Chú giải Kinh Thánh Tân ước theo các phương pháp phê bình lịch sử (p1)
Lm Lê Phú Hải, OMI, Strasbourg, Pháp
Đối với một người muốn học nhạc, họ tìm những phương pháp hầu giúp họ mỗi ngay trau dồi để đọc được bản nhạc, thấu đạt dần dà nghệ thuật của nhạc và điều đó trở nên một nguồn vui. Người Kitô hữu cũng thế, nếu thật sự coi Kinh Thánh là chỉ nam cuộc sống cũng cần phải học hỏi và trau dồi để thấu hiểu Lời Chúa. Vì thế cần phải dùng đến những phương pháp phân tích để hiểu văn bản và khám phá ý nghĩa. Tháng 4 năm 1993, Ủy ban Kinh Thánh Giáo Hoàng đã cho ra văn kiện mang kiện "Việc Giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh". Mục đích văn kiện là "nghiên cứu những phương pháp khả dĩ chấp nhận để góp phần hữu hiệu làm cho tất cả kho tàng phong phú chứa đựng trong các bản văn Kinh thánh được nổi bật lên, ngõ hầu Lời của Thiên Chúa luôn ngày càng trở nên lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng các phần tử trong dân của Người, trở thành nguồn mạch đời sống đức tin, đức cậy và đức mến cho họ, cũng như trở thành một ánh sáng chiếu soi toàn thể nhân loại". Văn kiện đưa ra tất cả 12 lối đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội Công Giáo,1 và loại hẳn lối giải thích bảo thủ (fondamentaliste). Trong bài này, tác giả đề nghị một lối đọc Kinh Thánh theo các phương pháp phê bình lịch sử. 2
1. Vài mốc chính về phương pháp phê bình lịch sử.
Phương pháp này được gọi là phê bình vì việc nghiên cứu dùng đến những tiêu chuẩn khoa học khách quan xác định ý nghĩa một bản văn theo như ý tác giả. Nó còn được xem là lịch sử vì phương pháp cố gắng đặt bản văn vào thời đại tác giả viết ra. Việc này có thể đưa tới việc tìm thấy lại làm cách nào bản văn được hình thành hoặc việc biên soạn của nó được trải dài ra nhiều thời kỳ khác nhau.
Phương pháp phê bình lịch sử thực sự bắt đầu xuất hiện vào hồi thế kỷ thứ XVIIỊ Trong giai đoạn này, hai nhân vật được coi như tiên phong là ông Johann David Michaelis (1717-1791) và ông Johann Salomo Semler (1725-1791). Nhà chú giải Michaelis nghiên cứu Kinh Thánh dựa vào những khám phá mới đến từ khoa khảo cổ như những văn bản cổ tìm thấy trên những mãnh da cừu, những cuộn giấy cói miền Cận Đông và những hàng chữ ghi trên những mãnh bình bể. Ông Semler thì nhấn mạnh vào cấu trúc văn phạm của những văn bản. Tác giả cho thấy luôn luôn phải đặt bản văn vào bối cảnh như người chứng của thời đại.
