Phương Pháp Hiện Tượng Học (P1) - Trần Văn Đoàn

Kitô hữu · · Thông diễn học

Hiểu được những nguyên lý của hiện tượng học như vậy, ta thấy đây là một chủ trương rất hay. Ðiểm quan trọng là làm sao để tìm ra thực tính (reality), nguyên tính (originality) cũng như tương quan tính (relativity) của sự vật (sự kiện). Bởi lẽ, nếu thiếu những đặc tính trên, ta không thể nhìn ra, đừng nói là có thể nắm vững được hiện tượng. Ðây chính là lý do bắt buộc chúng ta phải khám phá ra một phương pháp có thể giúp đạt được những mục đích trên, tức phù hợp với những nguyên lý hiện tượng học.

2. Phương Pháp Hiện Tượng Học

Hiểu được những nguyên lý của hiện tượng học như vậy, ta thấy đây là một chủ trương rất hay. Ðiểm quan trọng là làm sao để tìm ra thực tính (reality), nguyên tính (originality) cũng như tương quan tính (relativity) của sự vật (sự kiện). Bởi lẽ, nếu thiếu những đặc tính trên, ta không thể nhìn ra, đừng nói là có thể nắm vững được hiện tượng. Ðây chính là lý do bắt buộc chúng ta phải khám phá ra một phương pháp có thể giúp đạt được những mục đích trên, tức phù hợp với những nguyên lý hiện tượng học.

Trong phần này, chúng tôi xin được bàn một cách ngắn gọn, nhưng tương đối đầy đủ cái mà chúng ta gọi là phương pháp hiện tượng học. Như chúng ta sẽ thấy, phương pháp hiện tượng rất nhiều, nhưng theo Giáo sư Spiegelberg, đại để nằm gọn trong những những phương thế (hay những bước tiến) như sau:

(1) phương thế khám phá những hiện tượng cá biệt (investigating particular phenomena);

(2) phương thế khám phá những bản chất chung (investigating general essences);

(3) phương thế giúp ta nhận ra được mối tương quan căn bản giữa các bản chất (apprehending essential relationships among essences);

(4) phương thế quan sát những cách thế của hiện tượng đương xuất hiện (watching modes of appearing);

(5) phương thế quan sát sự cấu tạo của hiện tượng trong ý thức (watching the constitution of phenomena in consciousness);

(6) phương thế tâm lý gíúp ta tạm không tin vào sự hiện hữu của hiện tượng (suspending belief in the existence of the phenomena);

(7) phương thế thông diễn ý nghĩa của hiện tượng (interpreting the meaning of phenomena). [33]

Ngoài 7 phương thế trên, chúng tôi cũng xin thêm vào một phương thế khác, đó là phương thế phê bình hiện tượng mà Juergen Habermas đã chủ trương. Tuy nhiên, để tránh đi qúa đà vượt khỏi nền hiện tượng học của Husserl và những người theo ông, chúng tối sẽ bàn về phương pháp của Habermas trong chượng thứ 5, tức về các trường phái thông diễn học.

Chú ý là chưa thấy có một nhà hiện tượng học nào dám cả quyết đã áp dụng tất cả những phương thế này. Ðại đa số đều chấp nhận và thực thi ba phương thế đầu mà thôi. [34] Những phương thế sau chỉ được một nhóm nhỏ chấp nhận. Tuy vậy phải nói là, không hẳn tất cả 4 phương thế còn lại đều được chấp nhận. Có người chấp nhận một số này, thí dụ phương thế thứ 5 và thứ 6 như thấy nơi triết gia Merleau-Ponty khi ông phân tích tác động tri giác (perception), cũng như sự việc thế giới đương kiến tạo (Weltconstitution) trong tác phẩm Phénoménologie de la perception, nhưng lại có những triết gia khác tập trung vào ba phương thế đầu và rồi vào phương thế thứ 7 như Gadamer đã làm. [35]

Trong phần này, chúng tôi sẽ bàn về ba phương thế đầu một cách rõ ràng hơn, bởi lẽ đó là những phương thế mà, đã là nhà hiện tượng học, ai cũng phải theo. Phương thế thứ 7, sẽ bàn kỹ lưỡng hơn trong phần bàn về triết học thông diễn, đặc biệt trong nền triết học của Heidegger và Gadamer. Những phương thế 4, 5, 6 sẽ được chúng tôi nhắc tới một cách sơ sài, bởi lẽ chúng phần nào lập lại 3 phương thế đầu, phần nào đó mang tích chất kỹ thuật nhiều hơn. Nơi đây, chúng tôi cũng cần phải nói thêm, đó là phương thế thứ 8, tức lối phê bình hiện tượng của Habemas, xem ra có vẻ gần giống với phương thế truy nguyên (reduction). [36] Vì sẽ bàn về phương pháp của Habermas dài hơn trong chương thứ 5, nơi đây chỉ xin vắn tắt vài lời. Phương pháp phê phán, thực ra vốn không thuộc trường phái hiện tượng, mà là con đẻ của nền triết học phê phán của Kant, và của Marx mà trường phái Frankfurt đã phát triển rất sâu sắc. Habermas đại diện cho trường phái này. Chính ông đã làm một cuộc tổng hợp ngoạn mục giữa hiện tượng học, thông diễn học và lý thuyết phê phán (critical theory), như chúng tôi sẽ trình bày trong chương thứ tư về các trường phái thông diễn.

2.1. Phương Thế Thứ Nhất - Khám Phá Hiện Tượng Cá Biệt

Phương thế khám phá hiện tượng cá biệt bao gồm: phương thế trực giác hiện tượng (phenomenological intuiting), phân tích hiện tượng (phenomenological analyzing) và diễn tả hiện tượng (phenomenological describing). Ðây là những phương pháp căn bản nhất của hiện tượng học, mà bất cứ nhà hiện tượng học nào cũng áp dụng. Về trực giác hiện tượng, như chúng ta sẽ thấy trong đoạn sau, ta thấy có hai phương hướng. Phương hướng thứ nhất chủ trương một loại trực giác như từng thấy trong toán học (hình học), trong khi phương hướng thứ hai chủ trương loại trực giác trong chính cảm giác. Lẽ tất nhiên, còn loại trực giác thứ ba thấy trong kinh nghiệm thần bí, nhưng không phải là điều mà chúng tôi muốn bàn tới. Chỉ có hai khuynh hướng trong toán học và cảm giác ảnh hưởng trực tiếp tới hiện tượng học và thông diễn học (TDH).

