáo dục nhân bản và khoa học mà các thanh niên trong quốc gia họ phải hoàn tất để có thể theo học các bậc cao đẳng. Ngoài ra, họ phải học tiếng Latinh để có thể hiểu và sử dụng những tư liệu gốc của rất nhiều môn khoa học và các tài liệu của Giáo Hội. () Họ cũng cần phải học ngôn ngữ phụng vụ riêng của từng nghi chế và và được khuyến khích rất nên có một kiến thức đầy đủ về các ngôn ngữ của Thánh Kinh và Thánh Truyền.
Trong việc tu chỉnh các môn học của Giáo Hội, cần phải làm nổi bật mối liên hệ giữa triết học và thần học, phải hòa hợp cả hai để mở rộng tâm trí chủng sinh đón nhận mầu nhiệm Chúa Ki-tô, một mầu nhiệm liên hệ đến toàn thể lịch sử nhân loại, hiện không ngừng tiếp diễn trong Giáo Hội và đang hoạt động cách chủ yếu qua thừa tác vụ linh mục. ()
Để các chủng sinh có được cái nhìn chung ấy ngay lúc khởi đầu việc đào tạo, họ phải qua một khóa học dẫn nhập, kéo dài trong một thời gian thích hợp, trước khi học các môn của Giáo Hội Trong khóa nhập môn này, các giáo sư sẽ trình bày mầu nhiệm Cứu độ để các chủng sinh nhận thức được ý nghĩa, chương trình và mục đích mục vụ của những môn học của Giáo Hội, đồng thời để giúp họ biết xây dựng và làm cho cả cuộc sống được thấm nhuần đức tin, và cũng để được kiên vững trong ơn gọi với một tâm hồn hân hoan tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình.
Chủng viện phải dạy các bộ môn triết học thế nào để giúp các chủng sinh thâu thập được một kiến thức chắc chắn và có hệ thống về con người, về thế giới và về Thiên Chúa, dựa vào di sản triết học có giá trị ngàn đời, () đồng thời cũng nhờ đến những công trình nghiên cứu của triết học hiện đại, nhất là của những khuynh hướng triết học đang ảnh hưởng mạnh nhất trong quốc gia họ cũng như của những tiến bộ mới nhất trong các ngành khoa học, để nhờ đó, khi đã hiểu rõ tâm thức thời đại, các chủng sinh sẽ được chuẩn bị một cách thích hợp để đối thoại với người đương thời. ()
Môn triết sử phải được dạy để giúp các chủng sinh nắm được các nguyên lý tối hậu của các triết thuyết khác nhau, biết giữ lại những gì là chân thật, có thể khám phá và luận bác những sai lầm ngay tận cội nguồn của các chủ thuyết
Phương thức giảng dạy phải gợi lên nơi chủng sinh tình yêu chân lý mà họ phải nghiêm túc tìm kiếm, nghiệm xét và minh chứng, nhưng cũng phải nhận thức được giới hạn hiểu biết của con người Các giáo sư phải cẩn thận quan tâm đến liên hệ giữa triết lý và những vấn đề thiết thực của cuộc sống hay những vấn nạn đang khuấy động tâm trí chủng sinh; các ngài phải giúp họ khám phá những liên hệ giữa suy luận triết học và các mầu nhiệm cứu độ được học hỏi trong khoa thần học dưới ánh sáng cao vời của đức tin.
Chủng viện phải dạy các môn thần học trong ánh sáng đức tin, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh31 để các chủng sinh chuyên tâm kín múc từ nguồn mạc khải thần linh học thuyết công giáo, thấu hiểu tường tận và sử dụng làm lương thực cho đời sống thiêng liêng, () để rồi trong thời gian thi hành thừa tác vụ linh mục, họ có thể rao giảng, trình bày và bảo vệ giáo thuyết ấy.
