Giải Thích Kinh Thánh (p2) - Các nghĩa của Kinh Thánh
Lm. Giuse Nguyễn Tất Trung, OP. Sở dĩ phải đặt vấn đề giải thích Kinh Thánh vì hai lý do: một đàng Kinh Thánh là một bản văn cổ, nên muốn đọc và hiểu cần phải tuân theo một số nguyên tắc vẫn áp dụng chung cho các bản văn cổ (chưa nói đến những nguyên tắc thuộc phạm vi đức tin, bởi Kinh Thánh là một tác phẩm nhân-thần). Đàng khác, lại phải trình bày ý nghĩa, thông điệp của Kinh Thánh cho người khác. Vì đó phải có một số những qui luật để giải thích. Ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu hai phần của vấn đề: A. Lý thuyết về giải thích Kinh Thánh B. Các nghĩa của Kinh Thánh
CÁC NGHĨA CỦA KINH THÁNH
Ngôn ngữ của loài người là phương tiện truyền đạt tư tưởng, là phương tiện để có sự cảm thông giữa người với người. Nội dung mà người nói muốn thông đạt cho người nghe gọi là nghĩa.
Do sự kiện Kinh Thánh được linh hứng, ta có thể tin rằng một khi sử dụng những phương tiện hợp lý lành mạnh mà tìm được nghĩa nội dung điều tác giả loài người muốn trình bày, thì đó cũng là điều tác giả chính, Chúa Thánh Thần muốn nói. Vấn đề Kinh Thánh có một nghĩa hay nhiều nghĩa ngày nay vẫn còn tranh luận ; nhưng theo một số, và cũng là điều ta sắp làm, Kinh Thánh là một cuốn sách đặc loại nên trong bản văn có thể có những nghĩa khác nhau ngoài những người mà tác giả loài người muốn trình bày. Trước khi tìm hiểu sơ lược các nghĩa, cũng cần lưu ý là ngày nay những lý thuyết giải thích hiện đại dựa theo những triết lý, rồi những tiến triển của việc nghiên cứu các nền văn chương giúp cho việc tìm ý nghĩa phong phú hơn. Ngày xưa, tuy chưa được hưởng những thành tựu của triết học và khoa học như ngày nay, nhưng người ta cũng đã cho rằng bản văn Kinh Thánh có nhiều cấp ộ ý nghĩa. Thường nhất là nghĩa đen (nghĩa theo chữ) và nghĩa thiêng liêng. Khoa chú giải thời Trung cổ phân biệt trong nghĩa thiêng liêng ba khía cạnh khác nhau liên hệ tới chân lý được mmặc khải, đến cách sống phải theo và đến mục tiêu cuối cùng phải hoàn thành. Do đó có câu đối nổi tiếng của Augustin de Danemark (thế kỷ XIII) tóm tắt bốn nghĩa như sau : “Littera gesta docet, quid credas allegoria, moralis quid agas, quid speres anagogia” (Chữ dạy cho biết các biến cố, ngụ ngôn cho biết điều bạn phải tin, luân lý dạy điều bạn phải làm, thần bí chỉ điều bạn phải hy vọng) (x. Sách Giáo lý Hội Thánh công giáo, số 115-119 ; Văn kiện Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh, II, B).
I. NGHĨA ĐEN (sens littéral)
(xin đọc Văn kiện Việc Giải Thích Kinh Thánh Trong Hội Thánh, Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Roma 1993, II, B, 1).
1. Định nghĩa
Nghĩa đen hay nghĩa theo chữ là “chánh nghĩa của một tiếng hay một lời, nghe thì hiểu ngay, không cần suy nghĩ xa” (Từ điển Việt Nam, Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ).
Đây là nghĩa tác giả Kinh Thánh nhằm tới trước tiên, và là ý nghĩa ông muốn trình bày qua những từ ông sử dụng. Nhưng qua từ ngữ của con người, soạn giả thánh lại nói lên điều Thiên Chúa muốn ngỏ. Do đó ý nghĩa của từ ngữ loài người cũng đồng thời là nghĩa của Lời Thiên Chúa. Không thể có chuyện một đàng là nghĩa theo loài người và một đàng khác là nghĩa Thiên Chúa muốn. Nhưng tác giả loài người muốn nói gì qua những từ ngữ ông sử dụng, thì đó chính là điều Thiên Chúa muốn. Đây là đối tượng tìm kiếm riêng của khoa chú giải Kinh Thánh.
