Vai trò của kinh nghiệm tôn giáo trong niềm tin tôn giáo theo quan điểm của William P. Alston (P2)
Theo dòng chảy triết học, đã từng có biết bao nỗ lực để chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Nhưng rồi tất cả đều phải thừa nhận sự bất khả thi trong việc đi đến một bằng chứng triệt để cho sự hiện hữu của Thượng Đế. Nhưng như vậy chẳng lẽ niềm tin vào Thượng Đế hay niềm tin tôn giáo (NTTG) không thể trở nên hữu lý? Trong bối cảnh đó, những lập luận về kinh nghiệm tôn giáo (KNTG) trở thành một hướng đi mới cho vấn đề. Theo tác giả William P. Alston thì kinh nghiệm tôn giáo có thể trở thành cơ sở biện minh cho niềm tin tôn giáo. Vậy cụ thể, quan điểm và lập luận của Alston như thế nào? Bài viết này là một nỗ lực để tìm hiểu và trình bày điều đó.
Đọc tiếp từ Phần 1
2.3. KNTG trong sự liên hệ với những cơ sở khác của NTTG
Trong tác phẩm Perceiving God, The Epistemology of Religious Experience của mình, tác giả Altson đã dành trọn chương cuối để nói về vai trò của KNTG như là một trong số những cơ sở của NTTG. Ở đó Alston nói rằng sự tri nhận về Thượng Đế hay kinh nghiệm thần bí mà ông bàn tới từ đầu tới giờ chỉ là một cơ sở trong số những cơ sở khác của NTTG.[34]
Theo ông, những cơ sở khác đó là: mạc khải, truyền thống và thần học tự nhiên. Trong đó, ông hiểu thần học tự nhiên là những công trình cung cấp những lý lẽ ủng hộ NTTG khởi đi từ những giả định không xuất phát xuất từ bất cứ NTTG nào, ví dụ như sự tồn tại của thế giới, trật tự vũ trụ. Còn truyền thống ở đây được hiểu như là một nguồn của đức tin, được tạo thành bởi những lời dạy của giáo hội, có vai trò truyền lại cho các thế hệ niềm tin vào Thượng Đế và sự liên hệ của Ngài với chúng ta, là điều trở thành trung tâm của giáo hội và quy chuẩn cho tín hữu. Và cuối cùng, mạc khải được hiểu là những thông điệp Thượng Đế ban cho dân Ngài ngang qua những ngôn sứ được chọn; là những gợi hứng thần linh trong những bản văn viết hoặc nói mà ở đó, người sáng tác không tiếp nhận một sự giao tiếp cụ thể nào trong ý thức; là những hoạt động thần linh trong lịch sử. Với Alston, những cơ sở này đều là những cơ sở cùng với NTTG góp phần vào cơ sở tổng thể cho NTTG. Ở đó, các cơ sở có tương tác liên hệ lẫn nhau.[35]
Nói về tương quan của những cơ sở này, Alston cho rằng tương quan ấy có hai dạng. Thứ nhất, những cơ sở này có tương quan theo kiểu cộng gộp, phối kết tạo thành một cơ sở tổng thể lớn hơn cơ sở của từng phần. Điều này cũng giống như việc nhiều bằng chứng ủng hộ một giả thuyết khoa học gộp lại sẽ tạo thành một sự ủng hộ lớn hơn cho giả thiết khoa học ấy. Niềm tin vào một Thượng Đế yêu thương khi được củng cố bằng việc dựa trên tất cả các cơ sở là những kinh nghiệm tri nhận Thượng Đế yêu thương, sự mạc khải của chính Thượng Đế, lời dạy giáo hội và thần học tự nhiên thì sẽ vững chắc hơn là chỉ dựa vào một cơ sở. Tuy nhiên, Alston cũng nói rằng tương quan giữa các cơ sở không chỉ đơn thuần là cộng gộp như vậy, nhưng là một tương tác mật thiết hơn theo nghĩa là cái này sẽ giúp đặt nền cho cái kia, cái này sẽ giúp loại trừ vướng mắc, nghi hoặc cho cái kia. Ở đây Alston nói: “tri nhận mà không có ý niệm, tri nhận tăm tối, ý niệm mà không có tri nhận sẽ trở thành ý niệm trống rỗng.” Ông cho rằng mạc khải, truyền thống có thể cung cấp ý niệm cho kinh nghiệm tri nhận nhưng kinh nghiệm tri nhận lại làm cho ý niệm được sống.[36]
Tóm lại, theo Alston, cùng với NTTG còn có những nền tảng khác cũng có giá trị biện minh cho NTTG, cung cấp một phần chân lý về niềm tin đó. Không có nền tảng tự đủ để làm cho tôn giáo được chấp nhận cách hữu lý mà mỗi loại chỉ đảm nhận một phần nào đó. Do đó vai trò biện minh của với KNTG với NTTG cần được đặt trong sự liên hệ với những nền tảng khác ấy. Đến đây, người viết xin đưa ra một vài nhận xét thiển cận của mình về vai trò của KNTG theo tác giả Alston.
