Luận Lý Học Hình Thức: Phán Đoán Và Mệnh Đề (Jugement et Proposition) - Lm. Matthias Ch’ en Wen Yu, SJ. (P2)

Kitô hữu · · Luận lý học (Logic học)

Suy diễn là một hành động qua đó con người xác nhận một chân lý khởi đi trực tiếp từ một chân lý khác, chiếu theo sự liên hệ trực tiếp hiển nhiên giữa chúng, nghĩa là không cần phải so sánh với một hạn từ thứï ba như trong suy luận.

Lm. Matthias Ch’ en Wen Yu, SJ.

Tiếp theo từ phần 1

IV.- Suy Diễn (inférence) và Diễn Dịch (déduction)

Là một hành động qua đó con người xác nhận một chân lý khởi đi trực tiếp từ một chân lý khác, chiếu theo sự liên hệ trực tiếp hiển nhiên giữa chúng, nghĩa là không cần phải so sánh với một hạn từ thứï ba như trong suy luận. Suy diễn và diễn dịch có thể được xếp thành ba nhóm:

1/. Những mệnh đề tương đẳng (équivalente)

Là những mệnh đề cả 2 cùng đúng hay cùng sai một lúc. Vì thế, từ chân lý hay từ sai trái của mệnh đề này, người ta suy diễn ra được chân lý hay sự sai trái của mệnh đề kia.

Vd: - Không phải mọi người đều khôn ngoan.

Vậy: Có vài người không khôn ngoan.

2/. Những mệnh đề hoán chuyển (convertie)

Nếu những mệnh đề được hoán chuyển thành:

a)- Hoán chuyển đơn (conversion simple) thì những mệnh đề này cả hai cùng đúng hay cùng sai một lúc, nên ta có cùng qui luật như nói ở trên đối với mệnh đề tương đẳng.

b)- Hoán chuyển tùy thể (par accident / đổi lượng), vì có sự thay đổi về lượng (quantité) nên người ta có thể suy diễn một chân lý đặc thù từ một chân lý phổ quát và suy được một sai lầm phổ quát từ một sai lầm đặc thù,

Vd: - Mọi người là động vật

Vậy: Vài động vật là người.

Nhưng ngược với hai truờng hợp trên là sai.

3/. Những trường hợp sau đây

a)- Trong những mệnh đề đối lập (opposée): từ chân lý của một mệnh đề, người ta suy ra được sự sai lầm của mệnh đề mâu thuẫn hay của mệnh đề tương khắc với mệnh đề ấy.

b)- Trong những qui gán (attribution) căn theo tương quan giữa ngoại trương và nội hàm:

* Diễn dịch khẳng định (déduction affirmative) sẽ hợp pháp nếu khởi đi từ một từ ngữ có nội hàm lớn hơn, đến một từ ngữ có nội hàm nhỏ hơn, vd: Anh AN là người / Vậy là động vật.

* Diễn dịch phủ định (négative) sẽ hợp pháp nếu đi từ một từ ngữ có nội hàm nhỏ đến một từ ngữ có nội hàm lớn hơn, vd: Đá không phải là vật sống / Vậy không phải là động vật.

* Diễn dịch là hợp pháp nếu khởi đi từ một thuộc từ khuyết phạp (privatif) đến sự phủ nhận nó luôn,vd: - Nó bị mù. Vậy nó không trông thấy. Nhưng suy diễn ngược lại là bất hợp pháp, vd: đá không trông thấy, vậy đá bị mù.

c)- Trong chủ từ căn theo sự gỉa định: diễn dịch khẳng định hay phủ định sẽ hợp pháp nếu khởi đi từ một gỉa định phân phối chung đến một gỉa định phân phối đặc thù, vd: mọi người đều là bản thể. Vậy vài người là bản thể.

d)- Trong những mệnh đề thể cách (proposition modale): Về vấn đề này, trước hết chúng ta phải phân biệt 3 điểm: hiện thể (acte), tiềm thể (puissance) và tất yếu tính (nécessité). Hiển nhiên là hiện thể gỉa thiết phải có tiểm thể; và tất yếu tính gỉa thiết tiềm thể và hiện thể, do

* Diễn dịch sẽ hợp pháp nếu đi từ hành động tới khả năng hành động, vd: tôi suy hiểu; vậy tôi có khả năng suy hiểu.

* Diễn dịch là hợp pháp nếu đi từ chỗ không có khả năng hành động đến chỗ không hành động, vd: Tôi không có khả năng bay; vậy tôi không bay. Ngược lại là bất hợp pháp.

* Diễn dịch là hợp pháp nếu đi từ khả năng hành động, được cung cấp những điều kiện để hành động, đến chính hành động trong những vật tất yếu, vd: Gỗ khô đưa đến gần lửa; vậy gỗ bị cháy. Điều trên không có gía trị đối với những vật tự do.