2. Phân loại
Có những kiểu phân loại khác nhau tùy xét theo khía cạnh, vd: theo tiêu chuẩn ngữ pháp, luận lý, theo đề tài, theo việc dùng lời nói…
Thánh Tôma đưa ra một phân biệt ngắn gọn: khi nói nghĩa theo chữ, có hai điều: một là theo nghĩa đen của câu nói, vd: em bé đang cười. Hai là theo nghĩa bóng, tưởng tượng hay ám chỉ, vd: đóa hoa đang hé môi cười trước gió xuân (x. Expos. in Gal 5, lect 7). Có thể nói rõ thêm:
a. Nghĩa đen, sát mặt chữ (sens littéral propre) là nghĩa phát xuất từ những tiếng được sử dụng theo nghĩa (signification) nguyên ngữ, những tiếng được hiểu theo nghĩa ngữ pháp (signification grammaticale). Nghĩa đen sát mặt chữ là nghĩa thông thường của một bài văn, một câu nói. Vd: “Đức Giêsu lên một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon…; từ trên thuyền, Người ngồi dạy dỗ dân chúng” (Lc 5,3). “Con bò biết người tậu nó, con lừa biết chuồng của chủ; Israel không hay không biết, dân Ta không hiểu không tường” (Is 1,3).
b. Nghĩa bóng, nghĩa vượt mặt chữ (sens littéral impropre) là nghĩa (sens) phát xuất từ những tiếng được sử dụng không theo nghĩa (signification) nguyên ngữ, nghĩa ngữ pháp (signification grammaticale), nghĩa thông thường, nhưng theo nghĩa bóng. Vd : “Kìa Đức Chúa, Người đến uy hùng, cánh tay Người làm Người thống trị !” (Is 40,10). “Cánh tay” ở đây không hiểu theo nghĩa ngữ pháp tức là một trong tứ chi con người, nhưng phải hiểu theo nghĩa bóng là ”quyền năng”, là ”sức mạnh”.
Nghĩa bóng hay nghĩa vượt mặt chữ lại có thể thuộc vào hai trường hợp sau : hoặc riêng một từ hoặc toàn bài văn.
– Riêng một từ gọi là ẩn dụ (métaphore). Ẩn dụ là “cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng”. Vd : ”Chúa phù trì che chở ; dưới cánh Người bạn có chỗ nương thân” (Tv 91,4). Đây là kiểu so sánh vắn tắt, nhưng từ biểu thị sự so sánh như : “cũng như, như” được hiểu ngầm.
Vd: “Đức Chúa là mục tử của tôi,
Tôi chẳng thiếu thốn gì
Trên đồng cỏ tươi, Người chăn dắt tôi” (Tv 23, 1-2).
Đây cũng là một lối so sánh vắn tắt
Vd: “Họ như cây trồng bên suối nước” (Tv 1,3).
– Toàn bài văn gọi là dụ ngôn (parabole) hay ngụ ngôn (allégorie). Đây là trường hợp toàn bài văn được hiểu theo nghĩa bóng.
Dụ ngôn (paraballein, đặt cạnh, so sánh) là một câu chuyện do người ta tạo ra, nhưng phù hợp với những qui luật và phong tục trong cuộc sống con người, mục đích để so sánh hầu được hình ảnh so sánh, một thực tại duy nhất ; một chi tiết tự nó không có ý nghĩa bóng. Do đó điều quan trọng là tìm ra ý chính của dụ ngôn, tìm ra đối tượng mô thức của dụ ngôn, đó chính là khía cạnh mà câu chuyện đời gặp gỡ thực tại tôn giáo.
Vd. Dụ ngôn hạt cải lớn lên (Mt 13,31-32) : tất cả dụ ngôn chủ yếu trình bày sự lớn mạnh mau chóng của Nước Trời và được so sánh bằng hình ảnh từ khi còn là hạt cho tới lúc thành cây cải lớn. Trong lối so sánh ẩn dụ và dụ ngôn, trước tiên phải hiểu nghĩa đen, nghĩa cụ thể rồi sau đó chuyển lên một nghĩa khác.