Bước sang thế kỷ thứ XIX, hai tác giả có công đưa ra những thuyết về "nguồn gốc văn chương" của các bản văn là Karl Heinrich Graf (1815-1869) và Julius Wellhausen (1844-1918). Dựa vào những khám phá này, nên mới thấy xuất hiện giả thuyết bốn văn kiện đối với Cựu ước : Gia-vít (J); Êlôhít (E); Đệ Nhị Luật (D) và Tư Tế (P). Với Tân ước nhất là về vấn đề Nhất Lãm giả thuyết "hai nguồn văn" đã ra đời. Tiếp theo có Abraham Kuenen (1828-1891), Otto Pfleiderer (1839-1908) và Emile Schơrer (1844-1910) với những khám phá trong khoa lịch sử các tôn giáo. Kuenen xuất bản một cuốn sách về lịch sử Do thái và Do thái giáo. Pfleiderer đưa ra phương pháp lịch sử đối chiếu các tôn giáo và Schơrer là người đầu tiên đưa phương pháp lịch sử vào việc nghiên cứu Tân ước. Phần đông các tác giả trên đều xuất hiện bên Đức và những tư tưởng trên chỉ phổ biến vào Pháp với tác phẩm về "Cuộc đời Đức Giêsu" do Ernest Renan (1823-1892) xuất bản. Vào cùng thời gian này, cha Marie Joseph Lagrange (1855-1938) dòng Đa minh đã thành lập trường Thánh Kinh Giê-ru-sa-lem năm 1890, và ngài xuất bản cuốn "Phương pháp lịch sử" năm 1903. Về phía Công giáo, các công trình nghiên cứu Kinh thánh bị tạm gián đoạn với cuộc khủng hoảng Duy Tân thuyết. 3
Người đưa khoa chú giải vượt ra khỏi khoa phê bình văn chương là Hermann Gunkel (1862-1932) với lối nghiên cứu "lịch sử các hình thức" (Formgeschichte) để tìm môi trường bản văn xuất xứ (Sitz im Leben). Những tác giả đã áp dụng phương pháp này vào việc nghiên cứu Tân ước là Martin Dibelius (1883-1947), Rudolf Bultmann (1884-1976). Gerhard Von Rad (1901-1971) cũng áp dụng nhưng đưa ra thêm một đường hướng mới mà sau này ta gọi là "Lịch sử truyền thống" (Traditionsgeschichte).
Sau đệ nhị thế chiến, phương pháp "Lịch sử việc biên soạn" (Redaktiongeschichte) mới ra đời với những tác giả Robert Henry Lighfoot (1883-1953), Gunther Bornkamm (1905- ) và Hans Conzelmann (1915- ).
2. Phương pháp phê bình lịch sử.
Đọc sơ lược qua tiến trình lịch sử trên đây, phương pháp phê bình lịch sử gom góp rất nhiều phương pháp khác nhau vì thế gọi các phương pháp phê bình lịch sử đúng hơn. Hôm nay khi nghiên cứu một bản văn theo phương pháp lịch sử, ta có thể tóm lại theo tiến trình như sau:
1. Phê bình bản văn
2. Phân tích bản văn
3. Phê bình nguồn gốc
4. Phê bình văn chương
5. Lịch sử Truyền thống
6. Lịch sử biên soạn
7. Tóm lại những khám phá trong tiến trình chú giải và đề nghị ý thần học và hiện tại hóa bản văn.
Dĩ nhiên, tùy theo đối với một bản văn có nhiều nguồn hay không có nguồn để có thể áp dụng tiến trình trên đây. Trong bài này, chúng ta sẽ xét qua những yếu tố ghi trên, cho nên những ví dụ được lựa chọn trong một số văn bản Tân ước chứ không chỉ áp dụng riêng vào cho một đoạn văn mà thôi.
2.1. Phê bình bản văn . 4
Phê bình bản văn tức là đi Kiểm tra bản văn. Trong phần này, chúng ta xem bản văn Kinh Thánh muốn nghiên cứu có dị bản hay không. Tại sao lại có vấn đề dị bản? Trước đây, Kinh Thánh được các Ký lục viết lại bằng tay từ thế hệ này qua thế hệ khác cho các Cộng đoàn Kitô hữu. Bởi vậy có rất nhiều thủ bản Kinh Thánh được lưu hành tại Trung Đông, Bắc Phi và Âu châu. Các thủ bản này được viết nên không tránh khỏi có những điểm khác biệt. Điểm khác biệt có thể đến từ việc giải thích Kinh thánh của một Cộng đoàn, nhưng cũng có thể là do Ký lục chép lại sai, thiếu một chữ hay cả một đoạn, nhưng cũng đôi lúc thêm thắt vào đó. Kinh Thánh chỉ bắt đầu được in vào thời Phục Hưng và ấn bản đầu tiên xuất hiện năm 1520. Các nhà chuyên môn về phê bình bản văn đã xếp các thủ bản Kinh thánh lại. Chỉ riêng Tân ước cũng đã có hơn 5000 thủ bản. Họ xếp theo năm xuất bản, so sánh giữa các thủ bản và đặt các tài liệu mang cùng dị bản hoặc cùng sai sót giống nhau. Họ cho biết bản nào tương đối là gần bản gốc nhất. Việc làm này đòi hỏi phải theo một số tiêu chuẩn nghiêm ngặt : phải để ý và biết ngữ vựng tác giả thường dùng trong các bản văn của họ; xem xét bối cảnh; trước tiên phải chấp nhận bản văn khó hiểu có thể là văn bản cũ nhất; phẩm chất của thủ bản. Mục đích phê bình bản văn là cố gắng đi tìm bản văn nào sát bản gốc nhất.
