Tìm Hiểu Triết Học Aristote - Luận Lý Học (P2)
Aristote không những xét đến minh chứng khoa học (chứng minh hoặc suy diễn) mà thôi, mà còn xét đến cả qui nạp nữa. Qui nạp khoa học đối với ông có nghĩa là qui nạp hoàn bị (complete) và ông mau mắn tuyên bố rằng “sự qui nạp tiến hành việc liệt kê ra tất cả mọi trường hợp”. Sự qui nạp không hoàn bị (incomplete) rất đắc dụng đối với nhà hùng biện. Aristote sử dụng thí nghiệm nhưng không soạn thảo ra một phương pháp luận khoa học về sự qui nạp và sự xử dụng giả thuyết. Mặc dù ông chấp nhận rằng “tam đoạn luận xuyên qua qui nạp thì rõ hơn cho chúng ta”, lý tưởng của ông vẫn là sự suy diễn, sự chứng minh tam đoạn luận. Ông đưa việc phân tích các quá trình suy diễn đến một trình độ rất cao và rất hoàn bị; còn về qui nạp thì người ta không thể cho rằng ông đã làm được như vậy. Đây chắc chắn là lẽ tự nhiên ở thế giới cổ đại, nghành toán học phát triển hơn rất nhiều so với nghành khoa học tự nhiên. Tuy vậy, sau khi quả quyết rằng sự nhận biết cảm giác như thế đó không thể đạt đến cái phổ quát, Aristote vạch ra rằng chúng ta có thể nhận xét các nhóm những cái đặc thù hoặc xem sự tái diễn thường xuyên của một biến cố, và như vậy, bằng cách dùng lý luận trừu tượng, chúng ta có được tri thức về một yếu tính hoặc nguyên lý phổ quát.
TÌM HIỂU CON NGƯỜI VÀ TRIẾT THUYẾT CỦA ARISTOTE
LUẬN LÝ HỌC
***
V. Do đó, trong cuốn Analytics, Aristote không những xét đến minh chứng khoa học (chứng minh hoặc suy diễn) mà thôi, mà còn xét đến cả qui nạp nữa. Qui nạp khoa học đối với ông có nghĩa là qui nạp hoàn bị (complete) và ông mau mắn tuyên bố rằng “sự qui nạp tiến hành việc liệt kê ra tất cả mọi trường hợp”. Sự qui nạp không hoàn bị (incomplete) rất đắc dụng đối với nhà hùng biện. Aristote sử dụng thí nghiệm nhưng không soạn thảo ra một phương pháp luận khoa học về sự qui nạp và sự xử dụng giả thuyết. Mặc dù ông chấp nhận rằng “tam đoạn luận xuyên qua qui nạp thì rõ hơn cho chúng ta”, lý tưởng của ông vẫn là sự suy diễn, sự chứng minh tam đoạn luận. Ông đưa việc phân tích các quá trình suy diễn đến một trình độ rất cao và rất hoàn bị; còn về qui nạp thì người ta không thể cho rằng ông đã làm được như vậy. Đây chắc chắn là lẽ tự nhiên ở thế giới cổ đại, nghành toán học phát triển hơn rất nhiều so với nghành khoa học tự nhiên. Tuy vậy, sau khi quả quyết rằng sự nhận biết cảm giác như thế đó không thể đạt đến cái phổ quát, Aristote vạch ra rằng chúng ta có thể nhận xét các nhóm những cái đặc thù hoặc xem sự tái diễn thường xuyên của một biến cố, và như vậy, bằng cách dùng lý luận trừu tượng, chúng ta có được tri thức về một yếu tính hoặc nguyên lý phổ quát.
VI. Trong cuốn Prior Analytics Aristote thẩm tra các hình thức của hậu kết và định nghĩa tam đoạn luận là “tiến trình trong đó một số điều gì đó được khẳng định, một cái gì đó (khác cái được khẳng định) được suy ra vì sự tất yếu của chúng là như thế”. Ông bàn đến ba dạng tam đoạn luận, vân vân:
1. Trung từ (M) là chủ từ (S) trong một tiền đề và tân từ (P) trong một tiền đề khác. Vậy: M là P, S là M, do đó S là P. Mọi con thú đều là một bản thể. Mọi người đều là một con thú. Do đó mọi người đều là một bản thể.
2. Trung Từ là Tân Từ trong cả hai tiền đề. P là M, S không phải là M, do đó S không phải là P. Mọi người đều biết cười. Nhưng ngựa không biết cười. Do đó ngựa không phải là người.
