Nguyên Lý Hiện Tượng Học (P1) - Trần Văn Đoàn
Hiện tượng học, theo chính Husserl, có một tham vọng trở thành một nền khoa học nghiêm nhặt (strenge Wissenschaft), nhưng không muốn sa lầy trong cái hố của nền khoa học tự nhiên, hay chủ thuyết duy tự nhiên (naturalism), điều mà chủ thuyết duy tâm lý (psychologism) đã vấp phải. Thế nên, để vừa là một khoa học nghiêm túc, vừa không phải chỉ là những lối suy tư bắt chước những mẫu mực của nền khoa học thực nghiệm, hiện tượng học bắt buộc phải cùng một lúc giải quyết được những khó khăn mà chủ thuyết duy thức chính (positivism), duy khoa học (scientism) cũ�ng như duy tâm lý đã vấp phạm; nhưng cùng một lúc cũng phải chứng minh được tính chất khoa học nghiêm túc của triết học. Ðể có thể đạt được những mục tiêu trên, hiện tượng học phải tìm ra những khuyết điểm của những chủ trương trên, và đồng thời có thể đưa ra những nguyên lý đủ vững để làm nền tảng cho hiện tượng học. Theo Husserl và những học giả theo ông, thì những vấn nạn của nền khoa học cũ không chỉ phát xuất từ sự phân cách giữa chủ thuyết duy đối thể (khách quan, tức objectivism) được Galileo chủ trương và chủ thuyết duy chủ thể (subjectivism) được Descartes bảo vệ, mà còn từ chính ý nghĩa của khoa học, mà các nhà khoa học không để ý. [7] Cái ý nghĩa này đã bị chủ thuyết duy thực chứng phá vỡ, và sự tương quan giữa khoa học và sự sống cũng đã bị chủ thuyết duy tự nhiên đánh gẫy. [8] Nói một cách khác, và theo lối diễn tả của chính Husserl, nền khoa học thực chứng (cơ khí) đã đánh mất cái ý nghĩa của cuộc sống (Verlust der Lebensbedeutsamkeit). [9] Ý thức như thế, Husserl và hiện tượng học chống tất cả những lý thuyết làm hậu cần cho chủ thuyết duy thực chứng (positivism), chủ thuyết duy tâm lý học và chủ thuyết duy tự nhiên (naturalism). Những lý thuyết này chủ trương một cuộc giản hóa toàn diện (total reductionism); chúng công nhận sự thống nhất khoa học (unity of science), và ép buộc mọi nền khoa học khác phải đứng xếp hàng dưới lá cờ lệnh của nền khoa học tự nhiên.
1. Nguyên Lý Hiện Tượng Học
Hiện tượng học, theo chính Husserl, có một tham vọng trở thành một nền khoa học nghiêm nhặt (strenge Wissenschaft), nhưng không muốn sa lầy trong cái hố của nền khoa học tự nhiên, hay chủ thuyết duy tự nhiên (naturalism), điều mà chủ thuyết duy tâm lý (psychologism) đã vấp phải. Thế nên, để vừa là một khoa học nghiêm túc, vừa không phải chỉ là những lối suy tư bắt chước những mẫu mực của nền khoa học thực nghiệm, hiện tượng học bắt buộc phải cùng một lúc giải quyết được những khó khăn mà chủ thuyết duy thức chính (positivism), duy khoa học (scientism) cũ�ng như duy tâm lý đã vấp phạm; nhưng cùng một lúc cũng phải chứng minh được tính chất khoa học nghiêm túc của triết học. Ðể có thể đạt được những mục tiêu trên, hiện tượng học phải tìm ra những khuyết điểm của những chủ trương trên, và đồng thời có thể đưa ra những nguyên lý đủ vững để làm nền tảng cho hiện tượng