Thí dụ : Tin Mừng Lu-ca 1,46-55.
Đoạn văn này thường được biết tới dưới tên "Bài ca Magnificat". Văn bản Magnificat không có nhiều dị bản, nhưng câu nhập đề bài ca 1,46 đặt ra một vài vấn nạn. Chúng ta phải đọc : "và Maria nói" hay "và Elisabeth nói"? Phê bình về mặt ngoại bản văn thì bài ca do chính Maria cất lời ca ngợi. Tất cả các thủ bản bằng tiếng Hy lạp đều ghi "Mariam" hoặc "Maria" trong thủ bản C 5 và D.6 Các văn bản sao bằng tiếng La tinh và các tác giả Hy lạp và Syriaque đều ghi như trên. Đó cũng là giải pháp của các tác giả trước thế kỷ thứ III.
Thế nhưng, dị bản hiếm hoi cho rằng Elisabeth là tác giả bài ca được ba thủ bản bằng tiếng La tinh chứng nhận:
- thủ bản a (Vercellensis) ở thế kỷ IV - V ghi Elisabet.
- thủ bản b (Veronensis) ở thế kỷ thứ V ghi Elisabel.
- thủ bản l (Rhedigeranus) ở thế kỷ thứ VIII ghi Elisabeth.
Hơn nữa, Đức giám mục Nicetas, thành Remesiana miền Dacie (nay thuộc nước Yougoslavie), sống khoảng năm 400, trưng dẫn tên Elisabeth trong trong bản văn "De psalmodiae Bono" 9.11.
Tại sao lại có dị bản nay. Một số tác giả cho rằng ở vào thế kỷ thứ IV, một số Giáo hội bên Tây phương đã đọc Elisabeth như người xướng bài ca này. Ví dụ dị bản này cũng còn được đọc thấy trong thủ bản "Adversus haereses" của thánh Irénée bằng tiếng La tinh. Trong bài giảng thứ 7 về Tin Mừng Luca (Lucam Homiliae), Giáo phụ Origène cũng cho Elisabeth là người hát Magnificat. Ngược lại các Giáo phụ La tinh khác như thánh Ambroise, Jérôme và Augustin đều đọc tên Maria trong câu Luca 1,46. Ngoài ra dị bản cũng có thể đến vì sơ xuất của ký lục: ví dụ một vài thủ bản ghi "và Maria nói với Elisabeth", khi chép lại Ký lục đã quên tên Maria. Chúng ta thấy điều này đã xảy ra đối với câu Luca 1,42: "và bà (Elisabeth) cất tiếng lớn và nói với Maria" trong các thủ bản Sinai 7 và Peshitto.8 Những điều trên đưa đến việc lựa chọn "Maria" là bản vững vàng hơn cả. Các ấn bản Tân ước hôm nay đều nhận Maria là người xướng bài ca tạ ơn.
2.2. Phân tích bản văn
Phần này gồm có việc ấn định phạm vi bản văn, bối cảnh của nó, từ vựng của bản văn, phân tích ngữ pháp và thể văn, phân tích từ nghĩa học.
2.21. Ấn định phạm vi bản văn.
Công việc đầu tiên là cần giới hạn phạm vi bản văn Kinh Thánh được lựa chọn nghiên cứu. Việc ấn định này giúp biết bản văn bắt đầu từ câu nào và kết thúc ở đâu. Nhiều người cho rằng việc này dễ dàng vì trong Kinh thánh các chương và câu đã được phân chia ra rồi. 9 Việc chia các sách ra từng Chương, từng Câu là một ý tốt đẹp nếu như nó hợp với ý nghĩa. Ở đây nhiều khi cách phân chia không hợp tình hợp lý nên cũng là điều đáng tiếc. Tuy nhiên việc chia cắt này được toàn thể các bản dịch thừa nhận vì rất thiết dụng cho việc trưng dẫn.
