Giải Thích Bộ Giáo Luật - Quyển I: Những Qui Tắc Tổng Quát - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. (P1)

Quyển I có tựa đề : “Những qui tắc tổng quát”, gồm 203 điều đề cập đến những qui tắc căn bản để có thể hiểu các từ ngữ pháp lý, cách thức giải thích và áp dụng.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

QUYỂN I: NHỮNG QUI TẮC TỔNG QUÁT

---***---

MỤC I: DẪN NHẬP

Quyển I có tựa đề : “Những qui tắc tổng quát”, gồm 203 điều đề cập đến những qui tắc căn bản để có thể hiểu các từ ngữ pháp lý, cách thức giải thích và áp dụng.

Trước hết là 6 điều dẫn nhập, không có tựa đề, bàn về phạm vi áp dụng của bộ luật này, xét về đối tượng và xét về thời gian.

Tiếp đến, là 11 tiết, bắt đầu từ điều 7, đưa ra những luật lệ chung cho tất cả các tín hữu Kitô, đồng thời nêu rõ chủ đề pháp lý về các quyền lợi và vác bổn phận của họ, dầu đoàn sủng và trách nhiệm của họ là gì trong Giáo hội.

Nhìn qua, quyển I vẫn giữ nhan đề và vẻ chuyên môn của bộ luật cũ, nên xem ra không khác quyển I của bộ luật cũ nhiều lắm, trừ ra con số gia tăng các điều luật, từ 86 điều lên tới 203 điều, và trừ vài thay đổi về nhan đề và đề tài được bàn tới.

Tuy nhiên, bộ luật 1983 đã mang lại một sự đổi mới quan trọng trong việc phân biệt rõ ràng giữa các qui tắc lập pháp (luật, tục lệ, các sắc lệnh tổng quát có tính lập pháp) và những qui tắc hành pháp có tính tổng quát như các sắc lệnh hành pháp, các huấn thị, hoặc có tính đặc thù như những hành vi hành chánh của Tiết IV.

Sự phân biệt này không những có tầm quan trọng lý thuyết, mang lại một sự minh bạch pháp lý lớn hơn và thừa nhận sự hiện hữu của một quyền bính hành chánh, nhưng nó còn có một tầm quan trọng trong thực hành. Quả vậy, một số “luật” không thể ngày nào cũng được công bố; trái lại, chẳng hạn như các tòa của giáo phận được chỉ định để hành sử quyền hành pháp một cách thường xuyên.

***

MỤC II NHỮNG ĐIỀU MỞ ĐẦU

Đây là 6 điều đầu tiên. 6 điều này không có tựa đề riêng, và liên quan đến toàn thể bộ luật.

1. Bộ luật của Giáo hội La tinh

Bộ Giáo luật 1983 là bộ luật của Giáo hội La tinh (đ 1), tức là tất cả những điều trong bộ luật này chỉ liên quan tới hay chỉ chi phối đối với Giáo hội La tinh, gồm tất cả các tín hữu trực tiếp vâng phục Đức Giáo hoàng Rôma, là Thượng phụ Giáo chủ Tây phương. Do đó những điều luật này không áp dụng cho các người Công giáo Đông phương. Như vậy, trong Giáo hội Công giáo có 2 bộ luật : một dành cho giáo hội La tinh và một dành cho Giáo hội Đông phương.

2. Giáo luật và phụng vụ

Bộ Giáo luật không đề cập đến các luật phụng vụ (đ 2) Cần phân biệt 2 khía cạnh:

a. Khía cạnh pháp lý : về bổn phận và quyền lợi của các thừa tác viên và những người tham dự.

b. Khía cạnh những nghi thức cử hành : là những qui luật phụng vụ.

Bộ Giáo luật chỉ chú trọng đến khía cạnh pháp lý của việc cử hành phụng vụ chứ không đi sâu vào cách thức cử hành, được mô tả trong các sách phụng vụ.

Trong trường hợp có mâu thuẫn hay trái ngược giữa một qui tắc có tính kỷ luật, được ghi trong các văn kiện và các sách phụng vụ có trước bộ luật này, thì điều khoản của bộ luật này sẽ thắng, tức là phải tuân giữ sự qui định của bộ luật này.

3. Giáo luật và hiệp ước nhà nước

Bộ Giáo luật không ảnh hưởng gì tới các hiệp ước đã ký kết giữa Tòa thánh với các quốc gia hay các xã hội chính trị khác (đ 3) Do đó, các hiệp ước ấy vẫn giữ nguyên hiệu lực, tức là vẫn tiếp tục hiện hành như trước, kể cả những gì mà bộ Giáo luật qui định ngược lại.

“Các xã hội chính trị khác” là gì? nghĩa là Tòa thánh không những duy trì liên lạc với các quốc gia, nhưng còn với Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của tổ chức này.

Trong cuốn Niên giám của Tòa thánh, chúng ta thấy Tòa thánh đặt liên lạc ngoại giao không những nơi các quốc gia, mà còn nơi các tổ chức quốc tế có tính chất chính phủ như UN (Liên Hiệp Quốc), FAO (Lương Nông Quốc Tế), UNESCO (Tổ Chức Liên Hiệp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa); và các tổ chức quốc tế không có tính chất chính phủ, như các ủy ban về sử học, cổ học, nghệ thuật, các khoa học nhân bản, các khoa học về nhân chủng, v.v… rồi chúng ta thấy danh sách các cơ quan ngoại giao bên cạnh Tòa thánh.