3. Một vài nhận xét
3.1. KNTG của Alston như một hướng mới cho vấn đề niềm tin vào Thượng Đế
Đầu tiên có thể nói, quan điểm của Alston về KNTG đã góp phần đưa vấn đề về niềm tin vào Thượng Đế chuyển sang một hướng mới. Thực vậy, nếu so với những luận cứ trước đó như bản thể luận, vũ trụ luận, luận cứ luân lý, thì có thể thấy với lập luận về KNTG, Alston đã khiến vấn đề về niềm tin vào Thượng Đế chuyển từ hướng tập trung cố gắng để chứng minh Thượng Đế có hiện hữu hay không sang hướng nói về sự hữu lý của niềm tin vào Thượng Đế. Ngay trong sự so sánh với những tác giả khác cùng nói về KNTG như Rudolf Otto và William Jame, người đọc cũng thấy điểm mới nơi những lập luận của Alston. Nếu như lối tiếp cận KNTG của những tác giả khác vẫn là lối tiếp cận theo kiểu đi tìm luận cứ chứng minh sự hiện diện của Thượng Đế và tập trung phân tích giá trị của KNTG theo phương diện văn hóa, lịch sử, hệ quả,[37] thì Alston lại chuyển hẳn sang khía cạnh biện minh và theo giá trị tri thức luận. Với những lập luận về KNTG của Alston ở đây, KNTG không phải là bằng chứng thuyết phục mọi người về sự hiện hữu của Thượng Đế, nhưng là một cơ sở biện minh mang lại tính hữu lý cho NTTG trong tính tri thức luận. Xem ra đây là một hướng đi phù hợp và thức thời. Bởi lẽ, thực tế việc chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế là bất khả. Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy việc có một đức tin được phát xuất, hình thành dựa trên những bằng chứng, lý lẽ thuyết phục theo kiểu thuần lý trí là điều rất khó hình dung. Nhưng có lẽ điều cốt yếu của đức tin là từ kinh nghiệm, và đức tin phải là một lựa chọn tự do. Điều này cũng giống như nhận định của tác giả Dermot Lane trong tác phẩm Kinh nghiệm Thiên Chúa đã đưa ra: “Ngày nay, vấn nạn về Thiên Chúa không còn là sự chứng minh một hữu thể mà chúng ta gọi là “Thiên Chúa” có hiện hữu hay không…Với thế kỷ 21, thế kỷ này khác với mọi thế kỷ khác. Vấn nạn về Thiên Chúa là khả năng kinh nghiệm Thiên Chúa trong thế giới… Mầu nhiệm Thiên Chúa không phải là một lý thuyết cần chứng minh nhưng là một kinh nghiệm để sống.”[38]
Đặc biệt, trong quan điểm của Alston, cơ sở biện minh của KNTG với NTTG không còn đứng độc lập như trước nữa nhưng được đặt trong tương quan tương tác bổ trợ với những cơ sở khác. Điều này thiết tưởng là mang lại một cái nhìn đầy đủ và hợp lý hơn. Người viết cũng đồng ý với tác giả Lane rằng, kinh nghiệm “không bỏ đi những chứng minh về sự hiện hữu của Thiên Chúa… Những bằng chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa thật sự soi sáng và củng cố cho kinh nghiệm về Thiên Chúa… Không có kinh nghiệm của ai có thể mở ra với tính toàn thể của thực tại… Cộng đoàn có vai trò quan trọng: cung cấp chân trời tổng quan để hiểu kinh nghiệm và kiểm chứng.”[39]
3.2. KNTG của Alston vừa gần gũi vừa vượt trên KNGQ
Chưa hết, người đọc còn nhận thấy có một điều thú vị trong cách lập luận của tác giả Alston về vai trò biện minh của KNTG với NTTG là ông vừa cho thấy sự gần gũi của KNTG với KNGQ, lại vừa cho thấy sự khác biệt, vượt trên của KNTG so với KNGQ. Thực vậy, một mặt Alston chứng minh vai trò biện minh của KNTG bằng cách loại suy từ KNGQ đồng thời ông cũng lại dùng sự khác biệt giữa KNTG và KNGQ để chứng minh vai trò ấy. Khi loại suy từ KNTG từ KNGQ, ông giúp một người thực hành tri nhận giác quan, có KNGQ (thực tế ai cũng có) và thừa nhận giá trị của KNGQ có thể dễ dàng liên hệ, hình dung về sự tri nhận thần bí và cách thức biện minh của tri nhận thần bí với NTTG là như thế nào. Nhưng khi phân tích sự khác biệt giữa KNGQ và KNTG ông lại thuyết phục rằng việc lấy KNGQ như một tiêu chuẩn để đánh giá KNTG là điều không hợp lệ. Như vậy theo lập luận của Alston, KNGQ vừa trở nên gần gũi vừa vượt trên KNGQ. Những lập luận này thực sự chi tiết hệ thống và mang lại sức thuyết phục cao. Đồng thời cũng cho thấy việc lựa chọn NTTG là một vấn đề của tự do của huyền nhiệm.
