3. Gia nhập Cộng đồng Đức tin: Khai tâm Kitô giáo - THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC LẦN THỨ XVI - Kỳ họp thứ nhất

a) Khai tâm Kitô giáo là cuộc hành trình mà Thiên Chúa, qua thừa tác vụ của Giáo hội, giới thiệu chúng ta nhận biết đức tin Phục sinh và mở lối cho chúng ta bước vào sự hiệp thông mang chiều kích Ba Ngôi và Giáo Hội. Cuộc hành trình này có nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi bắt đầu và những điểm nhấn khác nhau đặc trưng của truyền thống phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, việc lắng nghe Lời Chúa và hoán cải đời sống, cử hành phụng vụ và sự tham gia vào cộng đoàn cùng với sứ mạng của nó luôn gắn bó với nhau.

Đúc kết các ý kiến

a) Khai tâm Kitô giáo là cuộc hành trình mà Thiên Chúa, qua thừa tác vụ của Giáo hội, giới thiệu chúng ta nhận biết đức tin Phục sinh và mở lối cho chúng ta bước vào sự hiệp thông mang chiều kích Ba Ngôi và Giáo Hội. Cuộc hành trình này có nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi bắt đầu và những điểm nhấn khác nhau đặc trưng của truyền thống phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, việc lắng nghe Lời Chúa và hoán cải đời sống, cử hành phụng vụ và sự tham gia vào cộng đoàn cùng với sứ mạng của nó luôn gắn bó với nhau.

Chính vì lý do này, hành trình dự tòng với sự tiệm tiến của các giai đoạn và bước đi, là mô hình cho mọi kinh nghiệm của Giáo hội về việc cùng nhau bước đi.

b) Việc khai tâm đưa chúng ta tiếp xúc với rất nhiều ơn gọi và thừa tác vụ trong giáo hội. Tất cả những điều này diễn tả khuôn mặt từ mẫu của Giáo Hội, một chứng tá thực tế dạy con cái mình bước đi bằng cách bước đi với chúng. Giáo hội lắng nghe mọi thành phần và, khi trả lời những nghi ngờ và câu hỏi của họ, giáo hội được làm phong phú bởi sự mới mẻ mà mỗi người mang lại qua lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa của họ. Qua hoạt động mục vụ này, cộng đoàn Kitô hữu gặp gỡ tính hiệp hành lần đầu tiên, mà thường không hoàn toàn ý thức được điều đó.

c) Trước bất kỳ sự phân biệt nào về đặc sủng và thừa tác vụ, "tất cả chúng ta đều được rửa tội bởi một Thánh Thần để trở thành một thân thể" (1Cor. 12:13). Do đó, giữa tất cả những người đã được rửa tội, có một sự bình đẳng thực sự về phẩm giá và trách nhiệm chung đối với sứ mạng, tùy theo ơn gọi của mỗi người. Nhờ sự xức dầu của Chúa Thánh Thần, Đấng " dạy mọi sự" (1Ga 2:27), tất cả các tín hữu đều có một bản năng tiếp nhận sự thật của Tin Mừng, cảm thức đức tin. Điều này bao gồm một sự đồng nhất tự nhiên nào đó với các thực tại thiêng liêng và khả năng nắm bắt những gì phù hợp với chân lý đức tin bằng trực giác. Các tiến trình hiệp hành làm tăng cường hồng ân này, cho phép sự đồng thuận của các tín hữu (consensus fidelium) được xác nhận. Tiến trình này cung cấp một tiêu chuẩn chắc chắn để xác định xem một học thuyết hay thực hành cụ thể có thuộc về đức tin tông truyền hay không.

d) Ân sủng của Lễ Hiện Xuống vẫn hiện hữu trong Giáo Hội qua Bí Tích Thêm Sức. Nó làm phong phú các tín hữu với sự dồi dào của các ân huệ của Chúa Thánh Thần. Nó kêu gọi họ phát triển ơn gọi riêng biệt của họ, bắt nguồn từ phẩm giá của bí tích rửa tội mà họ đã lãnh nhận, trong sứ mạng truyền giáo. Tầm quan trọng của nó đòi hỏi phải được nhấn mạnh nhiều hơn và cần được đặt trong mối quan hệ với sự đa dạng của các ân sủng và thừa tác vụ tạo nên diện mạo hiệp hành của Giáo hội.

e) Việc cử hành Thánh Thể, đặc biệt là vào Chúa Nhật, là hình thức đầu tiên và cơ bản mà qua đó Dân Thánh của Thiên Chúa quy tụ và gặp gỡ nhau. Khi điều này không thể thực hiện được, cộng đoàn vẫn quy tụ lại để cử hành Phụng vụ Lời Chúa. Trong Thánh Thể, chúng ta cử hành mầu nhiệm ân sủng được ban cho chúng ta. Bằng cách kêu gọi chúng ta tham dự vào Mình và Máu của Người, Thiên Chúa biến chúng ta thành một thân thể, với nhau và với chính Người. Bắt đầu với việc Thánh Phaolô sử dụng thuật ngữ koinonia (xem 1Cor. 10: 16- 17), truyền thống Kitô giáo đã trân trọng từ "hiệp thông" để chỉ sự tham gia đầy đủ vào Bí tích Thánh Thể, và bản chất của các mối quan hệ giữa các tín hữu và giữa các Giáo hội. Trong khi nó mở ra cho chúng ta sự suy ngắm về đời sống thiêng liêng, đến chiều sâu khôn lường của mầu nhiệm Ba Ngôi, thuật ngữ này cũng đề cập đến 'tính thường nhật' trong các mối quan hệ của chúng ta: trong những cử chỉ đơn giản nhất mà qua đó chúng ta mở lòng ra cho nhau, hơi thở của Chúa Thánh Thần thực sự thổi nơi đây. Đó là lý do tại sao sự hiệp thông, xuất phát từ Bí tích Thánh Thể và được cử hành trong đó, định hình và hướng dẫn con đường hiệp hành.