Nhiều lúc thiếu chính xác nên người nghiên cứu Kinh Thánh cần xác định lại xem bản văn đó có thật sự đơn nhất mang cùng câu truyện. Vì thế cần xem bối cảnh gần của bản văn: sự biến đổi chủ đề, thay đổi nhân vật. Tất cả những đổi dời này là tiêu chuẩn để giới hạn bản văn. Đôi khi, bài văn mang nhập đề với công thức mẫu như : "Người bắt đầu nói..."; "Người nói với họ dụ ngôn..."; "Đức Giêsu nói với đám dân chúng..." v.v... Những công thức này quan trọng vì giúp ta dễ dàng ấn định câu đầu và câu cuối bản văn.
Một tiêu chuẩn khác để thấy bản văn đơn nhất khi ta nhận ra bố cục của nó như cách biên soạn bao hàm, cấu trúc đồng tâm, sự song song... Lối bao hàm là cách nhà biên soạn lập lại những từ hay thành ngữ ở đầu và cuối bản văn. Ví dụ trong thư thứ nhất gửi Ti-mô-thê 1,35 và 1,18 với những từ "lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình". Lối song song là cách lấy lại tư tưởng dưới một hình thức khác. Cấu trúc đồng tâm lấy lại những chủ đề theo cách như sau: A - B - C ; C - B - A- (xem Gioan 7,3-5; 7,1-13).
Trên đây là những tiêu chuẩn chính cho việc ấn định phạm vi bản văn. Có những bản văn dễ dàng giới hạn (thí dụ Lu-ca 1,46-55); ngược lại khi gặp bản văn khó biết phải ngắt ở đâu lúc này ta phải dựa vào những thay đổi thể văn hay cách dùng từ vựng. Khi đọc bài Thánh thi trong thư gửi tín hữu Cô-lô-xê, chúng ta nhận xét có sự khác biệt các ấn bản Tân ước. Có bản ngắt Cô-lô-xê 1,12-20, hoặc Cô-lô-xê 1,13-20 hoặc Cô-lô-xê 1,15-20.
Thí dụ : Lu-ca 1,46-55
Lu-ca 1,39-56thường được gọi là trình thuật «Thăm viếng». Bài văn nằm giữa hai trình thuật truyền tin (Lu-ca 1,5-38) và hai trình thuật ra đời (1,57-2,52). Trình thuật Maria thăm viếng bà Elisabeth mang tác dụng làm gạch nối giữa hai trình thuật truyền tin và biến cố những sự sinh ra. Việc ấn định phạm vi trình thuật Thăm viếng là điều dễ dàng.
- Lu-ca 1,38 : Thiên thần Gabriel kết thúc việc truyền tin cho Maria
- Lu-ca 1,39 : một chỉ số thời gian "Trong những ngày ấy", cộng thêm nhân vật là Maria.
- Lu-ca 1,56 : một chỉ số niên biểu "ba tháng", cộng thêm nhân vật là Maria.
Lu-ca 1,39-56 là một đoạn văn mới đối với những gì xảy ra trước. Trong cùng một đoạn chúng ta còn có thể chia nhỏ ra làm hai phần. Lu-ca 1,39-45 là trình thuật nói về việc thăm viếng. Trước hết tác giả nói về cuộc viếng thăm (câu 39-42a), và từ câu 42b đến câu 45 là đoạn Elisabeth ca ngợi Maria đầy ơn Thánh Thần.
Bắt đầu câu 46, Maria làm bung nổ nỗi vui mừng sau khi nghe lời người bà con ngợi khen mình và Maria tạ ơn Thiên Chúa. Đoạn văn 1,46b-55 cấu tạo thành một tổng hợp : bài ca tạ ơn Magnificat.
Câu 56 thu tóm tỗng thể trình thuật thăm viếng và tác giả chỉ định Maria trở về nhà. Điều này tương hợp với việc Maria ra đi ở câu 39. Bản văn được cấu tạo thật chặt chẻ và nêu lên sự ra đi là cách tác giả Lu-ca thường dùng đến để chấm dứt một đoạn trình thuật trong hai chương đầu cuốn Tin mừng.