2.1.1. Trực Giác Hiện Tượng

Trước khi bàn về phương pháp trực giác hiện tượng, ta cần phải giải thích quan niệm trực giác, từng thấy trong triết học (bi ảnh hưởng của toán học) và tâm lý học (khuynh hướng duy cảm giác).

Chúng ta thường hiểu trực giác là một sự khám phá, hay nhận thức một sự vật nào đó một cách tức khắc, không qua kinh nghiệm, không dựa vào suy diễn, cũng không nhờ vào quy luật nào (logic). [37] Loại trực giác này được Descartes nâng lên thành một điều kiện tất yếu cho suy tư. Ta biết, luận cứ triết học của Descartes về trực giác ít bị thách đố, ngược lại, được nhiều triết gia và toán học gia chấp nhận, bởi lẽ chính Descartes là người chủ trương trực giác theo lối toán học. Theo luận cứ này, trực giác là một phương pháp của hình học, tức khám phá ra sự thật mà không cần kinh nghiệm. Theo ông, kinh nghiệm không thể giúp hay chứng minh được gì. Thí dụ như nguyên lý toán học: "đường ngắn nhất là đường thẳng nhất" không thể dùng kinh nghiệm để chứng minh. Không hoàn toàn theo, nhưng không chống lại Descartes, những triết gia như Kant gắn liền trực giác với khả năng nhận thức những nguyên lý, hay cấu trúc toán học một cách tiên thiên. Ơ thế kỷ thứ 20, nhiều toán học gia như Henri Poincaré, Kronecker và đặc biệt L.E.J. Brouwer bổ túc cho lối nhìn trực giác của Kant, bằng cách thay thế trực giác với chính phân tích và cấu trúc điển phạm (paradigmatic). [38]

Thực ra một lối hiểu như vậy về trực giác không sai, nhưng vẫn còn vướng vào nhiều khó khăn. Cái khó khăn đầu tiên bắt đầu với lối giải thích chấp nhận bản chất tiên thiên, và bất ngộ của chính toán học. Nếu trực giác vốn bẩm sinh, thì ta có lẽ phải đi tới một kết luận là, một đặc tính như vậy phải là một ân huệ mà Thượng Ðế ban cho những nhà toán học. [39] Ðàng khác, một loại trực giác như vậy, tự nó không thể giải thích được chính nó. Ta phải dựa vào một lập luận kiểu Descartes, tức dùng cái tôi suy tư để chứng minh sự hiện hữu của cái tôi. Nhưng làm như thế, Descartes đã đồng nhất cái tôi tư duy với cái tôi hiện hữu. Nói cách khác, ta phải chấp nhận, nếu theo Descartes, là trực giác toán học phải đồng nhất với chính toán học. Sự kiện ta trực giác con đường ngắn nhất phải đồng nhất với con đường thẳng nhất. Lối lập luận như vậy là một loại "lập lại chính mình" (tauto), tức dựa trên chính mình để chứng minh chính mình (tautological logic). Việc xác tín "không thể có bất cứ giải thích nào khác cho nền toán học trực giác bằng chính toán học," xem ra khó có thể thuyết phục được mấy ai, ngay chính những nhà toán học. [40]

Trong khuynh hướng thứ hai coi trực giác là một sản phẩm của cảm giác (như các nhà tâm lý học chủ trương), ta thấy nếu trực giác là khả năng tiên thiên, thì một khả năng như vậy là do bẩm sinh, chỉ thấy nơi những thiên tài. Thiên tài nhìn thấy những gì mà người thường không thể nhìn ra, bởi lẽ thiên tài có cái giác quan đặc biệt, hay giác quan thứ sáu. [41] Không chỉ nơi nghệ sĩ, mà ngay cả những nhà đạo đức học cũng có thể chủ trương như vậy, bởi lẽ lối nhìn về trực giác này thường gắn liền với cảm giác. Ðây là lý do tại sao Giáo sư G. E. Moore chủ trương đạo đức xây trên cảm giác thiện. Ta cũng thấy một chủ trương như thế trong triết học Ðông phương, thí dụ lý thuyết lương tâm (cái tâm địa bẩm sinh vốn thiện), hay tính bản thiện của Mạnh Tử, tính bản ác của Tuân Tử). Một trực giác như vậy nằm trên và có trước triết học (pre-philosophical). Nhưng nếu chủ trương như thế, ta không chỉ gặp phải những mâu thuẫn bất khả lý giải (trường hợp Mạnh Tử và Tuân Tử), mà còn phải công nhận một điều: một trực giác như thế đã vượt khỏi phạm vi của lý trí, và lẽ tất nhiên, nó không phải là đối tượng của suy tư triết học nữa.

Ngoài hai lối nhìn về trực giác như trên, ta còn thấy lố�i hiểu trực giác theo siêu hình, tức "trực giác siêu hình" của triết gia Henri Bergson (1859-1941). Bergson nhận định, khả năng trực giác không chỉ có nơi toán học, mà còn trong mọi sinh hoạt, đặc biệt nghệ thuật và tâm linh. Con người có thể trực giác được những yếu tính siêu hình như Thượng Ðế, linh hồn bất tử, và tự do tính (mà Kant đã thú nhận là không thể chứng minh qua lối phân tích lý trí). Lối xuất thần của những nhà huyền bí, của những kẻ theo lý thuyết Tân Plato, và lẽ dĩ nhiên của đạo gia, đều là những lối trực giác. Những người chủ trương các lý thuyết sau cho rằng, họ có thể nhận ra được những thực thể ở chiều kích thâm sâu nhất, và toàn diện nhất, mà những nhà khoa học không thể nhìn ra, hay nghĩ ra được. Cho là có thực đi nữa (và chúng tôi tin là có thể có), thì những lối nhìn về trực giác như vậy không giúp chúng ta hiểu gì hơn về cái khả năng "nhìn thấu suốt" (anschauen, intuiting) tức "nhìn vào tới chiều sâu" hay "nhìn ra được bản chất" (Wesenschau) của sự vật. Bởi lẽ, họ có thể nhìn thấy, nhưng họ không thể diễn tả được. Hiện tượng học đòi hỏi không những nhìn thấy, mà còn có thể nói ra (to say), diễn tả ra (to explain), và lý giải (to explicate), và nhất là thông hiểu (to interpret). Ðây là lý do chúng tôi chú ý vào hai loại trực giác thấy trong toán học và trong cảm giác.