4. Giáo luật và những đặc ân

Các quyền lợi đã thủ đắc cũng như các đặc ân do Tòa thánh thuận cho các thể nhân hay pháp nhân cho tới hôm nay vẫn còn hiệu lực (đ 4), tức là chưa bị thu hồi hay rút lại thì vẫn còn giá trị, trừ khi những điều của bộ luật này rõ ràng thu hồi hay rút lại.

- Quyền lợi thủ đắc, nghĩa là ai tuân thủ luật pháp sẽ đạt được những hiệu quả của điều luật đó. Vì vậy, các hiệu quả này là những quyền lợi thủ đắc do việc tuân thủ luật pháp, và các quyền lợi này sẽ tồn tại theo qui định của luật pháp.

- Luật lệ bao giờ cũng có tính “hướng về tương lai”. Do đó, luật mới không chi phối quá khứ, như điều 9 nói : “Luật không có tính hồi tố”. Đó là cái được gọi là “tính bất hồi tố” của luật pháp.

Như vậy, bộ Giáo luật thừa nhận các quyền lợi thủ đắc hay các đặc ân khi đặt ra nguyên tắc tổng quát : các quyền lợi đó sẽ còn y nguyên. Nhưng cũng nêu ra nguyên tắc ngoại trừ : “Trừ khi có sự rút lại tỏ tường do các điều của bộ luật này”.

5. Giáo luật và tục lệ

Các tục lệ phổ quát hay đặc lập hiện còn hiệu lực mà nghịch với bộ luật này, nguyên tắc là tất cả các tục lệ đó phải bãi bỏ (đ 5 §1). Nhưng sự áp dụng có nhiều cách khác nhau :

a. Các tục lệ bị bộ luật này phi bác thì phải bãi bỏ và không được phép khôi phục nữa. Thí dụ : - điều 423 §1 : không được có nhiều giám quản giáo phận. - điều 526 §2 : không được có nhiều linh mục chính xứ trong một giáo xứ.

b. Các tục lệ có trước bộ luật này và nghịch với một điều của bộ luật này, nếu không bị bãi bỏ thì cũng bị coi như bãi bỏ, trừ khi chính luật cho phép duy trì. Thí dụ : đối với tài sản của Giáo hội, điều 1263 nói : “Vẫn giữ nguyên những lề luật và tục lệ riêng đã dành cho ngài (giám mục giáo phận) quyền rộng lớn hơn”. Hoặc tục lệ đã có hằng trăm năm hay lâu đời và được vị thường quyền làm thinh.

c. Các tục lệ có trước bộ luật này ở ngoài luật, tức là tục lệ ngoại luật, thì được duy trì (đ 5 §2).

Tục lệ ngoại luật đi xa hơn luật, khi nó bổ sung cho sự im lặng của luật hoặc đưa ra một điều không mâu thuẫn với luật, luật hiện nay và luật trước kia.

Thí dụ : điều 1279 : việc quản trị tài sản thuộc quyền người có trách nhiệm trực tiếp đối với người có tài sản ấy, trừ khi tục lệ hợp pháp ấn định thể khác.

6. Giáo luật và các thứ luật khác

Khi bộ Giáo luật 1983 bắt đầu có hiệu lực (27.11.1983), những luật sau đây bị bãi bỏ (đ 6 §1) :

+ Toàn thể bộ Giáo luật ban hành năm 1917.

+ Các luật phổ quát hay đặc lập, trái với các điều của bộ luật này, trừ khi có quyết định khác tỏ tường liên quan đến các luật địa phương.

Như vậy, bãi bỏ nền pháp chế trước bộ luật này, hoặc của bộ Giáo luật 1917 hoặc nền pháp chế giữa 1917 và 1983 với rất nhiều văn kiện, nhất là từ sau công đồng Vaticanô II với mục đích áp dụng những quyết định của công đồng.

+ Tất cả các hình luật phổ quát hay đặc lập của Tòa thánh ban ra, trừ khi chúng được lấy lại trong bộ luật này.

+ Tất cả những luật phổ quát về kỷ luật liên quan tới một vấn đề đã được bộ luật mới hoàn toàn chỉnh đốn lại. Tức là các luật có tính kỷ luật, được coi là bị bãi bỏ và được tổ chức lại trong bộ luật mới.

Thí dụ : sau công đồng Vaticanô II cho phép các dòng tu được du nhập và thử nghiệm, thay thế lời khấn tạm bằng lời thề. Nhưng cách thức ấy đã bị sửa lại hoàn toàn trong bộ luật mới.

Khoản 2, bằng một câu ngắn gọn, đã đề ra tiêu chuẩn cho việc giải thích các luật cũ được nhận lại trong bộ Giáo luật mới, cho thấy tâm lý của nhà làm luật là muốn duy trì sự liên tục giữa luật cũ với luật mới hơn là sự đảo lộn, vì thế đã qui định rằng : “Trong mức độ mà các điều bộ luật mới lấy lại luật cũ, thì chúng cần được giải thích dựa theo truyền thống của Giáo luật”.