học. Theo Husserl và những học giả theo ông, thì những vấn nạn của nền khoa học cũ không chỉ phát xuất từ sự phân cách giữa chủ thuyết duy đối thể (khách quan, tức objectivism) được Galileo chủ trương và chủ thuyết duy chủ thể (subjectivism) được Descartes bảo vệ, mà còn từ chính ý nghĩa của khoa học, mà các nhà khoa học không để ý. [7] Cái ý nghĩa này đã bị chủ thuyết duy thực chứng phá vỡ, và sự tương quan giữa khoa học và sự sống cũng đã bị chủ thuyết duy tự nhiên đánh gẫy. [8] Nói một cách khác, và theo lối diễn tả của chính Husserl, nền khoa học thực chứng (cơ khí) đã đánh mất cái ý nghĩa của cuộc sống (Verlust der Lebensbedeutsamkeit). [9] Ý thức như thế, Husserl và hiện tượng học chống tất cả những lý thuyết làm hậu cần cho chủ thuyết duy thực chứng (positivism), chủ thuyết duy tâm lý học và chủ thuyết duy tự nhiên (naturalism). Những lý thuyết này chủ trương một cuộc giản hóa toàn diện (total reductionism); chúng công nhận sự thống nhất khoa học (unity of science), và ép buộc mọi nền khoa học khác phải đứng xếp hàng dưới lá cờ lệnh của nền khoa học tự nhiên.
Ðồng thời với việc phê bình những chủ trương khoa học thực chứng trên, Husserl nghĩ, để giải quyết những khó khăn của nền khoa học hiện đại, ông đề nghị công việc kiến tạo một nền khoa học nghiêm túc (rigorous science), một sự nhận định trung thực về vai trò của chủ thể tính (subjectivity), [10] cũng như sinh hoạt của chủ thể trong sự tương hỗ (inter-subjectivity) của chúng. Ðể được như vậy, công việc trở về với chính sự vật, khôi phục lại tình trạng nguyên sơ cũng như nhìn ra được sự tương quan sinh hoạt giữa các chủ thể là những bước đi bắt buộc.
Trong những đoạn sau, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày, một cách ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ, những chủ trương (hay nguyên lý) căn bản của nền hiện tượng học nói trên: phản đối chủ trương giản hoá, trở lại tình trạng nguyên thủy, trở về với chính sự vật, chống lại lối nhìn coi chân lý là đơn chất và duy nhất, và sau cùng, về nguyên tắc của giản hóa, giảm trừ và truy nguyên.
1.1. Phản Ðối Chủ Trương Giản Hóa (Reductionism) [11]
Như chúng ta biết, hiện tượng học chủ trương "phát triển cũng như đào sâu vào trong mọi chu vi của cái kinh nghiệm sống" (Erlebniss, lived experiences). Kinh nghiệm sống mà hiện tượng học nói nơi đây là một loại kinh nghiệm tức thời (immediate experience), hay kinh nghiệm nguyên sơ (pristine), và thiên chân, tức chưa bị bóp méo hay ô nhiễm (innocent), [12] hay nói theo Giáo sư Phan Ngọc, chưa bị khúc xạ... [13]