Hiện tượng học không chối bỏ hai lối trực giác chủ trương bởi nhà toán học và người nghệ sĩ. Nhưng hiện tượng học muốn chứng minh là, một loại trực giác như vậy không có "bẩm sinh" hay tiên thiên, nhưng tiên nghiệm; và bất cứ trực giác nào cũng không thể tách rời khỏi thế giới sống, những kinh nghiệm sống. Theo hiện tượng học, trực giác không có trực nhưng qua và trong một thế giới sống. Nó qua một cách rất nhanh với tốc độ tích tắc của đồng hồ, như một tia sáng chớp loé lên. Nó bao gồm tất cả một thế giới phức tạp, mà thiên tài có thể tóm gọn trong một công thức. Nó mang tính chất toàn diện, chưa bị những cái ánh sáng bên ngoài (những ý hệ, giáo dục, hay những yếu tố khác) phá vỡ, hay làm lệch lạc.

Hiểu như vậy, trực giác không phải là cái hồng ân do Thượng Ðế ban tặng cho riêng ai, bởi lẽ ai cũng có thể có được những trực giác: người nghệ sĩ nhìn ra được cái gì liên quan tới thế giới sống của họ; nhà khoa học khám phá ra điều mà chỉ có thế giới khoa học mới để ý, vân vân. Vậy nên, hiện tượng học hiểu trực giác là một cái nhìn chính xác, trung thực, chưa bị bóp méo bởi tiên kiến, không bị quáng gà bởi một đối tượng quá mạnh nào đó. Nói cách khác, trực giác hiện tượng là một lối nhìn ở trạng thái đơn sơ, luôn mở rộng đón nhận bất cứ khả thể náo. [42] Chỉ như vậy, ta mới có thể nhận ra: (1) Trực giác là một cái nhìn, tìm thấy những tương quan giữa đối tượng với những hiện tượng khác, hay nhận ra sự đồng nhất và sự khác biệt nơi chúng. (2) Trực giác hiện tượng cũng là một lối nhìn không ngừng. Ta phải tiếp tục quan sát, không ngừng quan sát. Và chỉ như vậy ta mới có thể nhìn ra cái mà chúng ta không dễ tìm thấy trong trạng thái bình thường. (3) Trực giác hiện tượng cũng là một cái nhìn vào chiều sâu (intuiting / Schau), đó có nghĩa là ta thấy được cái bản chất ẩn nấp kín đáo và không thay đổi đàng sau những hiện tượng. Thí dụ khi nhìn vào một vật thể mang cùng một hình thức vuông dài như nhau, ta có thể nhận ra được đó là một lá một cái hộp, hay một cái bàn, một chiếc giường hay một cỗ quan tài. Tương tự khi quan sát vật thể cùng một chất liệu, ta cũng có thể nhận ra các vật thể khác nhau tùy theo công năng, hình thái, hay tùy theo không gian và thời gian, vân vân.

Một thí dụ khác về trực giác cái sức lực (force) giúp ta càng dễ dàng hiểu ý nghĩa của trực giác trong hiện tượng học. Ta cứ coi sức lực là một hiện tượng. Thực ra sức lực không hiện ra như một vật thể, hay một âm thanh, hay một mầu sắc. Nó cũng không phải là một cảm giác. Câu nói, ta cảm thấy sức mạnh vô biên của Thượng Ðế chỉ là một lối diễn tả, chứ thực ra một sức lực như vậy không phải là đối tượng của ngũ giác, bao gồm cảm giác. Nếu vậy, làm thế nào để "nhìn ra" (thấy được, nhận ra, biết được) cái sức, cái lực? Nói cho chính xác, chúng ta chỉ thấy cái hậu qủa của sức mạnh, thấy việc "dùng sức mạnh", "gây ra sức mạnh" mà thôi. Thí dụ "trai mười sáu bẻ gẫy sừng trâu," hay Trần Quốc Toản bóp bẹp trái cam, hay ta bị một cú đấm. Những động từ bẻ, bóp, đấm và những tĩnh từ hay trạng từ đi theo như gẫy, bẹp, mạnh... tạo cho ta cảm giác về sức mạnh. Ta cảm thấy được sức mạnh của cú đấm đó, cú bẻ đó, cú bóp đó. Hay ta dùng sức đập hòn đá, gánh bao gạo, vân vân. Sức đối kháng của hòn đá, sức nặng của bao gạo nói lên cái sức lực của người đập đá, người vác gạo. Nói một cách khác, ta nhận ra được sức mạnh qua (1) việc sử dụng sức mạnh của một người nào đó, (2) qua cái hậu qủa, hay kết qủa của một sự dùng sức mạnh (bị đấm, bị đánh), và (3) sự tương quan của sức lực với sự vật (vật thể, trọng lượng, chiều kích vật thể, vân vân). Một người mà qua tác động (đánh, đấm, vác...) gây ra một sức mạnh ta gọi là người có sức lực; một người bị đấm có cảm giác đau điếng hiểu ngay được sức mạnh của người đấm ông ta. [43] Vậy thì, ta biết được sức mạnh qua tác động phát sinh sức mạnh (trái đấm) (mobilization of force), và qua chính hậu qủa của sức mạnh (đau) tức việc sức lực tỏa ra (release of force) như thấy trong trường hợp động đất, và sau đó những cuộc động đất nhỏ tiếp theo. Phát sinh sức mạnh cũng có thể được biết từ một khía cạnh của sự gia tăng sức lực (thí dụ như gia tốc, gia âm), hay giảm sút (release). Dù sao đi nữa, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm thì chỉ qua việc sử dụng, chỉ nhìn vào hậu qủa, hay qua sự so sánh giữa các tác động tương quan, ta mới thấy được cái sức lực. Nhưng nếu như thế thì, khi nhìn ra sự gia tăng sức lực vượt khỏi kinh nghiệm, tức vượt khỏi những gì ta đã biết (hay vượt khỏi trí tưởng tượng), ta khó mà biết được cái sức mạnh đó. Thực ra, ta vẫn có thể biết được (hay trực giác ra được) cái sức lực đó, mà ta diễn tả là sức lực "vô biên," sức mạnh "khủng khiếp." Một trực giác như vậy không phải là hậu qủa của kinh nghiệm, nhưng nếu không có kinh nghiệm, thì ta cũng không thể trực giác. Ðây là cái hay của Husserl, khi ông theo Kant, để nhận định trực giác không phải là tiên thiên, cũng không phải là hậu nghiệm, nhưng là tiên nghiệm. Hiểu như vậy, trực giác là một cái nhìn tuy trực tiếp, nhưng thực ra phải nóí là tiên nghiệm (theo nghĩa của Kant) mới đúng.