Ngụ ngôn (allégorie – allo-agoreuô), còn gọi là phúng dụ, “là cách tổ chức các hình ảnh sinh động cụ thể để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh (hay thần linh) đưa trên cơ sở liên tưởng nét giống nhau giữa hình ảnh sinh động cụ thể và ý niệm triết lý nhân sinh (hoặc thần linh).
Ngụ ngôn cũng là một kiểu so sánh được triển khai liên tục thành một câu chuyện. Nhưng khác với dụ ngôn ở chỗ toàn câu chuyện của dụ ngôn chỉ có một ý nghĩa, còn trong ngụ ngôn thì mỗi chi tiết đều có một nghĩa bóng. Ngụ ngôn là một chuỗi những ẩn dụ (métaphores). Do đó trong ngụ ngôn, phải tìm nghĩa bóng của mỗi chi tiết sau đó liên kết tất cả thành một thực tại.
Trong Kinh Thánh hiếm có ngụ ngôn. Đây là những ngụ ngôn chính:
– Tl 9, 8-15 : cây cối đi tìm một vị vua.
– 2 V 14,9 : cà cuốc ở Liban xin cưới con gái cây hương nam làm vợ.
– Is 5, 1-6 : bài ca vườn nho.
– Lc 10, 30-37 : người Samari nhân hậu.
– Ga 10, 1-18 : người Mục tử tốt lành.
– Ga 15, 1-7 : Cây Nho đích thực.
– Ep 6, 13-16 : bộ binh giáp.
Ngụ ngôn hiếm hơn dụ ngôn ; ngụ ngôn thuần túy lại càng hiếm hoi. Đa số là ngụ ngôn có pha lẫn một số chi tiết dụ ngôn. Vd : cái tháp và máy ép trong Is 5,2 không có nghĩa nào đặc biệt mà chỉ để soi sáng cho điều quả quyết : Thiên Chúa săn sóc Dân của Người mọi bề như ông chủ đối với vườn nho. Có khi là dụ ngôn pha lẫn một số chi tiết ngụ ngôn, vd : dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,3-8…).
c. Tượng trưng: Tượng trưng là “mượn vật có hình thể để biểu hiện cho vật không có hình thể” (Từ điển Việt Nam, Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ), “một dấu cụ thể gợi lên (do một liên hệ tự nhiên) một cái gì không có mặt, hoặc không thể nhận thấy được” (A. Lalande).
Tượng trưng có thể là một thị kiến, một tác động, một danh xưng, một sự vật, một con số.
Người ta chia thành : biểu tượng tự nhiên : tự bản chất sự vật, hình ảnh tượng trưng dẫn đến một thực tại khác. Vd : chìa khóa (Mt 16,19) ; Akhiya xé áo làm 12 mảnh (1 V 11,29-39) ; cái gông (Gr 27) và biểu tượng qui ước : theo cách suy nghĩ, phong tục, quen dùng một sự vật, con số… để tượng trưng. Vd : số 13 ở Tây Phương, số 7, số 6…
Tượng trưng khác với dụ ngôn và ngụ ngôn ở chỗ cái biểu đạt (signifiant) trong tượng trưng là có thật trong khi ở dụ ngôn và ngụ ngôn có thể là ngụy tạo.
Tượng trưng cũng khác với tiên trưng ở chỗ cái biểu đạt trong tượng trưng tự nó không có ý nghĩa chỉ được đưa ra để ám chỉ một điều gì khác. Còn trong tiên trưng cả hai (cái biểu đạt và cái được biểu đạt) đều có ý nghĩa riêng tác giả nhắm tới, ví dụ, dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,1-9) với phần giải thích sau đó (Mc 4,13-20), hoặc dụ ngôn bọn thợ làm vườn nho sát nhân (Mc 12,1-11).
Có người còn cho rằng nên giả thiết chỗ nào câu chuyện vượt quá giới hạn của các qui luật trong cuộc sống con người và có những nét mà chỉ có nghĩa nếu đối chiếu với hình ảnh Nước Thiên Chúa thì ở đó có những yếu tố ngụ ngôn, ví dụ : gặt 30, 60, 100 (Mc 4,8) hoặc số tiến nợ 10.000 nén bạc (Mt 18,23-25). Đó là những điều vượt quá phạm vi loài người.
Ngoài ra những phương thức trong văn phong (stylistique) cũng rất hữu ích cho việc tìm ra nghĩa theo chữ.