7. Truyền thống Giáo luật

1. Những điều lấy lại y nguyên luật cũ thì phải được đánh giá theo giá trị luật cũ, cùng những lời chú thích của những tác giả đã được công nhận.

2. Những điều tương hợp từng phần với luật cũ, nố nào tương hợp thì đánh giá theo luật cũ, nố nào không tương hợp thì được cứu xét theo nguyên lý của những luật đó.

3. Khi hồ nghi không biết luật mới có phù hợp với luật cũ không, thì không được bãi bỏ luật cũ.

4. Tất cả những hình phạt bất luận thiêng liêng hay thế tục, thục hình hay dược hình, tiền kết hay hậu kết mà trong bộ luật mới không nói tới thì phải kể như đã bị bãi bỏ.

5. Những qui định vẫn lưu hành cho tới khi bộ Giáo luật ra đời mà không thấy còn trong bộ Giáo luật một cách minh nhiên hay mặc nhiên thì phải kể đã mất hiệu lực, trừ những luật thường gặp trong các sách phụng vụ hay luật đó là Thiên luật hay luật tự nhiên.

***

MỤC III LUẬT GIÁO HỘI

Luật Giáo hội là những qui định do những người có thẩm quyền trong Giáo hội đặt ra nhằm bảo đảm trật tự trong cộng đoàn Giáo hội.

Câu định nghĩa đơn giản trên đặt ra nhiều điều cần tìm hiểu : những qui định nào mới là luật? ai là những người có thẩm quyền ra những qui định ấy? và những qui định ấy chi phối những ai, những cộng đoàn nào và chi phối như thế nào?

I. QUYỀN LẬP PHÁP TRONG GIÁO HỘI

- Những ai có quyền đặt ra luật trong Giáo hội?

Luật hiểu theo nghĩa chuyên môn, dành cho cơ quan lập pháp. Điều này cũng áp dụng cho sắc lệnh tổng quát nói ở điều 29. Trong Giáo hội, nguyên tắc phân quyền này không được áp dụng triệt để vì không có 3 cơ quan biệt lập tượng trưng cho 3 thẩm quyền : quốc hội, chính phủ, pháp viện. Ở cấp tối cao, cả 3 thẩm quyền đều tập trung nơi Đức Giáo hoàng hay công đồng hoàn vũ. Còn ở cấp địa phương, cả 3 thẩm quyền ấy tập trung nơi giám mục giáo phận.

Nói rõ hơn, trong Giáo hội, chỉ những cơ quan sau đây mới có quyền lập pháp:

1. Đức Giáo hoàng : trong vai trò đại diện Chúa Kitô trên trần gian, người kế vị thánh Phêrô, thủ lãnh giám mục đoàn, chủ chăn của Giáo hội hoàn vũ, Đức Giáo hoàng có quyền đặt ra luật cho toàn thể Giáo hội (xc. đ 331).

2. Giám mục đoàn : khi hiệp thông với nhau và với sự hiện diện của vị thủ lãnh (Đức Giáo hoàng), giám mục đoàn có quyền đặt ra luật cho Giáo hội hoàn vũ, như trong trường hợp các công đồng chung. Nếu thiếu sự hiệp thông và chuẩn nhận của vị thủ lãnh, giám mục đoàn không có quyền đặt ra luật (xc. đ 336).

3. Công đồng địa phương : theo nhu cầu mục vụ với các chủ đích : tăng cường đức tin, hoạt động truyền giáo, duy trì và phát triển luân lý, bênh vực giáo huấn của Giáo hội… các giám mục trong cùng một miền có thể triệu tập công đồng để đặt ra luật. Các luật này trước khi ban hành, phải được Tòa thánh duyệt y và chỉ có giá trị trong phạm vi miền đó (xc. đ 445, 446).

4. Hội đồng giám mục : chỉ có thể ra sắc lệnh tổng quát trong những trường hợp mà luật chung đã qui định, hoặc một ủy nhiệm đặc biệt của Tòa thánh đã tự ý ấn định, hoặc theo lời thỉnh cầu của chính hội đồng giám mục ấy và được Tòa thánh chấp thuận. Các sắc lệnh tổng quát chỉ có hiệu lực bắt buộc khi được ban hành hợp lệ, sau khi đã được Tòa thánh duyệt y (xc. đ 455).

5. Giám mục giáo phận : trong hội đồng giáo phận, giám mục là nhà lập pháp duy nhất, các thành viên khác chỉ có quyền tư vấn. Duy chỉ giám mục mới có thẩm quyền ký nhận mọi tuyên ngôn và mọi sắc lệnh của hội đồng cũng như ban hành chúng với quyền hành của ngài (xc. đ 466).

6. Năng quyền trên cũng được hành sử do các vị tương đương với giám mục giáo phận : giám hạt tòng thổ, đan viện phụ tòng thổ, đại diện Tông tòa, giám quản Tông tòa, phủ doãn Tông tòa.

7. Các giám mục phó hay các giám mục phụ tá cộng tác với giám mục giáo phận trong công việc điều hành giáo phận (xc. đ 403) và thay thế giám mục giáo phận khi cản tòa hay trống tòa. Khi thi hành nhiệm vụ trong những hoàn cảnh này, các ngài có quyền như giám mục giáo phận (xc. đ 428, 429, 430).