f) Từ Thánh Thể, chúng ta học cách nói rõ sự hiệp nhất và đa dạng: sự hiệp nhất của Giáo hội và sự đa dạng của các cộng đồng Kitô hữu; sự hiệp nhất của mầu nhiệm bí tích và sự đa dạng của các truyền thống phụng vụ; sự hiệp nhất của việc cử hành và đa dạng các ơn gọi, đặc sủng và các thừa tác vụ. Không có gì cho thấy rõ hơn Thánh Thể rằng sự hài hòa được tạo ra bởi Chúa Thánh Thần không phải là sự đồng nhất và mọi hồng ân của Giáo Hội đều nhằm mục đích xây dựng chung.

Các vấn đề cần xem xét

g) Bí tích Rửa tội không thể được hiểu một cách riêng lẻ hoặc bên ngoài logic của việc khai tâm Kitô giáo, cũng không thể được hiểu theo cách cá nhân chủ nghĩa. Do đó, chúng ta cần khám phá thêm về sự đóng góp mà một quan điểm thống nhất hơn về việc khai tâm Kitô giáo có thể mang lại cho sự hiểu biết về tính hiệp hành.

h) Việc thực hành một cách chín chắn cảm thức đức tin (sennsus fidei) không chỉ đòi hỏi việc lãnh nhận Bí tích Rửa tội mà còn là một đời sống trong vai trò môn đệ chân chính để phát triển ân sủng của Bí tích Rửa tội. Điều này cho phép chúng ta phân biệt hành động của Chúa Thánh Thần với các hình thức tư duy hoặc điều kiện văn hóa thịnh hành, hoặc với những vấn đề không phù hợp với Tin Mừng. Hiểu được việc thực hành cảm thức đức tin phải được đào sâu với suy tư thần học phù hợp.

i) Suy tư về tính hiệp hành có thể mang lại cái nhìn mới mẻ về Bí tích Thêm sức, qua đó ân sủng của Chúa Thánh Thần thể hiện sự đa dạng của các ơn huệ và đặc sủng trong sự hài hòa của Lễ Hiện Xuống. Dựa trên các kinh nghiệm khác nhau của Giáo Hội, cần phải cân nhắc những cách thức để làm cho việc chuẩn bị và cử hành Bí Tích này trở nên hiệu quả hơn, để đánh thức nơi tất cả các tín hữu lời mời gọi xây dựng cộng đoàn, sứ mạng truyền giáo trên thế giới và làm chứng cho đức tin.

j) Về mặt thần học mục vụ, điều quan trọng là phải tiếp tục nghiên cứu xem làm thế nào con đường dự tòng có thể truyền cảm hứng cho các con đường mục vụ khác, chẳng hạn như việc chuẩn bị hôn nhân, hoặc đồng hành trong việc lựa chọn các cam kết nghề nghiệp và xã hội, hoặc đào tạo cho chức thánh, trong đó toàn thể cộng đoàn giáo hội cần tham gia.

Các đề xuất

k) Nếu Thánh Thể định hình tính hiệp hành, thì bước đầu tiên chúng ta nên thực hiện là cử hành Thánh Lễ theo cách xứng đáng với ân sủng, với một ý nghĩa đích thực về tình bằng hữu trong Đức Kitô. Phụng vụ được cử hành với tính xác thực là trường học đầu tiên và cơ bản của vai trò người môn đệ. Vẻ đẹp và sự đơn giản của nó nên huấn luyện chúng ta trước bất kỳ chương trình đào tạo chính thức nào khác.

L) Bước thứ hai đề cập đến nhu cầu rộng rãi được báo cáo là cần làm cho ngôn ngữ phụng vụ dễ tiếp cận hơn với các tín hữu và thể hiện sâu sắc hơn trong sự đa dạng văn hóa. Mà không đặt câu hỏi về sự liên tục với truyền thống và nhu cầu đào tạo phụng vụ tốt hơn, cần có suy tư sâu sắc hơn. Các Hội đồng Giám mục nên được ủy thác trách nhiệm rộng rãi hơn trong vấn đề này, theo Motu Proprio Magnum principium.

m) Bước thứ ba bao gồm cam kết mục vụ nhằm mở rộng việc cầu nguyện cộng đoàn vượt ra ngoài việc cử hành Thánh lễ. Các hình thức cầu nguyện phụng vụ thay thế, cũng như các thực hành lòng đạo đức bình dân, trong đó phản ánh sự khác biệt của các nền văn hóa địa phương, là những yếu tố có tầm quan trọng lớn trong việc thúc đẩy sự tham gia của tất cả các tín hữu.

Chúng giới thiệu các tín hữu với mầu nhiệm Kitô giáo và đưa những người ít quen thuộc với Giáo hội đến gần hơn với cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Trong số các hình thức đạo đức bình dân, lòng sùng kính Đức Mẹ nổi bật vì khả năng nuôi dưỡng và bồi đắp đức tin của nhiều người.