Kinh nghiệm sống do đó khác với loại kinh nghiệm thông thường (Erfahrung, experience) do chủ thuyết kinh nghiệm chủ trương. Kinh nghiệm thông thường là một loại kinh nghiệm được cấu tạo theo ba nguyên lý mà John Locke, rồi Isaac Newton và David Hume đã từng xác nhận: (1) nguyên lý đồng nhất (tức những kinh nghiệm giống nhau), (2) nguyên lý (tâm lý) về trật tự trước sau trong không gian và thời gian (mà Hume gọi là thói quen, và ông áp dụng nó để giải thích cái mà siêu hình học gọi là nhân quả, và (3) nguyên lý đơn nhất (principle of simplicity) mà Newton áp dụng để xây dựng các phương trình. Chúng ta đặc biệt để ý tới nguyên lý thứ ba: nguyên lý đơn nhất chủ trương: con đường ngắn nhất là con đường gần nhất (hình học), cái gì đơn chất nhất là cái chắc chắn nhất (nguyên chất trong hóa học), và cái chi ít vốn nhất nhưng được lãi nhiều nhất là nguyên lý hay nhất của kinh tế (principle of economy and taxonomy). Những nguyên lý này dẫn đến chủ trương "giản hóa" (reductionism). Giản hóa bao gồm hai giai đoạn: (1) Giản lược tất cả mọi kinh nghiệm, cho dù phức tạp đến đâu đi nữa, vào một kinh nghiệm duy nhất mang tính chất đồng nhất. (2) Từ đây, người ta lại tiếp tục giản lược kinh nghiệm này vào một quan niệm (như thấy trong trường hợp của trường phái thực chứng, và chủ thuyết thực chứng logic (logical positivism). [14]
Trong kinh nghiệm sống, ta không thấy chúng theo những nguyên lý của kinh nghiệm thông thường. Thứ nhất, không thể có một đồng nhất nơi kinh nghiệm sống. Mỗi kinh nghiệm sống là một kinh nghiệm "duy nhất" (unique), không thể lập lại, và cũng không thể phổ quát hóa. Kinh nghiệm yêu là một thí dụ. Mỗi lần yêu là mỗi một lần "sống" khác nhau, và mỗi người khi yêu, không giống nhau. Trong tình yêu, ta không thể tìm ra những đặc tính chung, cố định, vượt thời gian và không gian. Chính vì vậy, ta khó có thể kiếm ra được một định nghĩa "chắc chắn, khách quan, khoa học" về tình yêu. Thứ hai, kinh nghiệm sống không theo một trật tự nhất định nào. Tình yêu ngày hôm qua (hiện ra trong óc) rất rõ rệt như ngày hôm nay, hai chục năm trước vẫn hiển nhiên như mới xảy ra hôm qua. Trong tình yêu "hình như" không có thời gian, không có không gian... Thứ ba, ta không thể giản hóa kinh nghiệm sống vào một đơn vị, hay một phạm trù. Nói cách khác, ta không thể xếp hạng, đánh giá cao thấp chúng. Làm sao ta có thể xếp hạng, đánh gía tình yêu chân thật? Chính vì những lý do trên, yêu không phải là một quan niệm (concept) cố định và phổ quát. Ðúng hơn yêu chỉ là một ý niệm (idea), mà chỉ trong chính hành vi yêu, chúng ta mới hiểu được.
Như vậy, ta có thể hiểu được lý do tại sao hiện tượng học chủ trương chống lại thuyết giản hóa (reductionism) đã từng được đại đa số giới khoa học tự nhiên, nhất là các nhà toán học, logic học, và gần thời Husserl nhất là tâm lý học thường áp dụng. Hiện tượng học đòi hỏi chúng ta phải coi sự vật như chính sự vật, chứ không chỉ là một biểu tượng, một mã số, hay một quan niệm trừu tượng. Do đó, hiện tượng học bắt ta phải trở về với chính sự vật (zu den Sachen selbst), tức sự vật ở trong tình trạng nguyên thủy. Hiện tượng học cũng phải làm cho thế giới xuất hiện như chính cái thế giới vốn thế, tức trở lại cái kinh nghiệm tức thời (immediate), kinh nghiệm sống (Erlebniss) trung thực trong cái thế giới sống (life-world) mà chúng tôi đã trình bầy ở phần trên. [15]