II. PHÂN LOẠI

Có những thứ luật sau:

1. Xét theo nguồn gốc (tác giả): Thiên luật, Giáo luật, Dân luật

2. Xét theo nội dung (đối tượng): Hiến pháp, Luật hành chánh, Luật hình sự, Luật tố tụng, Luật về nhân thân - hiệp hội - gia đình - tài sản - khế ước.

3. Căn cứ trên nền tảng bó buộc

- Luật đối nhân (tòng nhân) : buộc con người, đi đâu người ấy cũng phải giữ.

- Luật đối địa (tòng thổ) : buộc những ai sống trong lãnh thổ đó.

4. Xét về lãnh thổ

- Luật phổ quát : có hiệu lực trong toàn thể Giáo hội.

- Luật đặc lập (địa phương) : chỉ bó buộc một miền hay vài miền nào đó.

5. Xét về nhân thân

- Luật chung : bó buộc mọi hạng người trong Giáo hội hay cả một cộng đoàn, thí dụ : mọi tu sĩ Đa Minh trên thế giới.

- Luật riêng : buộc một hạng nguời nào đó, thí dụ : hồng y, giám mục, giáo sĩ …

* Khi nói về tu hội, thì luật chung được hiểu là áp dụng cho mọi tu hội, còn luật riêng là luật của mỗi tu hội.

6. Theo công hiệu phát sinh

- Luật bãi hiệu (vô hiệu hóa) : khi nó tuyên bố một hành vi nào đi ngược với những qui định của nó sẽ không có hiệu lực pháp lý, thí dụ : điều 849 qui định, để ban phép Rửa tội hữu hiệu, thì phải dùng nước tự nhiên, vậy dùng nước ngọt hoặc bia thì vô hiệu.

- Luật bãi năng (vô năng hóa) : khi nó tuyên bố một người nào không có năng cách để thi hành một hanh vi nào, thí dụ : điều 1087 cấm giáo sĩ kết hôn, nếu một linh mục kết lập giá thú, thì hôn nhân sẽ không có giá trị trước mặt Giáo hội.

III. NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬT

1. Khi nào thành luật?

“Luật được thiết lập khi được công bố” (đ 7).

Công bố là thông báo luật đó cho cộng đoàn với lệnh phải tuân giữ, như vậy, một luật được thiết lập vào lúc nó được công bố. Qua việc công bố này, vị làm luật chính thức bày tỏ ý muốn truyền lệnh của mình cho cộng đoàn.

Việc công bố phải được thực hiện công khai, rõ ràng và hợp pháp. Vì thế, những mệnh lệnh, qui định hay sắc lệnh không được công bố thì không trở thành luật.

Không luật nào có hiệu lực hay bó buộc trước khi được công bố, vì sự công bố là hành vi để vị làm luật bày tỏ ý muốn bắt buộc phải tuân giữ một quyết định gì mới. Đàng khác, vì luật được dành cho một cộng đoàn, cho nên luật phải được chính thức thông tri cho cộng đoàn đó.

2. Cách thức công bố

A. Cách công bố

Có những cách công bố khác nhau tùy theo luật :

(1). Đối với luật phổ quát của Giáo hội : được công bố bằng việc đăng trong Công báo Tông tòa, trừ những trường hợp riêng biệt có quy định một lối công bố khác (đ 8 §1), như qua một nghi lễ trọng thể, qua việc loan báo trên đài phát thanh, qua việc đăng trên báo Osservatore Romano.

Thí dụ : Hiến chế Tông tòa “Poeni temini” của Đức Phaolô VI về ăn chay và kiêng thịt, đã được công bố trên báo Osservatore Romano ngày 17.02.1966, vì buộc phải tuân giữ ngày 23.02, sau đó là ngày Lễ Tro.

2. Đối với luật đặc lập (địa phương) : được công bố theo cách của người làm luật ấn định (đ 8 §2).

Trong các giáo phận, các luật của giám mục giáo phận thường được công bố trên báo của giáo phận, gửi về các giáo xứ hay niêm yết ở cuối nhà thờ, v.v…

B. Thời gian hưu của luật

Việc công bố luật không phải là việc áp dụng luật. Thời gian từ lúc công bố đến lúc áp dụng được gọi là “thời gian hưu của luật”, vì cần có thời gian để luật được thông tri tới tất cả những người phải giữ luật, đàng khác, cũng cần có thời gian để nghiên cứu học hỏi bản văn.

Nói khác đi, luật không có hiệu lực ngay sau khi được công bố, nhưng sẽ có một thời gian để luật có thể được nhận biết và được tìm hiểu, nên sự “hưu nghỉ của luật” là cần thiết.

Bình thường, vị làm luật ấn định thời gian này, và thời gian được tính từ lúc luật được công bố, chứ không tính từ lúc được ký bởi vị làm luật, cho nên điều 8 §2 nói rõ : “Sau ngày được đăng trên Công báo Tông tòa”.

Theo nguyên tắc, thời gian hưu đối với các luật phổ quát là 3 tháng, còn đối với các luật đặc lập là 1 tháng. Những ngoại trừ đối với nguyên tắc trên là do bản chất của luật bắt buộc tức khắc hoặc do văn kiện công bố ấn định rõ ràng.