* Diễn dịch sẽ hợp pháp nếu đi từ sự đồng thời trong hành động tới sự đồng thời trong khả năng, vd: Thực tế là tôi đang ăn và đang viết cùng một trật; vậy tôi có khả năng ăn và viết cùng một trật. Tuy nhiên diễn dịch sẽ bất hợp pháp nếu đi ngược lại, vd: Bây giờ tôi có thể ăn hay ngủ; vậy lúc này tôi đang ăn và ngủ.

-----------------------------

Chú thích

(35) Không buộc phải là động từ THÌ, LÀ, Ở. ĐộÜng từ khác cũng được miễn là nói lên tương quan giữa chủ từ và thuộc từ trong một phán đoán, vd: “Anh Giáp ngồi học”, hay: “anh Giáp đang học...thì cũng vậy”.

(36) Tính cách quyết chối của mệnh đề gỉa thiết tùy thuộc vào sự liên lạc giữa câu điều kiện và câu tùy điều kiện là liên lạc kết hợp hay phân chia, chứ không tùy mỗi phần là câu quyết hay câu chối. Vd câu: “Nếu anh không chịu khó học, anh sẽ không nên người thông thái”, đây là câu quyết. Còn câu “Không phải nếu có sự sáng thì là ban ngày”, lại là câu chối. Bởi đấy, thực hư của câu gỉa thiết cũng tùy sự quyết chối liên lạc ấy có đúng với thực tại không, chứ không bởi quyết chối trong mỗi phần là đúng hay không đúng với sự thực, như nói:”Nếu không có Thiên Chúa thì vũ trụ không có”: đây là câu gỉa thiết chân thật, nhưng cả hai phần, nếu đặt riêng ra thì đều sai. Trái lại, câu “Nếu có Thiên Chúa thì cũng có vũ trụ”: đây là câu gỉa thiết hư ngụy, tuy riêng mỗi phần lại chân thật.

(37) Riêng về Mệnh Đề Vô Định (pro. Indéfinie): khi không có tiếng phó dụng (syncatégorématique: “Tất cả, một vài, mấy, hết mọi, không một...”) phẩm định chủ từ, thì mệnh đề có thể là phổ quát, đặc thù, đơn độc, tùy sự đòi hỏi của thuộc từ.

+ Nếu thuộc từ biểu thị tính tất yếu (nécessité) hay tính bất khả (impossibilité) của chủ từ thì mệnh đề là phổ quát (universelle), vd: Người có trí khôn; người không phải là đá.

+ Nếu thuộc từ chỉ tính bất tất (contingence) hay khả hữu (possibilité) của chủ từ, thì mệnh đề là đặc thù (particulière), vd: Người ta thông thái.

(38) Cơ cấu mệnh đề thể cách

Mệnh đề thể cách có hai phần: định ngôn và thể cách.

Định ngôn là câu luôn làm chủ từ cho câu thể cách; còn thể cách là cái lý xác định cách phụ trừ của thuộc từ, như trong câu “Thiên Chúa thực hữu là điều tất nhiên”, thì “Thiên Chúa thực hữu” là chủ từ, còn vế câu “là điều tất nhiên” là thể cách.

- Con người tất yếu là biết cười - Con người biết cười là điều tất yếu (nécessaire)

- Con người thực hữu là bất tất (contingent)

- Thiên Chúa bất công là chuyện không có thể (impossible)

- Anh Giáp thông thái là chuyện có thể (possible)

(39) Đặc tính của mệnh đề thể cách

Tính cách quyết chối của mệnh đề thể cách tùy thuộc vào phần thể cách, nghĩa là tùy phần thể cách quyết hay chối về phần định ngôn, chứ không tùy định ngôn quyết hay chối. Bởi đấy tính cách đúng hay sai của mệnh đề thể cách cũng tuỳ vào sự quyết chối ấy có hợp với thực tại hay không, chứ không tùy ở thực hư của câu định ngôn.

Vd: ”Thiên Chúa lừa dối là không có thể” - Đúng!

“Thiên Chúa công bình là điều không cần” - Sai!

(40) Đối lập tính giữa các mệnh đề xác quyết đơn

Đối lập tính luận lý là sự khẳng định và phủ định về một vài điểm nào của vấn đề. Sự đối lập nhằm hai phương diện PHẨM và LƯỢNG của mệnh đề.

- Theo PHẨM: ta có mệnh đề khẳng định hay phủ định.

- Theo LƯỢNG: có mệnh đề phổ quát hay đặc thù.