2.22. Bối cảnh.
Bản văn thường luôn có một liên hệ với những gì ở trước và sau tức là bối cảnh gần nhất của bài văn. Dầu vậy chúng ta cũng không nên quên bối cảnh xa rộng của nó. Đối với một bản văn rút ra từ Tin Mừng, bối cảnh rộng tức là ta cần xem bài đó nằm trong phần nào của cuốn sách. Ngược lại đối với bối cảnh gần đòi hỏi chính xác hơn, để ý những dấu hiệu văn chương như văn phạm với liên từ, thể văn... Mục đích làm nổi cấu âm với những gì ở trước và sau bài văn.
Thí dụ : Lu-ca 15,11-32
Dụ ngôn người cha nhân hậu là dụ ngôn cuối của một bộ ba dụ ngôn cùng chương 15 trong Tin Mừng Lu-ca: Dụ ngôn con chiên bị mất (4-7); Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất (8-10) và Dụ ngôn người cha nhân hậu (11-32).
Bối cảnh gần. Dụ ngôn Người Cha nhân hậu có bối cảnh gần với hai dụ ngôn trước đó. Cả ba dụ ngôn đều liên kết với nhau ở thể văn với những cụm từ "Đức Giêsu mới kể cho họ nghe dụ ngôn này" (câu 3); hoặc (câu 8); "Rồi Đức Giêsu nói tiếp" (câu 11). Cả ba kết thành một đơn vị văn chương đơn nhất, cả ba dụ ngôn đều mang yếu tố chung về chủ đề vui mừng : "Xin chung vui với tôi..." (câu 6; câu 9); "...chúng ta mở tiệc ăn mừng" (câu 23). Với những yếu tố đó, nên nhiều nhà chú giải đặt tên chương 15 là " Dụ ngôn về sự vui mừng".
Bối cảnh rộng. Điều nhận xét đầu tiên là chương 15 không liên kết về thể văn và chủ đề với chương 14. Tác giả Lu-ca đặt nơi chương 14 chủ đề quan trọng về sự nghèo khó và những người nghèo. Chương 16, Lu-ca trở lại vấn đề tiền của. Ta thấy tác giả đã lồng chương 15 vào giữa hai chương nói về sự giàu sang. Nếu nhìn tổng thể toàn bộ Tin Mừng Lu-ca, chương 15 nằm ở vị trí nào ? Tin Mừng Lu-ca thường được chia ra làm 3 giai đoạn lớn trong tiến trình sứ mạng của Đức Giêsu : Lc 4,14-9,50 : Đức Giêsu trở về Ga-li-lêa đầy ơn Thánh Thần. Lc 9,51-19-27 : Hành trình lên Giê-ru-sa-lem. Lc 19,28-24,53 : "Đức Giêsu nói những lời ấy xong, Người đi đầu, tiến lên Giêrusalem". Lu-ca đặt chương 15 trong đoạn Đức Giêsu hành trình lên Giê-ru-sa-lem. Ngoài hai chương đầu về thời Thơ ấu, chình trong đoạn 2 này Lu-ca đã đặt vào đó nhiều bản văn riêng biệt chứ không thấy các tác giả Nhất lãm khác có. Vì thế, các nhà chú giải thấy chương 15 mang một cấu trúc và ý nghĩa thần học quan trọng trong Tin Mừng Lu-ca.
2.23. Từ vựng & phân tích ngữ pháp.
Một bản văn được soạn với những từ với nhiều thể loại khác nhau. Muốn phân tách chính xác ngữ pháp cần sao kê tất cả những từ và xếp theo văn phạm : liên từ, giới từ, phó từ, tính từ, từ hạn định, động từ, đại từ, thể từ...
2.24. Từ nghĩa học (Sémantique).
Phần phân tích này nhắm tìm hiểu nghĩa rõ ràng của một số từ hiếm hoi như những từ mà ta chỉ gặp một lần trong toàn bộ Kinh Thánh. Các nhà chuyên môn gọi là hapax legomenon. Đôi khi có những từ không rõ nghĩa nên bắt buộc phân tích từ nghĩa học 10, ví dụ phải hiểu từ "viên mãn" (plêrôma) thế nào trong thư gửi Cô-lô-xê 1,19. 11
2.3. Phê bình nguồn gốc .12
Công việc trong giai đoạn này là đi tìm nguồn gốc bản văn. Phương pháp này lần đầu tiên được khám phá ra ở thế kỷ thứ XVIII. Đối với Tân ước, phương pháp này đã đưa tới giả thuyết hai nguồn văn áp dụng cho Tin Mừng Nhất Lãm. Đây là một giả thuyết được một số đông nhà chú giải chấp nhận. Theo giả thuyết này thì Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca trực tiếp lệ thuộc vào Tin Mừng Mác-cô và cùng lệ thuộc vào một sưu tập các lời của Đức Giêsu, thường được gọi là nguồn Q do chữ Quelle từ tiếng Đức.