2.1.2. Phân Tích Hiện Tượng

Sự nhìn ra sự vật, tức trực giác hiện tượng tự nó vẫn chưa đủ giúp chúng ta hiểu được sự vật. [44] Chúng ta bắt buộc phải tiến thêm một bước nữa bằng cách mổ sẻ (phân tích) những yếu tố, hay những yếu điểm, hay những bộ phận thiết yếu cấu tạo thành vật thể. Ðó chính là phương thế mà các nhà hiện tượng học gọi là phân tích hiện tượng (phenomenological analysing). [45] Yếu tính hay còn hiểu là bản chất (yếu điểm, yếu tố) là những điểm chính yếu mà nếu thiếu, vật thể không thể tự cấu thành cái vật thể như chúng ta đương nhìn ra. Nhưng những yếu tính này tự chúng không có "tất yếu" nếu nó bị tách biệt khỏi những yếu tính khác. Bản chất của một sự vật chỉ có thể nhận ra được chính nhờ vào các bản chất khác của chính sự vật ấy. Mà những bản chất này không phải do chính sự vật tự cấu thành, Chúng được chủ thể kiến cấu qua chính sự tương quan giữa các bản chất (hay yếu tính) của sự vật, và giữa sự vật, vân vân. Nói cách khác, phân tích hiện tượng đòi chúng ta phải nhìn ra sự tương quan giữa các yếu tính, hay nói đúng hơn, tại sao sự tương quan này tạo những yếu điểm (bộ phận) thành những yếu tính. Thí dụ chỉ qua những tương quan như (1) quan niệm gia đình, (2) đời sống tính dục, (3) tổ chức xã hội... mà ta mới phán đoán được một "cặp" nam-nữ là một "đôi" vợ chồng. Nếu thiếu quan niệm hôn nhân, tính dục, thì cặp nam nữ có thể chỉ là bạn bè, đồng nghiệp, đồng học mà thôi. Phân tích hiện tượng cũng bắt buộc chúng ta phải nhìn ra những hiện tượng mới đương xảy ra. Thí dụ ngay khi ta nhìn một người đương nhẩy dù từ máy bay, ta có thể nhìn ngay ra là ông ta sẽ nhảy xuống mặt đất sau một quãng cách thời gian nào đó. Cái nhìn ra ngay được này thực ra xuất hiện trong trực giác (hay nói đúng hơn, từ những kinh nghiệm tiên nghiệm) chứ chưa có trong thực tế. Bởi lẽ ngay vào lúc ta nhìn ông ta nhẩy từ máy bay, thì ông ta vẫn chưa xuống tới mặt đất. Cần phải một thời gian dài hay ngắn tùy theo quãng cách, độ� gió và kỹ thuật của người nhẩy, thì ta mới biết người đó đáp xuống mặt đất.

Phân tích hiện tượng cũng là một sự phân tích chính cái ý hướng của chủ thể khi đối diện với đối tượng. Ý hướng của mỗi người tuy khác nhau, nhưng có thể nhận ra được nếu có thể biết được (1) mục đích người đó đương đeo đuổi, (2) ước muốn chung nơi mỗi người, (3) ý thức của người đó về cái thế giới ông ta đương sống, và (4) những ý muốn, ý thức... bị dồn nén (trong những xã hội đóng kín, hay do những đạo giáo, luân lý, luật lệ xã hội, vân vân). Lẽ dĩ nhiên, ta cũng cần phải để ý đến sự thay đổi của ý hướng (thí dụ trong sự chọn lựa giữa những cái đương (hay sẽ) xẩy ra và cái đã qua, giữa giá trị truyền thống và hiện đại). Nói một cách cụ thể, khi chiêm ngắm một ngôi nhà, ta có thể nhận ra được, ý hướng khác nhau nơi người xem nhà, khiến họ nhận định về ngôi nhà không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Một người chưa từng có một mái nhà, một người buôn bán nhà cửa, một người du khách, một người không có ý mua nhà tậu đất... lẽ dĩ nhiên sẽ có những lối nhìn, cách thể hiểu biết khác nhau về ngôi nhà đó.

Chính vì vậy. khi phân tích ý hướng, chúng ta phải chú ý đến chính sự vật (đối tượng), và càng cần phải để ý hơn tới cái động năng khiến chúng ta chú ý tới đối tượng. Theo ngôn ngữ của Husserl, sự phân tích ý hướng bao gồm: (1) Phân tích đối tượng nằm trên bình diện cơ cấu (organic), kiến cấu (constitutive) và nội dung của đối tượng. Ðó chính là phân tích cái mà Husserl gọi là hình thức căn bản (hạt nhân) của tư tưởng (noema). Cái hình thức căn cơ này là cái bọc bên ngoài bao chính cái nội dung của ý hướng. Trong tư tưởng, ta có thể gọi noema là sở tư hay tư thái. Nói một cách cụ thể, khi chủ thể tư duy, chủ thể đã mặc nhiên chấp nhận một lối suy tư (tức hình thức, phương cách), và khi nhìn bất cứ một đối tượng nào, đã nhìn nó qua cái hình thức căn cơ này. (2) Phân tích chính động năng tạo ra ý hướng tức nguyên năng hay năng lực khiến ta tư duy (noesis). [46] Cái động năng này (noesis), hay còn gọi là năng tư hay tư duy, cũng mang tính chất tiên nghiệm theo nghĩa là chủ thể chú ý đến một đối tượng không phải do ngẫu nhiên, mà do một động lực thúc đẩy (hay nói cách khác, được những lợi ích, cảm giác, hay ý thức hệ hướng dẫn hay lôi cuốn, cũng một cách tiên thiên). [47]

Trong những tác phẩm về cuối đời, Husserl thường dùng thuật ngữ phân tích ý hướng (intentional analysis) theo gần một nghĩa như phân tích hiện tượng. Theo Eugen Fink, một trợ tá của Husserl, phân tích ý hướng nhắm tìm thấy những công năng cấu tạo của những hành động mang ý hướng. [48] Nhưng nói chung, phân tích ý hướng vẫn mang cái công năng chính như phân tích hiện tượng, đó là việc phân tích những cơ cấu, kết cấu của hiện tượng cũng như sự tương quan giữa các yếu tính (bản chất) của hiện tượng.