3.3. KNTG của Alston và những vấn đề mở ra
Tuy vậy, có lẽ vấn đề ở đây không phải là một sự đóng lại với những thỏa đáng triệt để nhưng cũng có những cửa ngõ đang mở ra. Thứ nhất, qua việc giới hạn nội hàm của khái niệm KNTG, Alston có thể tập trung làm rõ những lập luận mang tính tri thức luận của mình, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc sẽ còn đó những cửa ngõ đang bỏ ngỏ. Đó là vai trò của những loại KNTG theo nghĩa chung, là KNTG về những thực tại phi nhân vị, là những loại KNTG có nội dung giác quan, gián tiếp, không trọng tâm. Vai trò của những KNTG này vẫn được xem là KNTG và vai trò của chúng với NTTG cũng cần được làm rõ. Thứ hai, việc thuyết phục KNTG là cơ sở biện minh cho NTTG có thể xem là những đóng góp tích cực cổ vũ cho việc tôn trọng KNTG riêng tư, tôn trọng đa tôn giáo và giúp đối thoại liên tôn. Nhưng cùng với đó, vấn đề chủ quan, tương đối, và mê tín dị đoan có thể được đặt ra. Phải chăng mọi niềm tin dựa trên kinh nghiệm đều có lý? Làm sao để phân biệt giữa mê tín và chánh tín? Thứ ba, lập luận về tương quan giữa KNTG với những cơ sở khác như mạc khải và truyền thống dường như có sự luẩn quẩn. Thực vậy khi nói truyền thống như đóng vai trò cung cấp ý niệm cho KNTG và KNTG giúp kinh nghiệm mạc khải và truyền thống. Nhưng vấn đề có thể được đặt ra là làm sao biết đó là mạc khải, từ đâu hình thành truyền thống, chẳng phải cũng là từ kinh nghiệm sao?…
Kết luận
Xuất phát từ khái niệm KNTG như một sự tri nhận trực tiếp về sự hiện diện và hoạt động của Thượng Đế, tác giả Alston đã triển khai những lập luận cho thấy vai trò biện minh của KNTG với NTTG. Vai trò này được chứng minh về mặt tri thức luận dựa trên sự loại suy từ KNGQ và Nguyên Tắc Cả Tin. Theo đó, nếu một người tin vào giá trị của KNGQ như một sự biện minh cho NTGQ thì cũng phải tin vào giá trị của KNTG như sự biện minh NTTG.
Tác giả Alston cũng cho thấy, vai trò biện minh này có thể vẫn đứng vững trước những tấn công của những phản đối dựa trên sự khác biệt của KNGQ và KNTG, những phản đối dựa trên sự giải thích tự nhiên về KNTG cũng như những phản đối dựa trên vấn đề kiểm chứng và hiện tượng đa tôn giáo. Thêm vào đó, vai trò của KNTG với NTTG có thể được hiểu rõ hơn trong mối liên hệ và sự tương tác với những cơ sở khác của NTTG như mạc khải, truyền thống và thần học tự nhiên.
Vai trò của KNTG đã được làm sáng tỏ qua những lập luận chi tiết, hệ thống và thuyết phục của tác giả Alston. Những lập luận về KNTG của ông là một hướng đi mới cho vấn đề NTTG, làm rõ tính hữu lý, tự do và huyền nhiệm trong KNTG và NTTG. Đồng thời, những lập luận này cũng mở ra nhiều vấn đề mới. KNTG thực sự vẫn còn là đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu và bàn luận.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[34] Alston, Perceiving God, The Epistemology of Religious Experience, 286-305
[35] Alston, Perceiving God, The Epistemology of Religious Experience, 289-290.
[36] Alston, Perceiving God, The Epistemology of Religious Experience, 292-300.
[37] Xem thêm, Rudolf Otto, The Idea of the Holy (London: Oxford University Press, 1977). James, William. Varieties of Religious Experience. (London: Longmans, 1992).
[38] Dermot Lane, Kinh nghiệm Thiên Chúa, biên dịch: Nguyễn Luật Khoa, OFM (NXB Phương Đông 2008), 15.
[39] Dermot Lane, Kinh nghiệm Thiên Chúa, 27-28.