1.2. Trở Về Với Chính Sự Vật (Zu den Sachen selbst)
Ðể trở lại chính sự vật, ta không được phép giản lược kinh nghiệm vào một dữ kiện (a fact), hay một loạt những dữ kiện (a series of fact), hay những dữ kiện đồng tính (homogeneity), đồng trạng thái (uniformity), vân vân. Locke, Hume và những người chủ trương thuyết kinh nghiệm đã đồng nghĩa sự vật với những dữ kiện, và rồi, những dữ kiện với sự vật. Một lối nhìn như vậy phạm vào nhiều lỗi không thể tha thứ. Lỗi nặng nhất đó là các nhà chủ trương duy kinh nghiệm không phân biệt được giữa dữ kiện tự thân (thing in-itself, fact-in-se), dữ kiện cho chúng ta (given to us, như Kant thích dùng), và nhận thức về dữ kiện (knowledge about fact). Ta biết, kinh nghiệm tự thân không thể có, bởi lẽ kinh nghiệm chỉ được gọi là kinh nghiệm nếu một sự vật xuất hiện cho chúng ta, được chúng ta ý thức, và nhất là được chúng ta áp dụng vào trong những trường hợp tương tự. Một kinh nghiệm thiếu những điều kiện trên chỉ là những dữ kiện vô nghĩa. Ðây là lý do tại sao Kant chủ trương tính chất bất khả tri của sự vật tự thân. [16] Hiện tượng học khi chủ trương trở lại với chính sự vật, đã nhận ra đượ�c rằng, sự xuất hiện (appearance, phenomenon) của sự vật không có đồng nghĩa với chính sự vật, và những hiện tượng (tức những cách thế xuất hiện) không thể cấu thành loại tri thức chắc chắn về sự vật. Ta chỉ có thể nói, sự vật tự nó có thể được biết qua những sự xuất hiện của nó. Hay nói theo Kant, khi sự vật xuất hiện cho (gegeben, given, donnée) chúng ta, và khi ta ý thức được nó, thì lúc đó ta mới có cái gọi là kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm này không bị hạn hẹp vào trong dữ kiện, hay sự vật, bởi lẽ sự kiện không có lập lại trong những thời gian và không gian khác nhau - nhớ là chúng ta không thể có cùng một thời gian hay không gian trong nền khoa học cổ điển và của Newton - Ðiều đó có nghĩa là, kinh nghiệm không đồng nhất hay bất biến (như Locke và Hume từng chủ trương). Nó tiếp tục, phát triển, mở rộng không ngừng. Thế nên, ta có thể nói, không thể có một kinh nghiệm nào đủ để nói lên sự vật một cách hoàn toàn. Về điểm này, Gadamer đã giải thích sự phong phú của kinh nghiệm qua một qúa trình đương kinh nghiệm; một qúa trình giống như qúa trình chúng ta tiếp thu chân trời mới (Horizonsvermelchung, fusion of horizons). Tới một chân trời mới, ta không chỉ nhận ra điều mới, mà còn tích lũy kiến thức cũ và đưa vào để nhận biết chân trời mới. [17] Tới chân trời mới, ta không chỉ nhận biết chân trời mới, mà còn nhìn thấy được những chân trời kế tiếp đương đến. [18] Nói cách khác, kinh nghiệm sống luôn phong phú hơn mỗi khi ta tiếp xúc với một thế giới mới trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Kinh nghiệm như vậy không chỉ có lệ thuộc vào qúa khứ, mà nó phải là một dấu chỉ, cho chúng ta biết hướng đi, lối xuất hiện của tương lai (tức chân trời mới).