2.1.3. Diễn Tả Hiện Tượng (Phenomenological describing)

Thoạt nhìn, việc diễn tả hiện tượng cũng chẳng khác chi mấy với việc phân tích hiện tượng. Thực vậy, hai động tác không có phân biệt lắm, và nhất là chúng luôn gắn liền, không thể tách biệt được. Ðể độc giả nhận ra một số khác biệt giữa phân tích và diễn tả, chúng tôi xin nêu ra hai điều kiện và hai phương thế trong công việc diễn tả hiện tượng như sau:

Thứ nhất, ta cần một thái độ vô tư khi nhìn sự vật (hay đối tượng). Nói cách khác, để khỏi nhìn sai, hay vì bị ảnh hưởng bởi những ý hệ, những điều kiện xã hội, hiện tượng học đòi buộc ta phải có thái độ khách quan, một tâm thức ở trạng thái nguyên sơ (tabula rasa): "Hiện tượng học bắt đầu trong sự thinh lặng." [49] Chỉ có ai đã kinh nghiệm được sự lúng túng cũng như bất lực của mình khi diễn tả kinh nghiệm mới nhận ra được ý nghĩa và tầm quan trọng của lối nhìn hiện tượng. Lối nhìn hiện tượng học gần giống với lối nhìn thiền tông: chỉ ai đã từng cảm thấy bất lực với lối tu luyện thường tình mới nhận ra được lối tu luyện thiền tông: sự giác ngộ bắt đầu với "tâm không", không bị những tạp niệm làm u ám.

Thứ hai, ta cần phải ý thức là công việc diễn tả không phải là một lối bày đặt ra, nhưng còn là một sự tiên đoán (predication). Tiên đoán theo cái nghĩa là nhìn ra được sự kiện hiện tượng đương xuất hiện và phải xuất hiện. Sự kiện tiên đoán lại đòi buộc những kinh nghiệm sống tiền-tiên đoán (pre-predicative experiences). Ðó là những kinh nghiệm tiên nghiệm vốn nằm sẵn (hay có sẵn) trong cuộc sống của chúng ta. Thí dụ, một thiền sư khi thực tập thiền dễ "ngộ� đạo" hay "đắc đạo" hơn người thông thường; bởi lẽ những thiền sư này từng có những kinh nhiệm tiền-tiên đoán (tức tiên nghiệm) mà những người thường, hay những người mới tập thiền chưa có. Chính vì lý do này mà phương pháp diễn tả hiện tượng đặc biệt chú ý tới cái kinh nghiệm tiền-tiên đoán này. [50] Nói tóm lại, sự tiên đoán thực ra cũng chỉ là một phương cách diễn tả hiện tượng: "Một người đương muốn hiểu văn bản cũng là người luôn luôn dự phóng (tiên đoán) (ra ý nghĩa của nó). Ông dự đoán một cái ý nghĩa của văn bản toàn diện ngay vào lúc mà cái ý nghĩa tiên khởi xuất hiện trong văn bản...". [51]

Thứ ba, công việc diễn tả bao gồm những việc mà chúng ta thường thấy trong những nền khoa học khác, thí dụ khoa học tự nhiên. [52] Nhưng còn hơn thế nữa, hiện tượng học đòi ta phải đi xa hơn: (1) thứ nhất, diễn tả hiện tượng tức là xếp loại các hiện tượng (classification of phenomena) theo những bản chất chung của chúng. (2) Thứ đến, diễn tả hiện tượng đòi buộc ta phải nhìn ra một nguồn mạch, hay một cái khoang (framework) chung của các loại tên (thuật ngữ), và từ đó (3) phương thế diễn tả cũng đồng nghĩa với công việc xác định chỗ (vị trí) của mỗi hiện tượng thuộc loại nào, nằm trong hệ thống nào. (4) Trong trường hợp gặp những hiện tượng mới, ta cũng có thể bắt đầu diễn tả bằng những bước trên. Tuy nhiên, điều cần phải chú ý, đó là, ta khó có thể diễn tả chúng ra hết được nếu chỉ dựa vào những kết cấu, hay mạch nguồn cũ... Nguồn mạch, kết cấu cũ thực ra không hoàn toàn thích hợp, và dĩ nhiên là chưa đủ. Từ đây, việc mà hiện tượng học có thể làm, đó là tìm ra những khác biệt của chúng bằng cách diễn tả theo lối "phủ định" (negation). Theo Spiegelberg, diễn tả theo lối phủ định "thường là một lối đơn giản nhất, ít ra có thể chỉ ra được tính chất duy nhất (đặc biệt) và tính chất bất khả giản lược của những hiện tượng như vậy." [53] Tiến thêm một bước, diễn tả hiện tượng học thường áp dụng hai phương thế để bổ túc những phương thế cũ, đó là phương thế lấy dụ ngôn (metaphor) và phương thế loại tỉ (hay so sánh giống, loại, analogy). Lẽ tất nhiên, những phương thế sau không có bảo đảm, và dễ sai lầm. Tuy nhiên, ta khó có thể tìm ra phương thế nào khác trong công việc diễn tả những hiện tượng mà chúng ta gặp lần đầu. [54] (5) Một tính chất khác của công việc diễn tả hiện tượng đó là tính chất chọn lựa trong khi diễn tả (selective). Khi ta diễn tả một sự vật, một hiện tượng, chúng ta đang chọn những đặc tính (đặc thù) và xếp loại chúng. Chọn lựa cũng có nghĩa là giữ lại và bỏ đi một phần nào đó. Chính vì vậy, mà thường thì diễn tả hiện tượng đòi hỏi, hay bắt chúng ta phải tập trung trí óc (hay cái nhìn, hay nghe, hay ngửi) vào một khía cạnh nào đó của hiện tượng. Khi tập trung tức là khi chúng ta chú ý chọn lựa, và việc chọn lựa thường là việc giữ lại những yếu tính (tức bản chất) và tạm bỏ những gì mang tính chất bất tất, ấu ngẫu, hay thiếu quan trọng sang một bên. [55]