– Phép khoa trương : làm nổi bật một ý tưởng bằng cách nói quá đi, ví dụ Mt 19,24 ; Ga 21,25.
– Phép bỏ lửng : hình thức đột ngột im lặng biểu lộ sự e thẹn uất ức hoặc châm biếm, ví dụ : Ga 6,62 ; Cv 23,9.
– Phép đối ngẫu : đặt gần nhau hai ý tưởng, hai kiểu nói đối nghịch để làm nổi bật sự tương phản.
– Chuyển từ nghĩa cụ thể sang nghĩa thiêng liêng, ví dụ : Mt 15,11 ; Mt 19,12 ; Ga 18,32 ; Ga 6.
– Phép hoán dụ : diễn tả một ý niệm bằng một từ chỉ một ý niệm khá có liên hệ tất yếu với ý niệm thứ nhất, ví dụ dùng cái bên ngoài để chỉ cái bên trong, dùng dấu chỉ thay thực tại; hậu quả thay nguyên nhân, ví dụ Mt 10,34 ; 1 Cr 11,26.
– Phép đề dụ : dùng chất liệu chỉ đồ vật, một phần thay toàn thể số ít thay số nhiều hay ngược lại, ví dụ Mt 16,18 ; Mc 16,15.
– Phép hoán xưng : chỉ một nhân vật bằng một danh từ chung hoặc một kiểu nói vòng diễn tả đặc tính của con người ấy, ví dụ : Cv 3,14-15 ; Mt 4,3.
– Mỉa mai : chế giễu bằng cách nói ngược lại điều mình muốn nói, ví dụ : Ga 8,57 ; 1 Cr 4,3…
– Nói giảm : giảm nhẹ để người nghe hiểu nhiều hơn, ví dụ : 1 Cr 7,25
– Ám chỉ : nói ngầm, gián tiếp, xa xa để người ta ngầm hiểu, ví dụ thư Híp-ri có nhiều chỗ ám chỉ nghi thức ngày lễ sám hối Do-thái ; 1 Pr nhiều chỗ ám chỉ phép rửa.
– Nói ngược đời : đưa ra ý kiến trái với ý kiến, lý luận thông thường, trái với việc thường xảy ra, ví dụ : Mt 5,40 ; 1 Cr 9,18…
– Nhân cách hóa : trình bày một sự vật, con vật, tư tưởng như là một người, ví dụ : Rm 3,19 ; 4,15 ; 7 ; 1 Cr 15.
– Tác giả đồng hóa mình với người đối thoại : ví dụ Rm 3 – 7 ; Ep 2,13.
Tóm lại, nghĩa theo chữ (nghĩa đen hay nghĩa bóng) là một nghĩa thật của Kinh Thánh. Nhiệm vụ hàng đầu và không thể không có của nhà chú giải là vận dụng kiến thức và các phương pháp hiện đại để tìm ra nghĩa này. Đó là lời khuyên trong thông điệp Divino afflante Spiritu (EB 550). Và văn kiện “Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh” (Ủy ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, 23.4.1993) cũng nói rõ : “Nghĩa mà người ta gọi là nghĩa theo chữ không những là hợp pháp, nhưng còn tuyệt đối cần thiết để tìm cách xác định ý nghĩa rõ rệt của những bản văn như chúng đã được các tác giả cho ra đời. Thánh Tôma Aquino đã quả quyết rằng nghĩa này có một tầm quan trọng căn bản (ST I, q.1, a.10 ad 1)”.
II. NGHĨA TIÊN TRƯNG (sens typique)
(xin đọc Văn kiện Việc Giải Thích Kinh Thánh Trong Hội Thánh, Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Roma 1993, II, B, 2).
1. Giải thích
Nghĩa tiên trưng trong Kinh Thánh hệ tại ở điểm này: một số sự vật hoặc một số sự kiện Kinh Thánh thuật lại, ngoài ý nghĩa riêng, nó còn báo trước một thực tại cao hơn, vượt hẳn chữ viết, nó là hình ảnh của các thực tại hoặc mầu nhiệm tương lai.