Phương pháp phê bình nguồn gốc có thể áp dụng trong Tân ước qua hai trường hợp : văn bản độc nhất không có bài song song như bài ca Magnificat; hoặc văn bản có bản song đôi như trường hợp Kinh lạy Cha theo Mát-thêu và Lu-ca; hoặc song ba như trường hợp bài về ơn gọi ông Lê-vi trong Mát-thêu 9,9, Mác-cô 2,23-14 và Lu-ca 5,27-28.
Trước 1 bản văn không có bản song song.
Nơi đây có một số tiêu chuẩn giúp xét lại bản văn:
1- Những khác biệt hay chống đối nhau.
Thật vậy, ngay trong 1 bản văn cũng có thể những dấu hiệu không nhất trí với nhau, những khác biệt mà khó hoà giải được. Điểm này làm cho bản văn không liên tục. Trong trình thuật phép lạ hóa bánh lần thứ nhất theo Mác-cô 6,30-44. Chúng ta đọc câu 32-33 : "Vậy, các ngài xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài".
2- Những khác biệt về ý nghĩa thần học.
Nhiều lúc ta có thể chứng minh một đoạn văn mang ý nghiã thần học không phùhợp với cuốn sách hay cùng một tác giả. Điều này là dấu hiệu cho biết đoạn văn đó có thể được thêm vào sau này. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu cùng Chúa Cha trong đoạn Mát-thêu 11,25-27: "Lạy cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn...". Các nhà chú giải gặp nhiều khó khăn chú giải Lời kinh này, vì lối văn và tư tưởng quá gần với tư tưởng Tin Mừng theo Gioan hơn là của Mát-thêu.
3- Khung cảnh một đoạn văn.
Nơi đây cần để ý đến đọan mở đầu và đoạn kết của một bản văn. Các tác giả thường viết để nối vào một trình thuật vì vậy là dấu hiệu biên soạn của tác giả. Trong đoạn mở đầu bài giảng trên núi theo Mát-thêu 5,1-2, tác giả biên soạn để đưa ta vào toàn bộ bài giảng dài từ chương 5 đến chương7.
4- Những thống kê.
Chúng ta cần phân tích những từ ngữ của một đoạn văn để khám phá xem ngữ vựng đó có phải là sắc thái riêng của một tác giả hay một nhà biên soạn. Đôi khi một từ được các tác giả dùng quá nhiều, hiển nhiên chúng ta khó mà chú giải được.
Ví dụ như động từ "đã làm" (thể aoriste của động từ poiêo) trong câu "Đấng quyền năng đã làm cho tôi những điều cao cả" (Lu-ca 1,49). Động từ này được dùng đến khoảng 520 lần trong Tân ước. Khó mà phân định những đặc điểm của mỗi tác giả. Chúng ta chỉ nêu lên nhận xét là trong bản văn Tin Mừng thời thơ ấu, Lu-ca đã sử dụng ít nhất là bảy lần. Và sự kiện đó cho phép chúng ta có một số ý nghĩ : Động từ được dùng năm lần trong ba bài ca ngợi : 1,25 "đó là việc mà Chúa đã làm cho tôi...";1,49-51 "Vì Đấng quyền năng đã làm cho tôi những điều cao cả...";1,68-72 : "Chúa làm (thực hiện) sự giải thích cho dân ngài...". Có một lần trong truyện thuật về sự kiện dâng vào đền thánh Lu-ca 2,27 và lần cuối trong bản văn Đức Maria nói với Đức Giêsu : "Này con, tại sao con đã làm như vậy cho cha mẹ" (2,48).