2.2. Phương Thế Khám Phá Ra Những Bản Chất Chung hay Trực Tính (Investigating General Essences - Eidetic Intuiting)

Sau khi đã trực giác, phân tích cũng như diễn tả hiện tượng, ta có thể nhận ra được bản chất của nó, cũng như những tính chất của nó trong tương quan với các vật thể (hiện tượng khác). Khi nói nhận ra bản chất, thực ra ta chỉ thấy được cái mà ta gọi là hiện thể, tức cái thể đương xuất hiện cho chúng ta (given, hay being, Seiendes). Nói cách khác, ta chỉ thấy được sự hiện diện của nó trong thời gian và không gian (Dasein), tức nhận ra cái hiện tính (thatness) của nó mà thôi. Chúng ta vẫn chưa tìm ra được những bản chất quyết định khiến nó xuất hiện như thế này hay thế nọ (Seiendheit, whatness). Ðể nhận ra những bản chất quyết định hiện tính của nó, Husserl đưa ra một lối trực giác, tạm gọi là trực kiến (Wesenschau, hay eidetic intuiting). Một thí dụ để giải thích trực kiến: Một vật thể hình chữ nhật xuất hiện trước mắt (cho) chúng ta dưới dạng thái (form) chữ nhật. Khi một vật thể như vậy nằm trong một không gian nhất định, vật thể này có thể là mặt bàn viết, một mảnh vườn, một sân banh, vân vân. Nơi đây, nếu chỉ dựa vào cách thế xuất hiện trong không gian thì ta có thể nói, bản chất của hình chữ nhật là cái bàn nếu xuất hiện trong một không gian thí dụ lớp học, phòng đọc sách, phòng ăn...; nó sẽ là mảnh vườn nếu trong một không gian lớn rộng hơn, và sẽ là sân banh nếu trong một không gian với một mục đích khác nữa. Nhưng lối nhìn này vẫn chưa nói lên hết được bản chất sự vật. Ta mới nhìn thấy cái hiện thể của nó (hình chữ nhật), và ta có thể nói, nó thế này hay thế nọ (dài hay ngằn, to hay nhỏ). Nhưng để có thể nói, nó là cái gì (what), ta không chỉ biết được bản chất hình chữ nhật (khác với hình vuông, hình tam giác, hình tròn) mà thôi, mà còn phải biết tương quan của nó với các sự vật khác, với chính chủ thể. Công năng của nó, mục đích của nó, và mục đích được gán cho nó, vân vân... là những bản chất quyết định cái mà ta gọi là hữu thể (Being). Chúng trả lời cho câu hỏi "cái này là cái gì?" "what is this?," "what is that?". Khi trả lời câu hỏi, cũng là lúc chúng ta khám phá (hay gán) ý nghĩa cho hiện tượng (Sinngebung).

Ðể nhận ra những bản chất này, ta cần có được cái mà Husserl gọi là nhận ra được những bản chất chung, tức trực kiến (Wesenschau). Trực kiến là một sự trực giác được những bản chất chung mang tính cách trừu tượng. Rõ ràng hơn, trong Logische Untersuchung, Husserl phân biệt hai loại trực giác (Anschaungen). Loại thứ nhất thấy trong cảm giác, hay trong thế giới cảm quan. Thế nên, các nhà hiện tượng học cũng gọi loại trực kiến này dưới nhiều tên khác nhau như "kinh nghiệm bản chất" (Wesenserfahrung), hay "trực kiến bản chất" (Wesenseinsicht). Nhưng trong toán học và logic học, loại này không giúp gì hơn trừ việc nhận ra hình dạng, hay hình thể. Tiến xa hơn, để trực giác ra số lượng (number) hay những quan niệm như "đồng nhất", "tương xứng", "hơn", "kém", "cộng", trừ, "nhân", "chia" thì loại trực giác dựa trên cảm quan không thể giúp gì hơn. Ðể nhận ra chúng, ta cần một loại trực kiến khác mà Husserl cũng có khi gọi là "nhận thức bản chất" (Wesenserkenntnis). Theo nghĩa này, trực kiến (thấy một cách trực tiếp) được chính bản chất là loại trực giác thứ hai không dựa vào cảm giác (non sensuous intuiting) mà Husserl cũng gọi là "trực giác phạm trù" (kategoriale Anschauung), mà chúng tôi muốn bàn tới nơi đây. Lối trực kiến thứ hai đòi buộc ta phải đi từ bản chất cá biệt tới những bản chất chung qua những giai đoạn sau: (1) Trước hết ta phải tìm ra những hiện tượng cá biệt nhưng xuất hiện theo một loạt liên tục dựa trên một trật tự được thấy nơi những dạng đồng tính của chúng. (2) Thứ tới, ta phải quan sát những loạt xuất hiện này, đặc biệt những đặc tính của chúng, để tìm ra một điểm chung (điểm tựa) mà những hiện tượng này dựa vào, hay tác động trên những hiện tượng. (3) Thứ ba, ta phải nhận ra sự tương quan bất khả phân giữa bản chất cá biệt và bản chất chung: ta không thể nhìn ra bản chất chung nếu không nhận ra bản chất cá biệt; và ngược lại, ta cũng không thể trực kiến được cái bản chất cá biệt nếu không thấy được cái bản chất chung.

Ðể độc giả nhận ra tính chất trực kiến trên, chúng tôi xin lấy ví dụ của việc trực kiến ra cái sức lực (force). (1) Khi quan sát các hiện tượng như cuồng phong, nhà sập, cây đổ, gió mạnh, siêu vẹo... ta nhận thấy tất cả những hiện tượng trên xẩy ra theo một trật tự trước sau, liên tục, và mang những hình thức chung. Gió thổi, cây động; gió thổi mạnh hơn, cây lắc lư nhanh hơn, và góc độ rộng hơn; gíó gia tăng gấp bao nhiêu lần gió thường, thì cây cối cũng nghiêng ngửa theo một tương xứng (proportion) như vậy. Thế nên, khi thấy cây cối nghiêng ngửa, nhà cửa siêu vẹo, ta biết sức gíó khá mạnh; cây đổ, nhà sập, sức gió rất mạnh. Ta lại quan sát những hiện tượng khác, cũng bị gió thổi như vậy, thí dụ thuyền trên biển, hay vật nổi trên sông... và cũng nhìn ra một loạt, một trật tự tương tự: gió thổi mạnh, sóng nổi lớn hơn, con thuyền bị đẩy mất cân bằng, con thuyền bị lật đổ, vân vân. Những quan sát này cho ta thấy một trật tự trước sau, những sự việc xẩy ra tương tự, và những kết qủa tương tự. (2) Ta tiếp tục quan sát sự đổ vỡ và nhận ra sự tương quan giữa sức gió, sức đối kháng của vật thể, thời điểm, không gian, vân vân. Ta nhìn ra, khi gió mạnh hơn sức đối kháng của vật thể, vào một thời điểm và tại một không gian nào đó, gió sẽ "trở thành" cái mà ta gọi là phong ba, bão táp hay cuồng phong. Vậy thì chính cái cuồng phong này tạo ra những hiện tượng sau. (3) Từ đây, ta có thể nói, sự đổ vỡ là do cuồng phong, và có cuồng phong, thì tất phải có đổ vỡ. Trong trí óc của chúng ta sẽ làm việc một cách trực tính như sau: nghe phát thanh sẽ có cơn bão tại vùng Trường Sa, ta nghĩ ngay tới cuồng phong, tới miền Trung bộ; và ta đã trực tiếp nhìn ra hậu qủa của cơn bão táp đó tức những đổ vỡ, tai hại (nhà sập, cây đổ, nước cuốn, thuyền lật, nhiều nạn nhân...) ở nơi này, ngay cả khi ta không có ở đấy, và ngay cả khi bão chưa xẩy ra.