Như vậy không kể nghĩa theo chữ, trong Kinh Thánh còn có một nghĩa khác gọi là tiên trưng (sens typique, typologique), là nghĩa “mà Thiên Chúa đã ban cho những thực tại, vật, người, biến cố trong lịch sử Cựu Ước nhằm chuẩn bị, báo trước, biểu thị những thực tại hoàn hảo của nhiệm cục Tân Ước ; nghĩa này thường chính các soạn giả Cựu Ước thuật lại những thực tại ấy cũng không biết, nhưng Thiên Chúa đã biết và đặt trước vào bản văn Kinh Thánh như một mầm mống cho mạc khải sẽ có sau” (P. Benoit).
2. Nền tảng
Nghĩa tiên trưng như vậy do một Thiên Chúa mà có, bởi vì Người vừa là tác giả của Kinh Thánh, vừa làm chủ lịch sử, cho nên Người có thể sắp xếp những thực tại Cựu Ước như sự việc, biến cố, nhân vật thế nào để những thực tại ấy báo trước những thực tại Tân Ước. Nhưng nghĩa tiên trưng đó các soạn giả Cựu Ước không biết được, do đó cần có mặc khải giúp cho ý nghĩa được biểu lộ, hay nói khác đi, chỉ khi Đức Kitô đến thì nghĩa tiên trưng mới được bộc lộ.
3. Điều kiện
– Thực tại: thực tại lịch sử hay ít là văn chương về con người, sự vật thật sự để có thể là hình ảnh ám chỉ một thực tại khác cao siêu hơn.
– Tương xứng: có sự tương xứng phần nào giữa hình ảnh và thực tại nó ám chỉ. Khi Tân Ước coi một thực tại Cựu Ước là tiên trưng thì không hẳn mọi phương diện của thực tại ấy đều có ý nghĩa nhưng chỉ những phương diện nào về mặt tôn giáo phù hợp với thực tại của Tân Ước mới là hình ảnh của những thực tại này.
– Ý Thiên Chúa: thực sự Thiên Chúa muốn dùng con người, sự việc để tiên báo một nhân vật, một sự việc khác cao hơn. Thiếu điều kiện này, không còn nghĩa tiên trưng nữa mà chỉ còn nghĩa thích ứng. Có thể biết điều kiện này nhờ chính Tân Ước, tức là qua lời giải thích của Đức Giêsu, các Tông Đồ và các soạn giả Tân Ước; cũng có thể căn cứ vào các giải thích thường xuyên của Hội Thánh (Giáo phụ, Thần học gia, khoa Huấn giáo, Phụng vụ).
4. Nghĩa tiên trưng và nghĩa đầy
Nghĩa tiên trưng và nghĩa đầy giống nhau ở chỗ cả hai đều là ý nghĩa phong phú hơn của lời Cựu Ước khi được dùng lại trong Tân Ước, đã được ánh sáng của mầu nhiệm Chúa Kitô chiếu soi: cả hai đều có sẵn trong Cựu Ước và được Thiên Chúa đặt ở đó, tuy có thể tác giả Cựu Ước không biết.
Nhưng khác nhau ở chỗ nghĩa đầy thì gắn liền với các lời, các từ của bản văn Cựu Ước, vì nghĩa đầy chỉ là một cách hiểu nghĩa đen sâu xa hơn ; còn nghĩa tiên trưng thì gắn liền với các thực tại (con người, biến cố, sự vật) phát xuất từ ý nghĩa toàn bộ của một thực tại trong Cựu Ước. Ví dụ ông Melchisédech, việc vượt Biển Đỏ, con Rắn đồng…
Tuy không phải là nghĩa theo chữ, những nghĩa tiên trưng lại đặt nền tảng vững chắc trên nghĩa theo chữ đầu tiên, bởi vì những thực tại tiên trưng cũng đã đến với ta nhờ các từ ngữ soạn giả thánh sử dụng. Thậm chí khi soạn giả không ý thức mình đang mô tả một tiên trưng, thì tiên trưng cũng vẫn xuất phát từ các lời ông sử dụng. Ví dụ việc ông Ápraham sát tế con, Manna trong sa mạc.
Tiên trưng có thể là một thực tại thuần túy văn chương. Ví dụ nhân vật Giona chỉ là một nhân vật do văn chương tạo ra. Bởi vì điều kiện chủ yếu là : nghĩa tiên trưng phải ở trong chính những lời của Kinh Thánh.