Ngược lại ví dụ trong Lu-ca 1,48 : "vì Người đã đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người. Này từ đây, mọi đời sẽ khen tôi có phước" cho thấy các từ trong câu này đều mang đặc điểm riêng của tác giả Lu-ca :
- "đã nhìn đến" (epiblepô). Động từ này rất hiếm thấy trong Tân ước. Nó xuất hiện hai lần trong Tin Mừng Lu-ca và một lần trong thư của Giacôbê (2,3). Lu-ca dùng hai lần trong câu 9,38 nơi câu truyện chữa lành đứa trẻ bị quỹ ám. Câu truyện đều được ba bản văn nhất lãm kể lại, trong một bối cảnh như nhau, nhưng có nhiều điểm dị biệt. Lu-ca là tác giã nhất lãm duy nhất đã ghi lại lời cầu xin của người đàn ông, kêu cầu Đức Kitô nhìn đến (epèblepô) con trai mình. Có lẽ đây là một đặc điểm của lối hành văn.
- Sự thấp hèn (tapeinosis). Chữ này có thể cũng là một nét đặc trưng của ngôn ngữ Lu-ca. Thật thế nó được dùng đến ba lần trong Lu-ca 1,38; 1,48 và Công vụ 8,33. Nhưng trong phần còn lại của toàn bộ Tân ước ta chỉ gặp có hai lần (Phi-lê-môn 3,21; và thư của Gia-cô-bê 1,10).
- của nữ tì ngài (doulè). Ngôn ngữ này hẳn là đặc loại của Lu-ca. Thành ngữ này hai lần được dùng để nói về Maria. Trong mẫu truyện truyền tin, Maria trả lời cho Thiên thần và nói rằng ngài là "nữ tì của Chúa. Xin cho sự việc xảy đến đúng như lời của Ngài" (câu 38). Trong bài Magnificat, Maria lại tự nhận là "nữ tì của Chúa". Ở câu Lu-ca 2,29 "doulè" nói về Syméon, trong sách công vụ, chữ đó nói đến những người được tiếp nhận ơn của thánh thần trong ngày hiện xuống (Công vụ Tông đồ 2,18.18 = Joel 3,2. Công vụ Tông đồ 4,29)
- Vì này đây (idou gar). Thành ngữ được thấy bảy lần trong Tân ước. Lu-ca đã dùng đến sáu lần, còn lần kia ở trong thư 2Cô-rin-tô 7,11. Trong Tin Mừng Lu-ca, ba lần được sử dụng trong phần Tin Mừng thời thơ ấu (1,44.48 và 2,10). Như thế, chắc chắn đây là một thành ngữ riêng được Lu-ca dùng.
- từ nay (apo ton nun). Lối nói này chỉ gặp thấy trong các bản văn của Lu-ca (Lu-ca 1,48; 5,10; 12,52; 22,18.69; Mác-cô 14,62 và Công vụ Tông đồ 18,6) trừ trường hợp các câu Gio-an 8,11 và thư 2Cô-rin-tô 5.16. Đây là một mệnh đề nêu lên thời gian tính, giải thích những tình cảm của Maria hướng về Thiên Chúa,
Với những phân tích trên, nên nhiều tác giả cho rằng câu 48 có thể được thêm vào sau này. Câu 48 là một sáng tác văn chương riêng của Lu-ca. Đó là một câu được thêm vào để ứng dụng cho những hoàn cảnh của Maria.
Chúng ta nhìn nhận rằng Lu-ca đã có ngôn ngữ riêng của mình qua câu này với động từ "épiblepô", chữ "doulè" và những thành ngữ về thời gian "idou gar" và "apo ton nun"; nhưng vẫn còn thiếu một số chỉ dẫn chắc chắn để quả quyết rằng có một sự thêm thắt nào đó sau này vào bản văn tán tụng. Ngoài ra, chúng ta có những điểm song song với Cựu ước và nhất là bản văn Bảy Mươi, chỉ dẫn này có thể là một dấu chỉ để nhận ra rằng câu này nằm trong bản tán tụng nguyên thủy và Lu-ca đã trau chuốt lại một vài thành ngữ.
5- Những rời rạc trong bản văn.