Vị làm luật thường ấn định thời gian hưu của luật ngắn hơn 3 tháng đối với các luật thuận lợi, thí dụ : Tự sắc “Pastorale munus” của Đức Phaolô VI công bố ngày 30.11.1963 ban nhiều quyền hành mới cho các giám mục giáo phận và các vị tương đương, đã có hiệu lực ngày 08.12.1963 như được ghi rõ ràng trong Tự sắc.

Trong các trường hợp khác, vị làm luật có thể ấn định một thời gian dài hơn, thí dụ : bộ Giáo luật mới được công bố ngày 25.01.1983, nhưng thời gian “hưu nghỉ” được kéo dài tới ngày 27.11.1983, được ghi rõ trong Tông hiến công bố.

1. Tính cách bất khả hồi tố của luật

“Luật nhằm về tương lai chứ không nhằm về quá khứ, trừ khi rõ ràng định liệu về quá khứ” (đ 9), nghĩa là luật chỉ chi phối những hành vi được thực hiện về sau chứ không chi phối những hành vi đã thực hiện về trước, đó là tính bất khả hồi tố.

Đây là một nguyên tắc được luật Rôma thừa nhận và được đa số các bộ dân luật thời nay công nhận. Nguyên tắc này được áp dụng cho bất cứ luật nào của Giáo hội, dù người làm luật, các hậu quả và các thể thức là gì đi nữa. Bởi vậy, phải đánh giá một hành vi quá khứ chiếu theo luật pháp hiện hành khi ấy, nghĩa là khi hành vi đó được thực hiện, mặc dù sau đó luật ấy đã bị bãi bỏ hoặc điều chỉnh.

Thí dụ : cuộc hôn nhân giữa anh em họ, tức là con của anh em thúc bá, được cử hành trước ngày 27.11.1983 mà không có phép chuẩn, thì phải kể là một cuộc hôn nhân bất thành, mặc dù từ đó bộ luật đã bãi bỏ ngăn trở về họ máu ở cấp bậc ấy.

2. Luật vô hiệu hóa và luật vô năng hóa

Một luật chỉ được coi là luật vô hiệu hoặc vô năng khi trong luật đó nói rõ một hành vi nào vô hiệu hoặc một người nào không đủ khả năng (đ 10).

- Luật vô hiệu hóa : khi luật cho là vô hiệu một hành vi nào tự tính chất nội tại của nó là vô hiệu.

Thí dụ : cuộc bỏ phiếu mà số phiếu nhiều hơn số người có quyền bỏ phiếu (xc. đ 173 §3).

- Luật vô năng hóa : khi luật tuyên bố một người nào không có khả năng để thực hiện một hành vi thành hiệu, nghĩa là một hành vi được coi là vô hiệu vì người thực hiện hành vi đó không có đủ điều kiện mà pháp luật đòi hỏi phải có.

Thí dụ : - bất lực về hôn nhân (xc. đ 1084). - một người đang có chức thánh là vô năng đối với việc kết hôn (xc. đ 1087). - người không có tư năng để tham dự vào một cuộc bầu cử (xc. đ 171).

3. Ai phải giữ luật?

Nhưng người buộc phải giữ luật thuần túy của Giáo hội, đòi phải có 3 điều kiện:

1. Đã được rửa tội trong Giáo hội Công giáo hay được nhận vào trong Giáo hội.

2. Đã có đủ trí khôn.

3. Đã trọn 7 tuổi.

Trừ khi có những qui định rõ ràng khác của luật (đ 11).

Ba điều kiện trên phải có đồng thời, tức là phải đủ cả ba điều kiện ấy. Xin giải thích thêm:

- Về điều kiện thứ I : những người được rửa tội trong Giáo hội Công giáo thì rõ ràng rồi. Còn những người được nhận vào trong Giáo hội là những người được rửa tội ngoài Giáo hội Công giáo, rồi sau đó trở thành người Công giáo, thí dụ : anh em Tin lành, Chính thống, Anh giáo. Do đó, người chưa rửa tội, người đã được rửa tội trong giáo hội khác, người dự tòng không buộc giữ luật Giáo hội. Đây là một đổi mới của bộ luật 1983, vì bộ luật 1917 buộc cả những người trên.

- Về điều kiện thứ II : đã có đủ trí khôn, tức là biết sử dụng lý trí đầy đủ. Những người đã trưởng thành, nhưng thiếu khả năng sử dụng lý trí thường xuyên (không phải do say rượu hay sử dụng ma túy) cũng được miễn chuẩn khỏi giữ luật Giáo hội, kể họ như nhi đồng (xc. đ 99).

- Về điều kiện thứ III : đã trọn 7 tuổi tính từ ngày sinh, nghĩa là hết tuổi con nít. Giáo luật (đ 97 §2) suy đoán rằng trước tuổi này, con người chưa biết dùng lý trí, và sau tuổi này thì biết. Đó là một suy đoán của luật pháp. Tuy nhiên, nếu trước 7 tuổi, đứa trẻ đã biết dùng lý trí, thì không buộc phải giữ luật Giáo hội (do đó, nếu có thần đồng nào rất sáng trí nhưng chưa đầy 7 tuổi thì chưa buộc phải giữ luật). Còn nếu đủ 7 tuổi rồi mà chưa biết dùng lý trí, thì cũng không buộc phải giữ luật Giáo hội, nhưng phải chứng minh điều đó.