Trong nghĩa tiên trưng, hai hình ảnh tiên trưng và đối tượng là hai thực tại khác hẳn nhau dầu có gặp gỡ nhau ở điểm chung. Điểm chung này chính là giá trị tôn giáo chung của hai thực tại. Trong nghĩa đầy thì giá trị tôn giáo này ở trên một bình diện liên tục còn trong nghĩa tiên trưng thì lại thuộc hai bình diện cũ và mới.
III. NGHĨA ĐẦY (sens plénier, sensus plenior)
(xin đọc Văn kiện Việc Giải Thích Kinh Thánh Trong Hội Thánh, Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Roma 1993, II, B, 3).
1. Định nghĩa
Nghĩa đầy là “nghĩa sâu xa của Kinh Thánh (le sens biblique profond) do chính Thiên Chúa khi mặc khải và linh hứng một lời đã muốn như thế, thường thường soạn giả thánh không biết ; đó là nghĩa nằm trong nghĩa theo chữ” (J. Coppens).
2. Lý do
Vấn đề là có thể có một nghĩa trọn vẹn hơn mà tác giả khi viết lại không ý thức không?
a. Trong thông điệp Providentissimus Deus của Đức giáo hoàng Lêô XIII : “… Vì Kinh Thánh là công trình của Chúa Thánh Thần, những chữ ở trong đó đều che giấu nhiều chân lý vượt hẳn sức lực và sự thấu đáo của lý trí nhân loại, như những mầu nhiệm của Thiên Chúa và những gì liên quan đến các mầu nhiệm đó. Ý nghĩa đôi khi rộng rãi và bị ẩn giấu hơn điều văn tự và các qui luật của khoa chú giải xem ra đã chỉ dẫn được”.
b. Vì Thiên Chúa là tác giả chính của Kinh Thánh, khi muốn cho mặc khải được khai triển về sau này, thì Người đã dẫn dắt soạn giả thánh một cách nào đó để ông dùng chữ dùng lời của mình diễn tả một chân lý mà ngay lúc ấy ông chưa thể thấu đào được ý nghĩa trọn vẹn (A. Béa).
Có thể áp dụng điều thánh Tôma nói về các ngôn sứ vào trường hợp soạn giả thánh. “Bởi vì trí tuệ của ngôn sứ là một dụng cụ khiếm khuyết (instrumentum deficiens), nên ngay cả những ngôn sứ đích thực cũng không biết những gì Chúa Thánh Thần nhằm đến trong các thị kiến và hành động của họ” (ST II-II ; q.173 a.4). Vậy, khi sử dụng ngôn ngữ của thời đại mình để trình bày những chân lý siêu nhiên mà ý nghĩa đầy đủ chỉ có được sau này, thì chính những kiểu nói, những từ ngữ ông sử dụng đã mở ra cho một nội dung phong phú hơn.
3. Tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn của nghĩa đầy là mặc khải về sau, mặc khải của Tân Ước. Nhưng không phải cứ chỗ nào Tân Ước bảo rằng “Kinh Thánh hoàn tất” là đương nhiên ở đó có nghĩa đầy đâu. Để có nghĩa đầy, cần phải có một sự đồng tính giữa nghĩa theo chữ tác giả thánh có ý hiểu với nghĩa mà Tân Ước cho phép gán cho bản văn ấy. Nói cách khác, cả hai bên phải nhắm cùng một đối tượng, cùng một thực tại huyền nhiệm. Nhưng bên này mới thấy một cách mơ hồ, lờ mờ còn bên kia thì đã được măïc khải đầy đủ” (IB, I tr. 205).
Như vậy, nghĩa đầy không vượt quá giới hạn của nghĩa theo mặt chữ, cho dù chỉ có thể nhận ra nhờ ánh sáng mặc khải toàn vẹn. Nó vẫn thực sự là nghĩa theo mặt chữ, là nghĩa của Kinh Thánh. Đối tượng của những kiểu nói, những từ ngữ vẫn là một đối với Thiên Chúa và tác giả thánh, chỉ có khác nhau ở cấp độ hiểu biết rõ rệt mà thôi. Ví dụ:
– Những lời Đức Giêsu thốt lên khi ở trên thập giá, so với Tv 22.
– St 3,14-15 : “Đức Chúa là Thiên Chúa nói với con rắn…”, Kn 2,23-24 : ”Thiên Chúa đã sáng tạo nên con người để được bất hoại… còn chết có nhập vào trần gian là do quỉ đố kỵ…”, Kh 12,9 : ”vậy người ta đã quăng nó đi, con rồng lớn, con rắn thái sơ, thằng quỉ, thằng Satan, kẻ mê hoặc toàn thể thiên hạ”.