Các chủng sinh phải đặc biệt chuyên cần học hỏi về Thánh Kinh, môn học được xem như linh hồn của toàn thể khoa thần học; () sau phần nhập môn thích hợp, họ cần được cẩn thận dẫn nhập vào phương pháp chú giải, thấu triệt các đề tài lớn của Mạc khải, cũng như được khích lệ và bồi dưỡng trong việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh hằng ngày34
Môn thần học tín lý phải được sắp xếp theo một chương trình để trước tiên, trình bày các chủ đề Thánh Kinh; tiếp đến cho các chủng sinh thấy được những điều các Giáo phụ Đông và Tây Phương đã đóng góp vào việc trung thành truyền đạt và triển khai từng chân lý mạc khải, đồng thời cho biết diễn tiến lịch sử hình thành các tín điều được trình bày trong mối liên hệ với lịch sử chung của Giáo Hội; () sau đó, giúp các chủng sinh ngày càng thông hiểu các mầu nhiệm cứu độ, bằng cách suy luận, học hỏi nơi thánh Tôma là bậc thầy, để tìm hiểu tường tận và nhận ra mối liên hệ giữa các mầu nhiệm ấy; () các chủng sinh cũng phải học hỏi để nhận thức được rằng các mầu nhiệm cứu độ này luôn hiện diện và tác sinh hiệu quả trong các cử hành phụng vụ37 và trong toàn thể đời sống Giáo Hội; đồng thời học biết cách giải đáp các vấn đề nhân sinh dưới ánh sáng Mạc Khải, biết áp dụng chân lý vĩnh cửu vào những thực tại con người ngay trong một thế giới luôn biến đổi và biết thông truyền các chân lý ấy cách thích hợp với con người thời đại38
Những bộ môn thần học khác cũng phải được canh tân nhờ tiếp xúc sinh động hơn với Mầu nhiệm Chúa Ki-tô và lịch sử cứu độ Phải đặc biệt chú ý hoàn thiện môn thần học luân lý, nhờ cách trình bày mang tính khoa học và thấm nhuần giáo lý Thánh Kinh hơn, sẽ làm nổi bật tính cách cao cả của ơn gọi nơi người tín hữu trong Chúa Ki-tô, cũng như trách nhiệm phải mang lại hoa trái cho cuộc sống trần thế trong đức ái. Cũng thế, khi trình bày giáo luật và giáo sử, phải dựa trên mầu nhiệm Giáo Hội theo Hiến chế tín lý “về Giáo Hội” do Thánh Công Đồng này công bố. Môn Phụng vụ thánh phải được coi là nguồn mạch khởi phát và cần thiết cho tinh thần Ki-tô giáo đích thực, nên phải được giảng dạy đúng theo tinh thần của khoản 15 và 16 của Hiến chế về Phụng vụ thánh. ()
Tùy theo hoàn cảnh đặc thù của những miền khác nhau, các chủng sinh phải được hướng dẫn để hiểu biết đầy đủ hơn về những Giáo Hội và các Cộng Đồng Giáo Hội đã ly tán khỏi Tòa Thánh Rô-ma, để có thể góp phần xúc tiến việc tái lập sự hợp nhất giữa toàn thể Ki-tô hữu theo các chỉ thị của Thánh Công Đồng này40
Hơn nữa, phải khai mở cho các chủng sinh hiểu biết các tôn giáo khác đang phổ biến cách đặc biệt trong mỗi miền, để họ khám phá những điều chân thật và tốt lành do Thiên Chúa an bài nơi các tôn giáo ấy; biết phủ nhận những sai lạc và có thể thông truyền đầy đủ ánh sáng cho những kẻ chưa đón nhận chân lý
Vì việc học hỏi về giáo thuyết không chỉ đơn thuần nhằm truyền thông các khái niệm, nhưng để đào tạo các chủng sinh cách đích thực và sâu xa, nên phải nhờ đến các phương pháp sư phạm hoặc bằng cách tổ chức các khóa học, hội thảo và thực tập, hoặc khích lệ chủng sinh làm việc riêng hay từng nhóm nhỏ. Các giáo sư cũng phải chú tâm đến sự thống nhất và liên kết chặt chẽ trong toàn bộ chương trình giáo dục; tránh việc gia tăng quá nhiều các bộ môn hay khóa học, và cũng phải loại bỏ những vấn đề hầu như không còn hợp thời nữa hay dành cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn ở bậc cao học.
Các Giám mục phải chú ý đến việc gửi các chủng sinh có tư cách, đạo đức và thông minh đến các Học viện chuyên biệt, đến các Phân khoa hay Đại học, để chuẩn bị cho những linh mục được học hành ở cấp cao hơn và uyên thâm hơn về các khoa học thánh cũng như các khoa chuyên ngành cần thiết khác, để có thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng trong sứ vụ tông đồ; nhưng không bao giờ được xem thường việc đào tạo thiêng liêng và mục vụ, nhất là khi họ chưa chịu chức Linh mục.