4. Phân biệt các thứ luật và các đối tượng giữ luật

(a). Các luật phổ quát : buộc tất cả mọi người trên thế giới mà các luật này được công bố cho họ (đ 12 §1), nghĩa là luật được công bố cho ai thì buộc họ phải giữ ở bất cứ nơi nào, thí dụ : luật dành cho các giáo sĩ thì bó buộc hết các giáo sĩ trong toàn Giáo hội.

Có 2 trường hợp cần lưu ý:

+ Một luật phổ quát không có hiệu lực ở một địa hạt nào, thì những ai ở đó không buộc phải giữ (đ 12 §2). Hoặc do một tục lệ đã có từ trăm năm hoặc từ thời xa xưa (xc. đ 5 §1). Hoặc do thẩm quyền bãi bỏ luật đó đối với địa hạt này. Cho nên điều 1246 §2 dự trù rằng : hội đồng giám mục của một nước, sau khi có sự ưng thuận của Tòa thánh, có quyền bãi bỏ một số ngày lễ buộc (ghi nơi khoản 1 của điều này) hoặc chuyển sang ngày Chúa nhật.

Thí dụ : một người ngoại quốc ở trong nước Việt Nam mà có thường trú ở một nơi mà lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm là lễ buộc, thì không buộc mừng lễ này.

Thí dụ : tại Việt Nam, giáo dân được chuẩn khỏi ăn chay kiêng thịt vào ngày thứ Tư lễ Tro vì trùng vào dịp Tết Nguyên Đán, thì một anh vừa từ Mỹ đến thành phố Hồ Chí Minh, được hưởng sự chuẩn chước này.

+ Còn những luật được ban hành riêng cho một địa hạt nào thì buộc những người mà các luật này được ban hành cho họ khi họ có gia cư hay chuẩn cư ở đó và hiện đang ở đó (đ 12 §3), nghĩa là trong việc giữ luật địa phương, phải có 2 điều kiện nữa : phải có gia cư hay chuẩn cư tại đó và hiện đang cư trú tại đó.

(b). Các luật đặc lập (địa phương) : vì được suy đoán là đối địa (đ 13 §1), nên chỉ ràng buộc những người mà luật nhắm đến, nếu họ có gia cư hoặc chuẩn cư và hiện đang ở nơi đó (xc. đ 12 §3). Cần lưu ý 2 trường hợp sau:

(i). Những kiều cư (khách du lịch, người tạm trú) thì không buộc giữ:

- Những luật đặc lập của địa phương họ khi họ ra khỏi nơi đó, trừ khi nếu vi phạm thì có hại cho địa hạt của họ; hoặc nếu đó là những luật đối nhân (đ 13 §2 số 1).

- Những luật của địa phương mà họ đang cư ngụ, trừ những luật về trật tự công cộng hoặc những luật xác định trọng thức của các hành vi hoặc những luật về bất động sản nằm trong địa hạt ấy (đ 13 §2 số 2).

* Giải thích những ngoại trừ trên:

- Về trật tự công cộng, như : luật duy trì trật tự trong xã hội, thí dụ : khi cử hành phụng vụ công khai - luật quy định việc hành sử công quyền (giám mục, thẩm phán, chủ chăn), luật mà sự vi phạm sẽ sinh gương mù.

- Về luật xác định trọng thức của các hành vi : những thể thức phải tuân giữ trong khi làm khế ước, di chúc, thủ tục tố tụng.

- Về luật liên can đến các bất động sản nằm trong lãnh thổ.

(ii). Những người phiêu cư (những người không có gia cư hay chuẩn cư) thì buộc phải giữ cả những luật phổ quát lẫn luật đặc lập đang có hiệu lực nơi họ cư ngụ (đ 13 §3).

(c). Luật hồ nghi

Các luật, kể cả luật vô hiệu hóa và vô năng hóa, khi hồ nghi về pháp luật thì không buộc, còn hồ nghi về sự kiện thì vị thường quyền có thể chuẩn chước (đ 14). Như vậy, cần phân biệt : sự hồ nghi có thể liên quan tới pháp luật hay liên quan tới sự kiện.

- Sự hồ nghi liên quan tới pháp luật, nghĩa là hồ nghi về sự hiện hữu, về hiệu lực hoặc về sự thôi buộc của luật : không biết có luật hay không, không rõ đã ban hành hay chưa, không rõ tác giả của nó có thẩm quyền làm luật hay không, không biết luật còn hiệu lực hay không… khi đó áp dụng câu châm ngôn : “lex dubia, lex nulla” (luật hồ nghi là luật không có).

- Sự hồ nghi liên quan tới sự kiện, nghĩa là biết chắc đã có luật qui định như thế nhưng không rõ có thể áp dụng vào trường hợp trước mắt hay không, không biết làm như vậy có sai luật không. Giáo luật khuyên nên gặp vị thường quyền sở tại xin hướng dẫn, thí dụ : một người sinh ra trong một gia đình, bố theo Tin lành, mẹ theo Công giáo, và không biết đã được rửa tội theo bên nào, thì anh có buộc phải giữ Giáo luật không? Nhà làm luật trả lời : hãy đến xin vị thường quyền chuẩn chước. Dĩ nhiên, vị thường quyền chỉ chuẩn chước trong phạm vi thuộc thẩm quyền mình mà thôi. Trong bộ Giáo luật, chúng ta gặp thấy qui định cho vài trường hợp hồ nghi ở các điều 144, 1060, 1496 §1, 1608 §4.

