Ý THỨC HỆ ĐỘC ĐOÁN CỦA CHỦ NGHĨA MARX ĐỐI VỚI NGHỆ THUẬT Thương mại nghệ thuật chống Nghệ thuật thương mại…
Thương mại nghệ thuật chống Nghệ thuật thương mại
Trong Một góc nhìn của tri thức (tập hai)[1], Nguyễn Bình Quân đã đặt ra một vấn đề tồn tại hơn 20 năm đối với thị trường nghệ thuật Việt Nam: nghệ thuật thương mại là kẻ thù số một của thương mại nghệ thuật hay tự do nghệ thuật. Theo tác giả, nghệ thuật thương mại là một dạng nô lệ tự nguyện của thương mại nghệ thuật:
"Nó là những tác phẩm nghệ thuật không cá tính, a dua, rởm, nhái lại những gì bán chạy. Điều kỳ lạ là nghệ thuật thương mại lại chỉ phục vụ thương mại nghệ thuật, đánh mất mục đích nguyên thủy của nghệ thuật: tạo ra cái đẹp nhân bản."
Tác giả nhấn mạnh rằng cái đẹp nhân bản phải có vai trò "làm đẹp cuộc sống, mang lại niềm vui cho con người, xây dựng nhân cách". Do đó, thương mại nghệ thuật, với bản chất của các cá nhân tự do, không thể chấp nhận những kẻ nô lệ tự nguyện này về lâu dài.
Ngoài ra, ông cũng chỉ ra rằng hệ thống bao cấp quá nặng nề là nguyên nhân chính khiến nghệ thuật trong nước trì trệ, đồng thời làm mất đi các chuyên gia trong những lĩnh vực khác nhau của thương mại nghệ thuật:
"Bao cấp là cực tốt cho nghệ thuật cung đình, tuyên truyền và giáo dục độc đoán."
Thực tế, tại các nước có nền kinh tế bao cấp, nghệ thuật thường bị kiểm soát chặt chẽ bởi nhà nước, phục vụ cho mục đích tuyên truyền thay vì sáng tạo tự do. Ví dụ, Liên Xô đã đặt ra quy chuẩn "Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa", trong đó nghệ thuật phải phản ánh tư tưởng cách mạng và đề cao tinh thần tập thể. Điều này đã tạo ra một môi trường mà nghệ sĩ không thể tự do sáng tác theo cảm hứng cá nhân, mà phải tuân theo định hướng chính trị.
Tư hữu, cách mạng và nghệ thuật
Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844[2], Karl Marx lập luận rằng sở hữu tư nhân không chỉ là kết quả của lao động bị tha hóa mà còn là nguyên nhân của nó. Lao động bị tha hóa khiến con người xa lạ với sản phẩm do chính mình tạo ra, với quá trình lao động, với đồng loại và chính bản thân mình. Vì thế, theo Marx, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân chính là cách để giải phóng con người khỏi sự tha hóa:
"Bãi bỏ tư hữu là giải phóng con người khỏi sự tha hóa."
Tuy nhiên, có một nghịch lý: bạn không thể vừa ủng hộ một thị trường nghệ thuật "công bằng" vừa sử dụng lý luận Marxist để phê phán nó. Đối với Adorno, khi chỉ trích thương mại nghệ thuật, ông tỏ ra bi quan khi cho rằng ý thức hệ tư sản đã ăn sâu vào tư tưởng người dân, khiến "ý thức giai cấp" không thể thức tỉnh, và do đó, bạo lực cách mạng – thứ mà nhiều nhà Marxist mong muốn – đã không xảy ra ở Mỹ hay phương Tây.