Hoà hợp hai loại đối lập, ta có thể viết:

Image

Vd:

Image

Quy Luật ĐỐi LẬP và Bản ĐÚNG SAI

a/- Luật M.đề mâu thuẫn: 1 đúng --> 2 sai / 1 sai --> 2 đúng

b/- Luật M.đề tương khắc: 1 đúng --> 2 sai / 1 sai --> 2 có thể đúng,

--> 2 có thể sai

c/- Luật M.đề hạ tương khắc: 1 sai --> 2 đúng / 1 đúng --> 2 có thể đúng

d/- Luật M.đề hạ vị:

Image
Image

(41) Đối lập giữa các mệnh đề xác quyết kép

Mệnh đề liên hợp và ly tiếp đối lập mâu thuẫn với nhau theo lược đồ sau đây:

Image

(42) Đối lập giữa các mệnh đề thể cách

Trong mệnh đề thể cách, cần lưu ý hai phần: phần thể cách và phần định ngôn.

a/- Đối lập theo phần thể cách, vd:

Image

b/- Đối lập theo phần định ngôn, vd:

Image

Luật Đối Lập:

1 Đ --> 5 Đ 5 Đ --> 1 có thể S

1 S --> 5 có thể Đ 5 S --> 1 S

2 Đ --> 6 Đ 6 Đ --> 2 có thể S

2 S --> 6 có thể Đ 6 S --> 2 S

7 Đ --> 3 Đ 3 Đ --> 7 có thể S

7 S --> 3 có thể Đ 3 S --> 7 S

8 Đ --> 4 Đ 4 Đ --> 8 có thể S

8 S --> 4 có thể Đ 4 S --> 8 S

1 Đ --> 4 Đ 4 Đ --> 1 có thể S

1 S --> 4 có thể Đ 4 S --> 1 S

2 Đ --> 3 Đ 3 Đ --> 3 có thể S

2 S --> 3 có thể Đ 3 S --> 2 S

(43) Thiết lập mệnh đề tương đẳng

Muốn tìm mệnh đề đối lập với một mệnh đề nào đó, người ta thường xen vào cơ cấu mệnh đề đó một từ ngữ phủ nhận (không). Do cách đặt và vị trí của phụ ngữ này trong mệnh đề, chúng ta có thể lập những mệnh đề đồng nghĩa với mệnh đề đối lập với mệnh đề đó. Đó là đặc tính tương đẳng của mệnh đề.

Tất cả quy luật của tương đẳng tính gồm tóm trong câu La tinh này PRAE CONTRADIC; POST CONTRA; PRAE POSTQUE SUBALTER, nghĩa là:

Muốn cho mâu thuẫn tương đồng

Đặt “không” ở trước (chủ từ) sẽ cùng như nhau.

Còn trong đối phản, “không” sau (chủ từ)

Trước sau (chủ từ) sai đẳng hai câu nên đồng.

(44) Ví dụ về Hoán chuyển đơn: chủ từ và thuộc từ đổi chỗ cho nhau, không đổi LƯỢNG của mệnh đề: - Không người nào là đần độn (E)

--> Không vật đần độn nào là người.

hoặc: - Vài người thì thông thái (I)

--> Vài kẻ thông thái là người.

hoặc: - Không người nào là thiên thần (E)

--> Không thiên thần nào là người.

hoặc: - Vài công chức là bác sĩ (I)

--> Vài bác sĩ là công chức.

(45) Hoán chuyển tùy thể hay hoán chuyển đổi lượng: đổi lượng là vì thuộc từ của mệnh đề khẳng định luôn đặc thù, còn thuộc từ của mệnh đề phủ định luôn là phổ quát; và vì trong sự hoán chuyển, ngoại trương của một từ ngữ không được tăng lên, vd:

- Mọi triết gia là người (A)

--> Vài người là triết gia (I)

- Mọi người đều có thể chết (A)

--> Vài vật có thể chết là người. (I)

(46) Hoán chuyển phản hướng luận hay hoán chuyển nghịch giá là sự hoán chuyển trong đó, ta đặt chữ “không” trước thuộc từ và thay đổi PHẨM của mệnh đề, vd:

- Vài người không thông thái (O)

--> Vài kẻ không thông thái là người.

(47) Hoán chuyển mệnh đề đơn độc

* Mệnh đề đơn độc khẳng định được hoán chuyển như mệnh đề A (A --> I)

Vd: - Anh Giáp là triết gia --> Một triết gia là anh Giáp

- Mẹ tôi là đàn bà --> Một người đàn bà là mẹ tôi.

* Mệnh đề đơn độc phủ định được hoán chuyển như mệnh đề E (E --> E)

Vd: - Anh Ất không phải là thủ phạm

--> Không thủ phạm nào là anh Ất.

(48) Công dụng của Hoán chuyển tính: Tránh ngụy biện, vd:

- Mọi nghệ sĩ trứ danh đều thu hút khán gỉa (A)

so với: - Mọi người thu hút khán gỉa là nghệ sĩ trứ danh (A) ?! (đâu phải vậy! )

(49) Giúp trí nhớ Luật Hoán Chuyển

Hoán chuyển cần giữ y nguyên chân thực mệnh đề trước và theo những quy luật tỉnh lược sau đây:

f E c I hoán vị đơn thường

E v A đổi cả phân lường mới nên

a s t O không đổi tự nhiên

Hạn từ phủ định để nguyên phân lường

Ấy là luật chuyển phải tường.

( fEcI simpliciter convertitur; EvA per accidens; AstO per contrapositionem; sic fit conversio tota )