1.3. Trở Lại Tình Trạng Nguyên Thủy
Chính vì vậy, trở lại với chính sự vật tức là trở về với cái tình trạng nguyên thủy của sự vật, và để cho sự vật xuất hiện cho chúng ta theo cái bản tính nguyên sơ (original nature) của nó. Như chúng ta thường thấy, cùng một sự vật, khi xuất hiện cho mỗi người, nó đều không giống nhau. Rồi ngay khi cho chính cùng một người, nó cũng xuất hiện khác nhau nếu vào những thời điểm khác nhau. Nếu vậy, cái tình trạng nguyên thủy cũng có thể là nguyên chất, là chính sự vật, là cái mà ta gọi là những bản chất tất yếu (essences), tức là những đặc tính mà sự vật nếu thiếu, nó sẽ không còn là nó; mà nếu không nhận ra chúng, ta cũng không thể hiểu sự vật đó. Thí dụ, thân xác là bản chất của con người, vì nếu thiếu thân xác, thì không phải là người nữa. Tương tự, nếu thiếu trí khôn (hay linh hồn) thì con người chỉ còn là một sự vật (hay người không ra người, ngợm không ra ngợm). Thế nên, trí khôn cũng là bản chất của con người. [19] Vậy thì, bản chất phải được hiểu như một đặc tính mà nếu thiếu thì sự vật không thể xuất hiện như chính nó. Nhưng khác với nền triết học kinh viện chủ trương bản chất bất biến, hiện tượng học coi bản chất không "vĩnh cửu," và không thể biết được trước kinh nghiệm. Bản chất chỉ có thể thấy trong chính cuộc sống, hay thế giới sống. Nó được cấu tạo (constituted) trong ý thức. Một thí dụ cụ thể về bản chất của con người Việt hiện đại. Ðể biết con người Việt hiện đại, cần phải biết (1) họ sinh, sống ở đâu; (2) lịch sử (qúa khứ) của họ thế nào; (3) họ được đào tạo ra sao,(4) họ theo tôn giáo, đảng phái, hay khuynh hướng chính trị nào; (5) họ có dự phóng gì, mục đích nào; (6) họ dùng ngôn ngữ gì, và những câu hỏi tương tự. Mỗi một điều kiện (hay mỗi đặc điểm) có thể tạo ra một bản chất. Những người cùng điều kiện, cùng thế giới sống, cùng ngôn ngữ... có những bản chất chung hay gần với nhau. Ta chỉ hiểu những bản chất này thì mới hiểu được họ. Như vậy thì một người Việt nếu sinh đẻ, sống ở những nơi khác nhau không nhất thiết giống nhau. Tương tự, nếu ngôn ngữ khác biệt thì cũng khó mà giống nhau. Và cứ như thế, ta có thể đi đến một kết luận: càng nhiều bản chất giống nhau, thì những người đó càng gần nhau. Nhìn một người xa lạ, nghe giọng nói, cách nói, lối cư xử, thói quen... của ông (bà) ta, trong óc ta liền xuất hiện (constituted) ngay một "ý nghĩ" (thực ra là một phán đoán), ông (bà) ta phải là người Huế, người Hà Nội hay người Sài Gòn, vân vân. Bởi lẽ, giọng nói, cách nói, lối cư xử, thói quen... là những đặc tính chung (bản tính) của người Huế, Hà Nội hay Sài Gòn. Từ những thí dụ trên, ta thấy bản chất do đó không phải là bản thể (substance). Bản chất không có thuần túy tiên thiên, nhưng được cấu tạo trong cuộc sống, và được biết qua những kinh nghiệm. Ðể có thể nhận ra, ta cần những kiến thức tiên nghiệm (trascendental knowledge- gần giống Kant).