3. Trung Từ là Chủ Từ trong cả hai tiền đề. Vậy: M là P, M là S. do đó S là P. Mọi người đều biết cười. Mà mọi người là một con thú. Do đó một số con thú biết cười.
Trong cuốn Topics, Aristote phân biệt lý luận minh chứng (nghĩa là “khi các tiền đề khởi đầu cho việc lý luận đều là những tiền đề đúng và là những tiền đề đệ nhất, hoặc chúng ta biết chúng phát xuất từ những tiền đề đệ nhất đúng”) với lý luận biện chứng (nghĩa là lý luận “từ những khái niệm được chấp nhận chung chung” nghĩa là “bởi mọi người, bởi đa số, hoặc bởi những kẻ sáng giá nhất”). Ông thêm vào một lý luận thứ ba, lý luận có tính cách tranh biện (cristic) hoặc “tranh cãi” (bắt đầu từ những quan điểm có vẻ là được chấp nhận cách chung chung, nhưng thực sự không phải như thế). Loại thứ ba này được bàn kỹ trong cuốn De Sophisticis Elenchis, trong đó Aristote xem xét, sắp loại và giải quyết các loại ngụy biện khác nhau.
VII. Aristote thấy rõ rằng nơi chính các tiền đề suy diễn cần phải có sự minh chứng, trong khi đó nếu mỗi một nguyên lý đều cần minh chứng, chúng ta sẽ mắc vào một processus in infinitum (quá trình đi vào chổ vô tận và sẽ chẳng có gì minh chứng được). Do đó, ông cho rằng có một số nguyên lý nào đó được tri thức một cách trực giác và trực tiếp mà không minh chứng. Nguyên lý cao nhất trong số này là nguyên lý mâu thuẫn. Đó là một trong những nguyên lý không thể minh chứng. Thí dụ, hình thức lý luận của nguyên lý mâu thuẫn – “Trong hai mệnh đề, một xác nhận một điều gì đó và một phủ nhận cũng chính điều đó, thì một phải đúng và một phải sai”. – không phải là một bằng chứng của cái nguyên lý nơi hình thức siêu hình của nó — chẳng hạn, “cùng một cái không thể vừa là thuộc tính vừa không phải là thuộc tính của cùng một chủ thể cùng một lúc và cùng một thể cách”. Nó chỉ phô bày điều này: chẳng tư tưởng gia nào có thể hạch hỏi đến cái nguyên lý nằm ở nền tảng của mọi tư duy và nguyên lý ấy được giả định.
Do đó, chúng ta có:
1. những nguyên lý sơ thuỷ, được nouc (lý trí) nhận thức;
2. cái tất yếu đến từ các nguyên lý sơ thuỷ được epidthmh (tri thức khoa học) nhận thức; và
3. Cái bất tất và có thể khác đi, chủ thể của doea (thường kiến).
Nhưng Aristote thấy rằng tiền đề chính của một tam đoạn luận, chẳng hạn: mọi người đều phải chết, không thể phát xuất tức thời từ các nguyên lý sơ thuỷ: nó cũng lệ thuộc vào sự qui nạp. Điều này đòi hỏi phải có một học thuyết duy thực về những cái phổ quát, và Aristote tuyên bố rằng sự qui nạp cho thấy cái phổ quát là mặc nhiên nơi cái đặc thù được tri thức rõ ràng.
VIII. Bản chất sách viết về lịch sử triết học khó lòng đáp ứng được yêu cầu trình bày và thảo luận chi tiết luận lý học của Aristote, nhưng nhất định cần phải nhấn mạnh đến sự đóng góp rất lớn Aristote đã làm được cho tư tưởng loài người trong ngành khoa học này, nhất là về tam đoạn luận. Sự phân tích và phân chia lôgic đã được theo đuổi trong trường Hàn Lâm, cùng liên kết với học thuyết Mô Thức, điều này rất đúng (ta chỉ cần nghĩ đến các bài tham luận trong cuốn Sophist); nhưng chính Aristote là người đầu tiên làm cho luận lý học (‘Phân Tích’) thành một khoa học riêng biệt, và chính Aristote khám phá, tách biệt và phân tích hình thức suy luận cơ bản, đó là tam đoạn luận. Đây là một trong những thành tựu vững bền của ông, và cho dù đó là thành tựu tích cực duy nhất của ông, nó vẫn là cái làm cho tên tuổi ông đáng được ghi nhớ mãi. Ta không thể quả quyết một cách chính đáng rằng Aristote đã đưa ra được một phân tích đầy đủ cho mọi quá trình suy diễn, bởi vì tam đoạn luận giả thiết:
1. Ba mệnh đề, mỗi mệnh đề đều ở dạng có chủ ngữ và tân ngữ;
2. Ba thuật ngữ (term), từ đó mỗi mệnh đề đều dùng cả chủ ngữ lẫn tân ngữ và, từ vị trí này, xác định được những trường hợp hai mệnh đề ấy kéo theo mệnh đề thứ ba, xét vì:
a. Hình thức lý luận mà thôi; hoặc
b. Vì một quyết đoán hiện hữu gần kề (an adjoined existence assertation), như với Darapti.