Nói tóm lại, nhìn ra bản chất chung là một trực kiến, hay một lối nhìn tuy qua kinh nghiệm, nhưng trực tiếp mà không cần phải qua gia đoạn phân tích hay tổng hợp như trường hợp nhận thức qua kinh nghiệm. Hay nói đúng hơn nó cũng qua nhiều giai đoạn như phân tích và diễn tả, và rất khó phân biệt với giai đoạn một mà chúng tôi đã trình bày ở trên, nhưng với một tốc tộ chớp nhoáng nên cho chúng ta cái cảm tưởng như nó hiện hữu một cách tiên thiên. Một tri thức như vậy đã từng được Kant chứng minh. Chính vì vậy mà, nếu xét cho kỹ, trực tính khác biệt với giai đoạn nhận thức qua kinh nghiệm ở chỗ, nó mang tính chất tiên nghiệm, và chỉ những người quan sát kỹ càng, tức những người đã có kinh nghiệm sống với nó, mới có thể có khả năng này một cách dễ dàng. Ðây là trường hợp những thiền sư tập thiền dễ ngộ đạo hay đắc đạo hơn người thường. Ðây cũng là trường hợp nơi giới khoa học, nghệ sĩ, sử gia... Họ là những người có khả năng nhìn ra bản chất chung của hiện tượng họ từng quan sát, từng có kinh nghiệm... một cách dễ dàng. Nói theo ngôn ngữ thường tình, họ có một trực tính hơn những người thường, nhưng chỉ trong cái lãnh vực của họ (tức cuộc sống, kinh nghiệm mà họ sống mỗi ngày).

2.3. Phương Thế Giúp Ta Nhận Ra được Mối Tương Quan Bản Chất (Apprehending Essential Relationship)

Vậy thì, như chúng ta đã nhận ra, một sự vật, một sự kiện... bao gồm nhiều bản chất. Ðiểm quan trọng thứ nhất mà chúng ta phải chú ý, đó là chỉ khi nào mà những bản chất này có liên quan mật thiết với nhau, chúng mới có thể tạo ra cái toàn thể. Ðiểm quan trọng thứ hai là, sự tương quan của chúng theo một quy luật của tương quan, tức chỉ khi nào các hiện tượng xảy ra theo quy luật này, nó mới xuất hiện như là vật thể mà chúng ta thấy và hiểu. Nói tóm lại, chỉ khi nắm vững được hai điểm trên, chúng ta mới hiểu được sự vật hay hiện tượng. Trong phần này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến phương pháp hiện tượng học, làm thế nào để nhận ra mối tương quan giữa các bản chất, và làm thế nào để thấy được quy luật liên kết giữa chúng.

Khi phân tích một vật thể, ta thường phân nó ra thành nhiều bộ phận. Lối nhìn bản chất hiện tượng không hẳn như vậy, mà đòi hỏi hơn thế nữa. Nó đòi hỏi (1) một sự khám phá ra những sự tương quan mật thiết, hay những mối liên kết dẫn ta nhận ra được những bản chất (Wesenszusammenhaenge), và (2) một sự nhận biết được quy luật tương quan. Về sự tương quan bản chất, ta lại nhận thấy hai dạng: (1) những tương quan bản chất này xẩy ra trong một bản chất mà thôi, và (2) những� tương quan giữa nhiều bản chất. [56]

2.3.1. Tương Quan trong Một Bản Chất

Trong một bản chất, sự tương quan chỉ là tương quan giữa các bộ phận. Thế nên, điểm đầu tiên khi quan sát sự vật, ta có thể nhìn ra những bộ phận của nó, và sự thiết yếu của các bộ phận ấy chăng. Thí dụ, khi nhìn một hình tam giác, ta có thể thấy được các góc, các đường thẳng, sự nối kết giửa 3 đường thẳng hay không? Sau đó ta đặt câu hỏi, một hình tam giác có thể chỉ cần hai góc, hay hai đường thẳng mà vẫn có thể mang hình tam giác hay không? Tương tự, ta cũng có thể thêm một góc, một đường thẳng vào mà nó vẫn là tam giác? Khi đặt ra những câu hỏi trên, ta nhận ra cái khả thể (possibility), hay bất khả thể (impossibility) của vật thể, cũng như tính chất tất yếu (necessity) và ấu ngẫu (contigency) của nó. Nếu chỉ có 2 đường, hay hai góc, nó không thể là tam giác. Nếu có 4 góc, nó không thể là tam giác (impossibility), mà phải là tứ giác (necessity). Vậy thì, 3 góc, 3 đường thẳng là những điều kiện (hay yếu tính) tất yếu của hình tam giác. Nếu thiếu một, hay thêm một, nó không còn là hình tam giác.

Husserl đưa ra một phương pháp giúp chúng ta nhận ra được tính chất tất yếu (ấu ngẫu) hay khả thể (bất khả thể) của sự tương quan bản chất. Triết gia đề nghị lối "tưởng tượng biến hóa tự do" (frei Variation in der Phantasie). Lối này bao gồm hai phần: (1) tưởng tượng vất bỏ bộ phận (hay nhiều bộ phận) nào đó, và (2) thay một bộ phận khác vào vật thể. Ta thử làm một cuộc thí nghiệm với thí dụ hình tam giác nói trên.