Nhìn vào thực tế lịch sử, liệu có quốc gia Marxist nào cho phép "thị trường nghệ thuật công bằng" tồn tại? Từ Liên Xô, Trung Quốc đến các quốc gia phương Tây, không có trường hợp nào như vậy. Một số ví dụ cho thấy sự kiểm soát nghệ thuật và tư tưởng trong các nhà nước, nhà tư tưởng Marxist:
Lênin (1922) giao cho Stalin nhiệm vụ “đào tận gốc, trốc tận rễ tất cả bọn cách mạng xã hội… Tống khứ tất cả bọn chúng khỏi nước Nga.” Hậu quả là hàng trăm nhà kinh tế học, triết học, nhà khoa học bị bắt và buộc phải lưu vong, hơn 1.500 người chết trong tù. Việc Lênin ra lệnh trục xuất các trí thức phi Bolshevik khỏi Liên Xô. Được biết đến với tên gọi "Tàu Triết học" (Philosophers' Ships), các trí thức nổi bật như Nikolai Berdyaev, Semyon Frank đã bị đày sang Tây Âu. Số người chết trong tù nhiều vô số kể.[3]György Lukács, nhà tư tưởng Marxist, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát văn hóa Hungary thời cộng sản. Claudio Mutti nói rằng Lukács là thành viên của ủy ban đảng chịu trách nhiệm lập danh sách các tác phẩm "phản dân chủ" và "bất thường" về mặt xã hội. Danh sách này (gồm ba phần, tổng cộng 160 trang) đã dẫn đến việc nhiều tác giả bị cấm xuất bản và bị trừng phạt bởi chế độ.[4]Herbert Marcuse, trong Phê phán lòng khoan dung thuần túy, lập luận rằng xã hội tư bản không nên được hưởng quyền tự do ngôn luận tuyệt đối, mà phải có sự kiểm soát để đảm bảo "tiến bộ xã hội". Điều này thể hiện tư tưởng độc đoán, trong đó tự do nghệ thuật có thể bị hạn chế vì lý do chính trị.[5] Ông kết luận rằng một loại khoan dung mới là cần thiết- khoan dung với cánh Tả, khoan dung với sự lật đổ, khoan dung với bạo lực cách mạng, nhưng bất khoan dung với cánh Hữu, bất khoan dung với các thể chế đang tồn hữu, bất khoan dung với bất kỳ thứ gì chống lại chủ nghĩa xã hộiTrong khi Albert Camus tuyên bố: “Không có tự do, không có nghệ thuật”, Jean-Paul Sartre lại ủng hộ Liên Xô và chê trách giai cấp vô sản ở Pháp vì "chưa đủ vô sản". Điều này cho thấy sự phân hóa trong nội bộ trí thức cánh tả khi đối diện với thực tế của chủ nghĩa cộng sản.[6]Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc (1966-1976) hay thập kỷ mất mát là một giai đoạn đàn áp mạnh mẽ đối với nghệ thuật và trí thức. Các nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ bị kết tội "tư sản" và bị hành quyết hoặc gửi đi lao động cải tạo.[7]Đa số các nhà mác-xít không ủng hộ thị trường nghệ thuật tự do hoặc nếu có, thì chỉ xem nó như một phương tiện để đánh thức ý thức hệ giai cấp, để làm cách mạng lật đổ.[8] Trong khi đó, con người có nhiều thời gian nhàn rỗi, ít làm việc, nhu cầu giải trí tăng cao là những lợi ích của thị trường tự do cũng như chủ nghĩa tư bản mà các nhà marxist vẫn tin rằng việc con người nhàn rỗi, dành nhiều thời gian cho nghệ thuật, đòi hỏi nhu cầu giải trí lại là sự thao túng của các tập đoàn lớn, rằng ý thức người dân tệ đến mức không biết tẩy chay các bộ phim dở”
CÁC TẬP ĐOÀN THAO TÚNG HAY THUYẾT ÂM MƯU HOANG TƯỞNG?
Một số người cho rằng các tập đoàn tư bản đã thao túng thương mại nghệ thuật, biến nghệ thuật thành công cụ phục vụ lợi nhuận thay vì giá trị thẩm mỹ. Đây là một phiên bản của thuyết âm mưu về xã hội mà Karl Popper đã phê phán trong Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Theo Popper, thuyết âm mưu là một cách hiểu sai lầm về lịch sử, vì nó giả định rằng một nhóm quyền lực bí ẩn có thể kiểm soát mọi thứ theo một kế hoạch có chủ đích. Ông cho rằng thuyết âm mưu thường xuất phát từ sự hiểu lầm về cách các thiết chế xã hội hoạt động. Những người tin vào thuyết này thường gán mọi vấn đề của xã hội cho một nhóm cá nhân hay tổ chức có quyền lực thay vì xem xét các cơ chế khách quan và sự tương tác giữa nhiều yếu tố. Họ quên mất rằng ngay cả những nhóm quyền lực nhất cũng không thể kiểm soát toàn bộ xã hội một cách chặt chẽ như họ tưởng tượng..
Thị trường nghệ thuật không phải là một hệ thống tập trung mà có thể bị thao túng dễ dàng. Nó bao gồm nhiều tác nhân khác nhau: nghệ sĩ, nhà sưu tập, phòng trưng bày, nhà đấu giá, viện bảo tàng, quỹ đầu tư... Không một tập đoàn nào có thể kiểm soát tất cả những thành phần này. Hơn nữa, nghệ thuật luôn có yếu tố ngẫu nhiên và chủ quan: không ai có thể "lập trình" được thị hiếu của công chúng hay giá trị lâu dài của một tác phẩm.