Chẳng hạn Aristote đã không xét đến hình thức suy luận khác được Hồng Y Newman thảo luận trong cuốn Grammar of Assent (Qui Tắc Tán Thành) của ông, khi trí tuệ suy ra kết luận, không phải từ một số mệnh đề nào đó, nhưng từ một số sự kiện cụ thể nào đó. Trí tuệ nhận xét các sự kiện này và, sau khi hình thành được một lượng giá phê bình, rút ra một kết luận, kết luận này không phải là một mệnh đề phổ quát (như trong qui nạp đúng nghĩa), nhưng chỉ là một kết luận đặc thù, chẳng hạn như “Kẻ tù nhân kia vô tội.” Chắc chắn đúng là các mệnh đề phổ quát được ám chỉ (chẳng hạn, một thứ bằng chứng nào đó thì tương hợp, hoặc bất tương hợp, với sự vô tội của kẻ bị cáo), nhưng trí tuệ không thực sự bận tâm đến việc làm sáng tỏ sự hàm ý của các mệnh đề giả thuyết cho bằng làm sáng tỏ sự hàm ý của một số sự kiện cụ thể. Thánh Thomas biết rõ loại lý luận này, và gán nó cho vis cogitative, cũng gọi nó là ratio particularis. Hơn nữa, thậm chí đối với hình thức suy luận mà Aristote phân tích, ngài không xét đến vấn đề: các nguyên tắc tổng quát này, từ đó mà hình thức suy luận ấy bắt đầu, chỉ là những nguyên tắc hình thức mà thôi hay chúng còn có nội dung hữu thể nữa. Quan điểm sau có vẻ được thừa nhận hầu hết.
Nhưng sẽ là phi lý khi phê phán Aristote đã không nghiên cứu đầu đủ mọi hình tức suy luận, và đã không đặt rõ ràng và giải quyết mọi vấn đề có thể đặt ra liên quan đến các hình thức của tư tưởng con người: việc phải hoàn thành, ông đã hoàn thành rất tốt đẹp, và bộ khảo luận lôgic của ông (về sau được đặt tên là Organon) tạo nên một kiệt tác của trí tuệ loài người. Không phải là không có lý do, chúng ta có thể đoan chắc, khi ông tự cho mình là người tiên phong trong việc phân tích và hệ thống hoá luận lý học.
Ở đoạn kết cuốn De Sophisticis Elenchis, ông ghi nhận rằng, trong khi những người khác trước ông đã bàn nhiều đến đề tài Tu Từ chẳng hạn, thì ông chẳng có một tác phẩm nào trước đó bàn về đề tài lý luận khả dĩ để ông dùng làm cơ sở, nhưng ông buộc phải phá vỡ cái thực tế là nền tảng mới. Không đúng là sự phân tích có hệ thống của các quá trình suy luận đã được hoàn thành phần nào: tuyệt nhiên chẳng có được thứ gì ở mặt này. Các giáo sư hùng biện huấn luyện thực nghiệm cho học trò trong những “Luận chứng tranh biện”, nhưng chẳng hề đưa ra được một phương pháp luận khoa học hoặc trình bày đề tài ấy một cách có hệ thống: ông đã phải tự mình bắt đầu từ đầu. Đòi hỏi của Aristote liên quan đến chủ đề đặc thù của cuốn De Sophisticis Elenchis chắc chắn là chính đáng đối với việc khám phá và phân tích tam đoạn luận nói chung.