Ta thử tưởng tượng bỏ đi một đường, hay một góc. Thay vì là hình tam giác, ta thấy hai đường nối kết nhau không tạo ra một hình ảnh toàn vẹn. Và nó chỉ còn lại một góc, mà tùy theo độ co dãn, có thể là 30 độ, 45 độ, 90 độ, vân vân. Nếu dãn ra tới 180 độ, nó biến hành một đường thẳng. Ta lại tưởng tượng cho thêm một góc, hay hai góc vào hình tam giác. Ta thấy, nó hoàn toàn biến thể thành hình tứ giác hay ngũ giác. Thí nghiệm trên cho ta những kết qủa sau: (1) Hoặc là bản chất (và kết cấu) của nó không biến đổi hay biến đổi tùy theo việc giữ lại các thành phần, hay bỏ đi một số thành phần (omission), hay thêm vào thành phần mới (addition), hay thay đổi một thành phần nào đó (substitution). (2) Với sự biến đối, bản chất và kết cấu của vật thể cũng biến đổi theo. (3) Trong trường hợp biến đổi thái qúa, nó không chỉ ảnh hưởng tới kết cấu, mà còn thay đổi chính bản chất (explode the whole essence), bởi lẽ những bộ phận của nó hoàn toàn không liên kết với nhau được. Thí dụ ta không thể tưởng tượng một con người không có đầu, có tay, có chân; cũng như một con người có thân xác mà lại không có đầu, có chân, có tay, có thân mình; hay mội người với 1 trăm cái đầu, với đuôi thật dài, mắt ở giữa bụng, vân vân. Những kết qủa trên cho chúng ta thấy rằng, những tương quan giữa các bộ phận trong một bản chất (giống như toán học của Euclide) phải mang ba tính chất (hay theo ba điều kiện): khả thể tính, tất yếu tính một cách tương đối, và tất yếu tính tuyệt đối.

Trực giác dựa vào những kết qủa từ phương pháp tưởng tượng biến hóa tự do được Husserl gọi là một "nội kiến bản chất" (Wesenseinsichten, hay essential insights). Nội kiến bản chất khác với lối phân tích của Descartes, bởi lẽ những nội kiến này chỉ ra sự vật chứ không phải là những từ ngữ (terms) hay quan niệm (concepts) như thấy trong luận lý học (logic). Những nội kiến này giúp ta phát hiện những mối liên hệ (nexus) giữa chúng qua việc phát hiện tất yếu tính (hay ấu ngẫu tính), khả thể tính (hay bất khả thể tính). Và như vậy, chúng mang tính chất tri thức "tổng hợp" (synthetic knowledge) hơn là phân tích (analytic). [57]

2.3.2. Tương Quan Giữa Các Bản Chất

Cũng dựa vào phương pháp tưởng tượng biến hóa tự do, ta có thể nhận ra được những đặc tính (điều kiện) tương tự như thấy trong tương quan trong một bản chất: khả thể tính (bất khả thể tính), tất yếu tính (ấu ngẫu tính), và tương hợp tính (compatibility) (hay bất hợp tính, incompatibility). Ta thử liên kết một bản chất (cố định) vào với một bản chất khác, rồi thay bản chất thứ hai này với những bản chất khác nữa, ta sẽ nhận ra có những đặc tính: (1) khả biến, hay bất khả biến, (2) khả thể hay bất khả thể, (3) tất yếu hay ấu ngẫu, (4) tương quan hay cô lập, vân vân. Ta lại thử bằng cách khác. Ta loại bỏ một bản chất nào đó, rồi thay vào với một bản chất khác. Thí nghiệm sau cho ta thấy cũng có những kết qủa tương tự. Như vậy ta có thể nói: (1) Nếu khi thêm vào, hay thay thế, hay loại bỏ một bản chất nào đó, ta thấy hình thành một hình ảnh mới. Vậy nên, ta có thể nói, các bản chất mà ta kết hợp có thể hoà hợp với nhau (compatible). Ngược lại, nếu chúng mâu thuẫn, chống đối nhau (incompatible), ta không thể có một hình ảnh mới. (2) Nếu không thêm vào, hay nếu khi tạm loại bỏ một bản chất, vật thể biến dạng, hay mất ý nghĩa, ta có thể nhận ra được tất yếu tính hay ngẫu tính của bản chất đó. Lấy một thí dụ về mầu sắc (color). Ta chỉ có thể nhận ra được mầu sắc (đỏ, đen...) nếu bản chất mầu sắc (essence color) gắn liền với bản chất của một vật thể, tức qua một sự quảng diễn (extension). Do vậy, ta chỉ có thể nhận ra mầu sắc khi thấy nó ở trên hay gắn liền với vật thể (chiếc xe đen, tòa nhà trắng, con chó vàng, người da trắng, vân vân). Mầ�u sắc gắn chặt với vật thể, và xuất hiện trên vật thể (điều mà Descartes gọi là sự quảng diễn không gian, extension). Thí dụ về bản chất mầu sắc và vật thể nói lên tính chất tất yếu của sự liên quan giữa hai bản chất. Nó cũng chứng tỏ rằng, sự tương quan giữa các bản chất không nhất thiết tương xứng (symmetrical). Ðiểm chính yếu vẫn là chỉ qua những tương quan giữa những bản chất ta mới có thể nhận ra được cái bản tính tất yếu của bản chất chính là sự tương quan này.

Trong sự tương quan giữa các bản chất, ta thấy tri thức (và cả nhận thức) của chúng ta tăng dần theo lối tổng hợp. Sự tổng hợp này được thấy qua sự tương quan hòa hợp và bổ túc (jointly and complementary) giữa các bản chất. Thí dụ về mầu sắc cho ta thấy, bản chất của mầu sắc không thể tách rời khỏi bản chất của quảng diễn, của vật thể, tuy rằng mỗi bản chất tự nó có thể tương hợp với các bản chất khác. Thí dụ một vật thể có thể "vô thanh, vô sú, vô hình" (tức không âm thanh, không mùi vị, không mang hình dạng nào), nhưng màu sắc không thể nhận ra nếu không gắn liền với vật thể. Thứ tới, sự tổng hợp giữa các bản chất không theo mẫu tổng hợp toán học, tức tổng số của các đơn vị. Tổng hợp bản chất đưa ta đến một bản chất khác, rộng hơn, toàn vẹn hơn, trong khi tổng hợp toán học dẫn tới một đơn vị đồng chất nhưng lượng lớn hơn mà thôi. Thí dụ một cộng một là hai (1+1 = 2) trong toán học, trong khi tổng hợp giữa bản chất mầu sắc và bản chất quảng diễn khiến ta nhận ra được bản chất tất yếu của mầu sắc luôn gắn liền với vật thể. Ta có: một bàn đen, một xe đỏ, một bộ cánh trắng, vân vân. Nơi đây, khó có thể dùng công thức toán học để diễn tả lối tổng hợp bản chất này.

Xem tiếp phần sau

Trần Văn Ðoàn

ÐH Khoa Học Kỹ Thuật Hoa Trung,

Vũ Hán, Trung Quốc, 07. 2004