Nếu các tập đoàn tư bản thực sự kiểm soát nghệ thuật, tại sao vẫn tồn tại những phong trào như Dada, Surrealism hay Street Art—những dòng chảy phản kháng mạnh mẽ? Nếu nghệ thuật hoàn toàn bị thao túng, làm sao Banksy hay Ai Weiwei có thể trở thành những biểu tượng toàn cầu mà không cần sự chống lưng của bất kỳ tập đoàn nào?
Việc thương mại hóa nghệ thuật không đồng nghĩa với việc nghệ thuật bị hủy hoại. Ngay cả Michelangelo hay Rembrandt cũng từng làm việc theo đơn đặt hàng. Giá trị của nghệ thuật không bị quyết định bởi việc nó có sinh lợi hay không, mà bởi chính sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự công nhận của xã hội qua thời gian.
Popper cũng cảnh báo rằng việc tin vào thuyết âm mưu có thể dẫn đến chủ nghĩa độc đoán. Khi người ta tin rằng một nhóm thiểu số đang bí mật kiểm soát mọi thứ, họ có thể biện minh cho những hành động cực đoan để "tiêu diệt" kẻ thù tưởng tượng, và điều đó thường dẫn đến chế độ toàn trị, nơi quyền lực tập trung hơn bao giờ hết. Đây vốn là phần lớn những gì đã xảy ra ở các cuộc Cách mạng văn hóa và biện minh cho việc sử dụng bao lực cách mạng.
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT VÀ MARXDù Marx từng cho rằng bạo lực cách mạng là tất yếu, nhưng về sau, ông đã có phần hối hận trước những hệ lụy mà tư tưởng của mình gây ra. Ông từng nói:
“Điều chắc chắn là tôi không phải là một người Marxist.”
Câu nói này thể hiện sự bất mãn của Marx đối với những người tự nhận là "Marxist" nhưng lại diễn giải học thuyết của ông theo cách cực đoan, đặc biệt là việc họ ca tụng bạo lực cách mạng một cách mù quáng. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi xét đến quan điểm của ông về giáo dục và nghệ thuật.
Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Marx đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục nghệ thuật trong việc phát triển con người toàn diện:
“Nếu anh muốn hưởng thụ nghệ thuật, thì anh phải được giáo dục về nghệ thuật. Nếu anh muốn ảnh hưởng đến người khác, anh phải thực sự kích thích và thúc đẩy họ. Mối quan hệ của anh với con người và tự nhiên phải là biểu hiện xác định của đời sống cá nhân. Nếu anh yêu mà không được yêu lại, nếu tình yêu của anh không nhen lên được tình yêu đáp lại, thì tình yêu đó là bất lực, và đó là một sự bất hạnh.”
Marx không chỉ coi nghệ thuật là một hình thức sáng tạo, mà còn là một cách con người thể hiện bản thân trong mối quan hệ với người khác và với thế giới xung quanh.
Trong Bốn bài giảng về Mỹ học của Lý Trạch Hậu, Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất tư tưởng nhân văn của Marx, trong đó ông coi lao động không chỉ là phương tiện sản xuất mà còn là sự sáng tạo tự do, là một hình thức biểu đạt bản chất con người. Mỹ học, theo Marx, không chỉ là vấn đề của nghệ thuật mà còn là vấn đề của đời sống. Đó là lý do Marx nhấn mạnh: để hiểu và thưởng thức nghệ thuật, con người cần được giáo dục nghệ thuật.
Lý Trạch Hậu cũng chỉ ra rằng, trong khi các hệ tư tưởng Marxist chính thống thường nhấn mạnh đến "chủ nghĩa hiện thực xã hội" và xem nghệ thuật như một công cụ tuyên truyền, thì bản thân Marx lại có một quan điểm rộng mở hơn. Ông không phủ nhận vai trò của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực xã hội, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh rằng nghệ thuật là một phần của nhu cầu tinh thần, là một sự thăng hoa của con người, không thể bị giản lược thành một công cụ chính trị đơn thuần.
Hơn nữa, Lý Trạch Hậu cho rằng chính sự giáo điều hóa tư tưởng của Marx trong thế kỷ 20 đã khiến nhiều nền nghệ thuật bị bóp nghẹt. Ông chỉ trích cách tiếp cận cứng nhắc của chủ nghĩa Marx-Lenin trong lĩnh vực nghệ thuật và nhấn mạnh rằng một xã hội phát triển không thể thiếu sự tự do trong sáng tạo và giáo dục nghệ thuật.
Marx-Leninism mặc dù cứng nhắc nhưng ta đừng quên các triết gia mác-xít phương Tây như Lukas mặc dù phê phán Liên Xô độc đoán nhưng khi có quyền lực trong tay lại cũng tỏ ra độc đoán không kém.
Cr: Nyxar