IV. NGHĨA HẬU KẾT (sens conséquent)
Nghĩa hậu kết là nghĩa suy diễn từ những chữ của Kinh Thánh nhờ suy luận. Còn có thể gọi nghĩa này là kết luận thần học. Đây không phải là một nghĩa của Kinh Thánh mà chỉ là một suy luận rút từ Kinh Thánh mà thôi. Gọi là nghĩa là nói theo nghĩa rộng. Ví dụ : 1 Cr 9,7-11 khi thánh Phaolô giải thích Đnl 25,4 ; Mt 22,31-32 dẫn Xh 3,6.
Nghĩa hậu kết, vì là một kết luận thực hành nên cũng có lợi ích lớn cho đời sống người Kitô hữu bởi nó sống động và cụ thể. Tuy nhiên nên dè dặt và cẩn thận khi sử dụng kẻo lại suy diễn một nghĩa nào đó hoàn toàn không được hàm ẩn trong bản văn Kinh Thánh.
V. NGHĨA ỨNG DỤNG (sens accomodatice, sensus accomodatus)
Khi đem một số lời nào đó của bản văn Kinh Thánh áp dụng vào những thực tại khác với những thực tại mà bản văn thực sự muốn diễn tả, khác với những thực tại soạn giả thánh muốn trình bày, lúc đó ta có nghĩa ứng dụng.
Các soạn giả thánh cũng đã sử dụng kiểu này, ví dụ:
– Rm 10,18 so với Tv 19,5
– 2 Cr 8,15 so với Xh 16,18
– Hr 13,5 so với Gs 1,5
Hội Thánh cũng năng sử dụng, nhất là trong Phụng vụ, kiểu ứng dụng này, ví dụ:
– Cn 8,22 áp dụng vào Đức Maria
– Hc 24
– Hc 44,1-50 áp dụng vào các thánh tiến sĩ Hội Thánh
Các nhà giảng thuyết ngày nay cũng có thể sử dụng phương thức này, ví dụ áp dụng Tv 110,4 cho các linh mục Tân Ước, Ga 1,47 cho một người có hạnh kiểm tốt. Tuy nhiên nên dè dặt và chừng mực, vì tuy không thể nói phương thức này là không hợp lệ (vì nó đặt cơ sở trên hiệu lực đặc biệt của những lời trong Kinh Thánh : loại suy hay ám chỉ), nhưng cũng phải nói ngay là nghĩa ứng dụng không phải là một nghĩa thực sự của Kinh Thánh. Việc lạm dụng không phải không có những nguy hiểm. Thông điệp Divino afflante Spiritu đã cảnh giác rằng : ”Vậy nghĩa thiêng liêng, đã được Thiên Chúa muốn và ấn định, các nhà chú giải công giáo phải cẩn thận bộc lộ và trình bày như thế giá của Lời Thiên Chúa đòi buộc. Nhưng họ phải kính cẩn lo sao đừng trình bày những nghĩa ẩn dụ (significations métaphoriques) khác của sự vật và các sự kiện như thể là những nghĩa chân thực của Kinh Thánh. Vì nếu như, đặc biệt trong sứ vụ giảng thuyết, một cách sử dụng rộng rãi và có ẩn dụ so sánh một bản văn Kinh Thánh có thể giúp soi sáng và làm nổi bật một số điểm thuộc đức tin và phong hóa, miễn là phải dè dặt và chừng mực, thì vẫn không bao giờ được quên rằng cách sử dụng Lời Thiên Chúa đây có tính cách ngoại tại và là phụ, chêm vào. Có thể là, và nhất là ngày nay, kiểu sử dụng này không phải không nguy hiểm, bởi vì các tín hữu, nhất là những người đến với các thánh khoa như thể đến với các khoa đời, nhằm tìm điều Thiên Chúa có ý nói với chúng ta qua những văn chương (chữ) thánh hơn là điều một soạn giả hay một diễn giả hùng hồn trình bày khi dùng tài khéo để vận dụng (jouer) các lời Kinh Thánh”.
nguồn: https://catechesis.net/giai-thich-kinh-thanh/