Đôi khi ta nghe thiên hạ nói như thế là những nghiên cứu lôgic hiện thời đã cướp đi mọi giá trị của lôgic Aristote truyền thống, như thế là bây giờ ta có thể vất luận lý học truyền thống ấy vào viện bảo tàng, chỉ xem đó là thứ đồ cổ triết học. Mặt khác, những kẻ đã được ấp ủ theo truyền thống có thể chứng tỏ lòng trung thành sai lạc với truyền thống ấy bằng cách công kích, chẳng hạn, luận lý học ký hiệu hiện đại. Cực đoan nào cũng không thực sự là đúng, và cần chấp nhận một quan điểm ôn hoà vô hạn, nhận thức rõ sự bất túc của luận lý học Aristote và công nhận luận lý học ký hiệu hiện thời có giá trị của nó, nhưng đồng thời từ chối việc bất tín nhiệm luận lý học Aristote ở chỗ nó không bao hàm được toàn bộ ngành luận lý học.
Quan điểm ôn hoà vô hại này là quan điểm của những người đã nghiên cứu sâu xa luận lý học, một điểm cần nhấn mạnh để khỏi có ý nghĩ rằng chỉ các triết gia Kinh Viện, nói nhỏ một chút, ở thời đaị ngày nay mới còn gán cho luận lý học Aristote một chút gì đó giá trị. Vì vậy, trong khi xác nhận, và xác nhận đúng, rằng “không thể xem nó đã tạo nên toàn bộ môn suy diễn được nữa”, Susan Stebbing chấp nhận rằng “tam đoạn luận truyền thống vẫn có giá trị của nó”; trong khi đó Heinrich Scholz tuyên bố rằng “Organon của Aristote ngày nay vẫn là bài khai tâm (nhập môn luận lý học) đẹp đẽ nhất và truyền đạt nhất do con người viết ra.” Luận lý học ký hiệu hiện đại có thể là một bổ túc, một bổ túc rất giá trị, cho luận lý học Aristote, nhưng không nên xem là nó đối kháng hoàn toàn: nó khác với luận lý học không-ký-hiệu ở mức độ hình thành cao hơn, chẳng hạn do ý tưởng về chức năng của mệnh đề.
IX. Bài nhận định, tất nhiên là ngắn gọn, này về luận lý học Aristote có lẽ nên kết thúc bằng một bản tóm lược một số đề tài đặc trưng được bàn luận trong Organon, từ đó sẽ thấy được phạm vi rộng lớn của sự phân tích luận lý học của Aristote. Trong cuốn Các Phạm Trù (Categories) Aristote bàn đến phạm vi biến đổi của Chủ Ngữ và Tân Ngữ, trong cuốn De Interpretationne (Luận Về Việc Giải Thích) bàn đến sự đối kháng của mệnh đề, đối kháng hình thức và đối kháng nội dung xác nhận, đưa ông vào một cuộc bàn luận thú vị ở giữa các chương 7 và chương 10. Trong cuốn thứ nhất của bộ Prior Analytics ông bàn đến sự biến đổi của các mệnh đề thuần tuý và sự biến đổi của các mệnh đề tất yếu và mệnh đề bất tất, phân tích tam đoạn luận ở ba dạng, và đưa ra các qui luật tạo ra hoặc khám phá ra những tam đoạn luận về, chẳng hạn, suy luận xiên gián (oblique inference), phủ định, những minh chứng per impossibile (bất khả) và ex hypothesi (theo giả thiết). Trong cuốn thứ hai Aristote bàn đến việc sắp loại chân lý và sai lầm giữa các tiền đề và kết luận, nêu ra những khiếm khuyết trong tam đoạn luận, qui nạp theo nghĩa hẹp, qua việc “liệt kê ra mọi trường hợp”, nhị đoạn luận, vân vân…
Trong cuốn đầu tiên của bộ Posterior Analytics ông bàn đến cấu trúc của một khoa suy diễn và khởi điểm lý luận của nó, sự đồng nhất, sự đa dạng, sự khác biệt và sự sắp loại lôgic cho các khoa học, sự vô minh, sai lầm và sự vô hiệu (invalidity); trong khi đó cuốn thứ hai lại chú trọng các định nghĩa (yếu tính và chiếu danh), sự khác biệt giữa định nghĩa và chứng minh, sự bất khả chứng minh và bản chất yếu tính, cách làm cho các chân lý cơ bản trở nên khả tri, vân vân. Cuốn Topics nói đến các yếu-tố-lệ-thuộc (predicables), định nghĩa, kỹ thuật chứng minh và cách dùng biện-chứng-pháp, còn cuốn De Sophisticis Elenchis lại chú trọng việc phân loại ngụy biện và các biện pháp cho chúng.
Nguồn: catechesis.net