Điểm này cho thấy những thiếu sót có trong một bản văn, hoặc vì bản văn quá ngăn như thể bản tóm lược. Đó là dấu chỉ đoạn văn đến từ một nguồn khác hoặc là nhà biên soạn đã sửa đỗi. Hai câu nói về việc Đức Giêsu chữa bệnh cho bà mẹ vợ ông Si-mon (Mác-cô 1,29-31) quá ngắn và thiếu nhiều chi tiết về câu chuyện nên có thể bản gốc đầy đủ hơn.
6. Ngoài ra còn những tiêu chuẩn như việc phân tích thể văn của một tác giả, hay cách tác giả dùng ngữ pháp. Những điều này giúp ta biết cách tác giả biên soạn.
Trước 1 bản văn có bản song song.
Khi một văn bản có bản song song hẵn giúp ta dễ dàng hơn trong vấn đề đi tìm nguồn gốc. Nơi đây có ba việc phải phân tích
1- So sánh các văn bản song song.
Việc so sánh tìm xem những điểm dị biệt và những điểm tương đồng giữa các bản văn. Sau đó phải cố gắng tìm giải thích những khác biệt và giống nhau đó. Có phải tác giả đã quên, hay ông đã không hiểu ý của bản gốc?
2- Những thêm thắt : Tác giả có thể thêm thắt vào đó một vài chi tiết khác với bản gốc.
3- Những thống kê (như phần trên).
4- Thứ tự : Đôi khi tác giả thay đổi thứ tự một bản văn hay một loạt số trình thuật.
5- Khung cảnh một trình thuật : như trên phải để ý Nhập đề và phần kết bài văn.
6- Khác biệt ý nghĩa thần học : Điều này đối với bản đối chiếu sẽ cho ta thấy rõ hơn sự khác biệt giữa các tác giả.
7- Thể văn và ngữ pháp
Thí dụ : 1 hay 2 Kinh Lạy Cha?
Nếu mở Tin Mừng ra, chúng ta sẽ thấy Kinh Lạy Cha có tất cả hai bản. Một theo Mát-thêu 6,9-13 và một theo Lu-ca 11,2-4. Chúng ta thấy bảng văn Nhất Lãm của thánh sử Mát-thêu dài hơn bản văn của thánh Lu-ca.
Tác giả Tin Mừng thứ nhất, viết lời khẩn cầu mở đầu như sau: «Lạy Cha chúng con, Đấng ngự trên trời» trong khi lời kinh mở đầu thánh Lu-ca giữ từ ngữ rất đơn giản: «Lạy Cha». Trong lời cầu xin thứ ba, Mát-thêu ghi thêm lời cầu thứ bốn: «xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời» (câu 10 b). Lu-ca cũng không ghi lại lời cầu xin thứ bảy có trong Mát-thêu: «nhưng xin cứu chúng con khỏi quỉ dữ» (câu 13 b). Tổng cộng Mát-thêu bao gồm cả thảy bảy lời xin và Lu-ca chỉ có năm lời xin.
Dù những lời xin theo Mát-thêu 6,11-12 và Lu-ca 11, 3-4 ab giống nhau, nhưng cũng có vài điểm khác biệt về thể văn và văn phạm. Rồi khi tìm hiểu đến bối cảnh văn chương cũng như trong hoàn cảnh nào Kinh Lạy Cha được giảng dạy, thì ta thấy những điểm dị biệt càng rõ ràng hơn. Hai bản đều mang hai hoàn cảnh khác biệt, và để có thể tìm hiểu về bản Kinh thì những câu hỏi được đặt ra như sau:
- Xét về phương diện nguyên bản của lời Kinh thì : sự thể có hai bản Kinh trong Tân ước, phải chăng Đức Giêsu đã giảng dạy hai lần Kinh này qua hai hoàn cảnh khác nhau? Nếu như Chúa Kitô không dạy Kinh này hai lần, thì Mát-thêu và Lu-ca, tác giả nào giữ đúng nguyên bản? Hoặc Thánh sử nào đã sửa lời Kinh của Thiên Chúa ? Có phải Mát-thêu thêm vào hay Lu-ca bớt đi ?
- Xét về phương diện văn chương : Đó là vấn đề bản kinh được hoàn thành như thế nào, tức là những yếu tố văn chương nào góp vào sự hình thành đó.
Nguồn: http://vietcatholic.com/News/Html/1927.htm