(d). Không biết luật và lầm lẫn

“Không biết hay lầm lẫn về các luật vô hiệu hóa hay vô năng hóa, không cản trở hiệu quả của những luật ấy, trừ khi minh nhiên ấn định cách khác” (đ 15 §1).

- Không biết mang tính cách tiêu cực : thiếu hiểu biết.

- Lầm lẫn có tính cách tích cực : có biết nhưng lại biết sai, có nhận định nhưng không phù hợp với sự thực.

Giữa không biết và lầm lẫn có mối tương quan nhân quả, bởi vì lầm lẫn thường phát sinh do không biết. Không biết và lầm lẫn có thể liên quan tới pháp luật hoặc liên quan tới sự kiện.

(i). Trên nguyên tắc, dù không biết hay lầm lẫn, luật vẫn phát sinh hiệu quả như thường, nghĩa là trong cả 2 trường hợp, luật vẫn buộc, vì khi luật được ban hành, giả thiết mọi người đều phải biết, tức là suy đoán mọi người phải biết luật.

Điều này được áp dụng cách riêng cho các luật vô hiệu hóa và vô năng hóa.

Thí dụ : một linh mục không có thẩm quyền mà lại chứng hôn thì hôn phối ấy vô hiệu, tuy dù cả linh mục lẫn đôi bạn đều thực sự ngay tình không biết. Đối với đôi bạn thì có thể chấp nhận được, chứ linh mục thì không thể bào chữa là không biết.

Qui tắc này còn được lặp lại ở điều 1045 về ngăn trở chịu chức thánh : không biết một ngăn trở hoặc một bất hợp luật trong việc lãnh nhận hoặc thừa hành các chức thánh, sẽ không bào chữa được, tức là vẫn bất thành.

Điều 1099 về các đặc tính của hôn nhân : không biết có một ngăn trở phi hôn nhân không làm cản trở sự bất thành của hôn nhân đó, tức là vẫn bất thành, thí dụ : không biết Giáo hội Công giáo không cho ly dị, hôn nhân vẫn thành.

(ii). Người ta không được suy đoán là không biết hoặc lầm lẫn khi đối tượng là một luật, một hình phạt, một sự kiện liên hệ tới bản thân hoặc một sự kiện tỏ tường của tha nhân. Nhưng được suy đoán như thế, khi là một sự kiện không tỏ tường của tha nhân, cho đến khi có chứng cớ ngược lại (đ 15 §2).

Điều 1096 §2 : luật suy đoán rằng : sau tuổi dậy thì, thì phải biết bản chất của hôn nhân. Sau khi khám bệnh, bác sĩ cho biết người đó bị bệnh tâm thần, nên không biết gì về hôn nhân.

5. Giải thích các luật Giáo hội

A. Cách giải thích

Bộ Giáo luật chỉ chấp nhận 2 cách giải thích : uy tín và những cách khác.

a. Uy tín : sự giải thích do người làm luật hoặc người được người làm luật ủy quyền (đ 16 §1). Cách này được gọi là cách giải thích chính thức.

Thí dụ : đối với các luật Giáo hội thì có ủy ban giải thích bộ Giáo luật, được thành lập ngày 02. 01.1084. Với cuộc cải tổ giáo triều năm 1988, cơ quan này được đổi tên thành “Hội đồng giải thích các văn bản pháp lý”. Tuy nhiên, về tính cách ràng buộc của sự giải thích thì phải phân biệt hai trường hợp :

+ Nếu sự giải thích chỉ có tính cách thuần túy tuyên bố lại những lời lẽ đã rõ và chắc chắn của luật, thì nó có hiệu lực kể từ khi bản luật có hiệu lực.

+ Nếu sự giải thích mở rộng ra hay thu hẹp lại nội dung của bản luật, thì nó chỉ có giá trị bó buộc trong tương lai, chứ không hồi tố (đ 16 §2).

Thí dụ : ngày 19. 01.1988 ủy ban giải thích Giáo luật tuyên bố rằng một giám mục phụ tá không thể làm chủ tịch hội đồng giám mục chiếu theo điều 452. Đây là một sự giải thích thu hẹp, bởi vì bản văn không có đặt ra sự giới hạn đó. Vì thế, nó chỉ có giá trị cho các cuộc bầu cử trong tương lai; còn các hội đồng giám mục nào đã bầu một giám mục phụ tá làm chủ tịch thì không thể bị coi là bất hợp pháp.

b. Những cách giải thích khác. Đó là sự giải thích của một cơ quan hành pháp hay tư pháp. Sự giải thích này chỉ có giá trị đối với trường hợp cụ thể mà cơ quan ấy áp dụng chứ không có giá trị phổ quát đối với hết mọi trường hợp (đ 16 §3).

B. Phương pháp giải thích

Dù là cách giải thích nào, Giáo luật cũng đề ra một vài qui tắc khách quan cần phải dựa vào để hiểu luật, gồm 4 tiêu chuẩn sau :

1. Bản băn của luật phải hiểu theo nghĩa đen : tức là phải hiểu theo nghĩa riêng của từ ngữ trong bản văn và trong mạch văn.