Trong nền triết học trước hiện tượng học, triết gia hoặc bắt sự vật phải xuất hiện theo một kiểu cách mà họ quy định (chủ thuyết kinh nghiệm, hay duy khách thể), hoặc chỉ nhìn nó xuất hiện theo một lăng kính nhất định (triết học dựa trên chủ thể từ Descartes). Kant tuy tiến bộ hơn, nhưng ông lại chủ trương ta không thể biết chi về vật tự thân. Ðiều mà chủ thể phải làm, và có thể làm được, đó là "bắt" các hiện tượng (sự vật) phải tuân theo những quy luật vốn có sẵn mà thôi (một phương thế mà triết gia người Phổ này tự hào là "cách mạng Copernig." Ði xa hơn Kant, hiện tượng học sẽ hỏi là tại sao có những quy luật như vậy? Có phải là những quy luật này vượt khỏi thời gian và không gian, hay chúng chỉ nói lên những bản chất của sự vật? Nếu những quy luật này mang tính chất tiên nghiệm (transcendental) - như Kant phán đoán rất đúng -, thì cái kinh nghiệm đi trước (tiên nghiệm) có thể đứng ngoài thời gian, và không gian, hay nói cho xác đáng hơn, có thể nằm bên ngoài chính cái thế giới sống (hay thế sinh, tức life-world) của chúng ta hay không? Chính vì vậy mà hiện tượng học nhìn ra và mới đặt câu hỏi, tại sao sự vật ở vào những thời gian và không gian khác nhau lại xuất hiện một cách rất ư khác biệt cho mỗi người chúng ta? Câu hỏi này Kant đã không thể giải thích, bởi lẽ ông cho rằng những quy luật tư duy, giống như những quy luật tự nhiên của Newton, là những quy luật hoàn toàn không lệ thuộc vào những yếu tố không gian và thời gian, càng không lệ thuộc vào các nhân tố. Nói cách khác, quy luật tư duy, để xứng đáng có tính chất khoa học, phải hoàn toàn trung lập, phi lịch sử, phi xã hội. Một câu trả lời như vậy không thỏa mãn ai được, gồm ngay chính cả triết gia của thị trấn Kònigsberg.
Ta biết, Kant đã bỏ qua một điểm tối ư quan trọng, đó là những phạm trù tư duy mà ông đưa ra chỉ có thể áp dụng vào những sự vật bất biến, một chủ thể bất động. Những phạm trù này được cấu tạo theo lối nhìn duy lý (theo đó, mọi sự vật xuất hiện theo định luật của lý trí, mà lý trí vốn siêu nghiệm, vượt khỏi thời gian và không gian). Trên thực tế, làm sao mà có thể có một thế giới bất động như vậy. Hegel trước, rồi Marx sau, đã chứng minh sự thiếu sót của lối nhìn tiên nghiệm, siêu lịch sử của Kant. Sự thật là chúng ta không thể quy định sự vật vào trong một phạm trù nào, hay trong một khái niệm nào, hay trong một lối hiểu biết nhất định nào. Nếu nhìn theo những khám phá tân tiến nhất của sinh vật học, và vũ trụ học, ta khó có thể chứng minh ra được sự hiện hữu của cái gọi là bất biến (unchangeable), bất di bất dịch (immutable). [20] Bất biến chỉ là quan niệm khoa học thô sơ từng được các triết gia (mà đa số là các nhà toán học) từ thời Parmenides phát triển, rồi với người đồ đệ Zeno của ông từng chứng minh một cách rất ngược ngạo, nhưng lại được Plato phát triển một cách tinh vi, khiến giới khoa học và triết học như Kant bám vào. [21] Ðiểm mà chúng ta có thể làm được đó là khám phá ra (qua lối phân tích, giải phẫu...) những bản chất (essences) của chính sự vật. Nhưng sự vật xuất hiện thế nào, theo quy luật nào, đó là một vấn đề khác nan giải hơn nhiều. Theo lối nhìn cổ điển của Newton, khám phá ra quy luật của sự vật, tức khám phá, và xác định được sự xuất hiện của nó. [22] Nhưng theo lối nhìn mới của Heidegger, sự vật tự phát hiện cho chúng ta. [23] Ðiểm quan trọng là chúng ta có ở trong cái tư thế để nhận ra nó hay không. Nói một cách chung, sự vật xuất hiện không nhất thiết theo quy luật bất biến của thế giới cơ khí, mà theo lối tương quan giữa sự vật và chủ thể. Ðiều đó có nghĩa là, lối xuất hiện này theo quy luật của hữu sinh (Sein, Being hay hữu thể) và của đối tượng (object), tức sự vật (thing), hiện tượng (phenomenon) như là một hiện thể (Sein als Seinendes) chứ không chỉ là vật thể (Ding, thing).
Xem tiếp phần sau
Trần Văn Ðoàn
ÐH Khoa Học Kỹ Thuật Hoa Trung,
Vũ Hán, Trung Quốc, 07. 2004