2. Tham khảo những chỗ tương tự : nghĩa là tham khảo những bản văn mà nhà làm luật đã phát biểu ý định trong cùng một vấn đề. Nếu ý nghĩa bản văn vẫn còn tối tăm hoặc hồ nghi, thì phải tham chiếu những chỗ song đối nếu có.

3. Tham chiếu mục đích và hoàn cảnh của luật : Điều này giả thiết phải biết phân tích hoàn cảnh lịch sử, văn hóa khi luật ra đời.

4. Tham chiếu chủ ý của người làm luật : tức là lý do và ý muốn đã khiến nhà làm luật ban hành luật đó.

Ngoài ra, còn một cách giải thích, gọi là giải thích theo đạo lý, tức là do chính bộ luật đưa ra. Có 3 nguyên tắc pháp luật để giải thích các luật :

1. Giải thích chặt : là hiểu các từ theo ngoại trương nhỏ nhất của chúng, thí dụ : “tu sĩ” chỉ hiểu về tu sĩ đã khấn, chứ không hiểu về tập sinh.

2. Giải thích rộng : là hiểu các từ theo ngoại trương lớn nhất, thí dụ : “tu sĩ “ sẽ gồm luôn cả tập sinh.

3. Giải thích thu hẹp : là giảm ngoại trương xuống dưới mức tối thiểu, thí dụ : “tu sĩ” sẽ được chỉ về người đã khấn trọn đời.

Đàng khác, đối với những luật quen gọi là “các luật đáng ghét”, thì phải giải thích theo nghĩa chặt, đó là các luật kèm theo hình phạt; các luật hạn chế sự tự do thi hành quyền lợi; các luật bao hàm một khoản trừ của luật tổng quát, thí dụ : các đặc ân, luật dành cho một hạng người nào.

Điều trên đây đáp ứng câu châm ngôn của luật pháp : “những qui định đáng ghét thì nên thu hẹp lại, còn những qui định có lợi thì nên được nới rộng ra” (đ 18).

6. Sự bổ túc cho luật

Khi làm luật, nhà làm luật không thể dự trù được tất cả mọi sự, bởi vậy, nhà làm luật đã nhìn nhận sự giới hạn đó và phát biểu rằng : các qui tắc luật pháp có những im lặng, những thiếu sót, và không có những qui định về một số trường hợp và vấn đề, nhất là về những quan hệ mới xuất hiện trong Giáo hội.

Đàng khác, đã có nguyên tắc : trong các việc mà không có qui tắc ấn định (truyền lệnh hoặc cấm đoán), thì qui luật pháp lý sẽ là mỗi người được tự do hành động theo ý muốn. Những nếu tự do về pháp lý như thế có thể xảy ra những va chạm dẫn đến tranh chấp, nên cần phải có cơ sở nào mà giải quyết, đó là lý do của điều 19 qui định rằng : khi gặp trường hợp như vậy thì có thể dựa vào những nguồn sau :

1. Tục lệ.

2. Những luật đã ra trong các trường hợp tương tự.

3. Các nguyên tắc chung của luật pháp, được áp dụng với lẽ phải của Giáo luật.

4. Án lệ và thông lệ của giáo triều Rôma.

5. Ý kiến chung và ổn định của các chuyên gia Giáo luật.

Tuy nhiên, những đường lối trên không được áp dụng cho hình luật, bởi vì các hình luật phải được giải thích theo nghĩa chặt và không được nới rộng ra những trường hợp tương tự.

Tóm lại, khi gặp trường hợp mà không có luật qui định rõ ràng thì thực hiện những nguyên tắc trên hoặc theo những cách ngôn của luật pháp như : “Ở đâu luật không phân biệt, thì ta cũng không được phân biệt”, “Ai có phép làm nhiều hơn thì cũng có phép làm ít hơn” , “Lý của luật không phải là luật”.

7. Sự bãi bỏ luật

Bộ Giáo luật dùng 2 từ :

- obrogatio : bãi bỏ toàn phần : bãi bỏ.

- deregatio : bãi bỏ một phần : sửa đổi

Theo 3 nguyên tắc sau :

1. Một luật sau sẽ bãi bỏ hoặc sửa đổi một luật trước trong 2 trường hợp : - khi rõ ràng nói lên điều đó - hoặc khi trực tiếp đối nghịch với luật trước, vì người ta không thể giữ cả 2 luật.

2. Một luật phổ quát không sửa đổi một luật đặc lập hay một luật đặc biệt. Luật đặc biệt dù là luật, dù là tục lệ, dù đối địa hay đối nhân, sẽ tồn tại mặc dù có nghịch với luật phổ quát, trừ khi luật pháp có qui định cách khác rõ ràng. Nói khác đi, một luật phổ quát có thể bị sửa đổi bởi một luật phổ quát, và một luật đặc lập hay đặc biệt có thể bị sửa đổi bởi một luật đặc lập hay đặc biệt (đ 20).

3. Khi hồ nghi thì không được suy đoán luật trước đã bị thu hồi, nhưng phải đối chiếu luật mới với các luật trước, và tùy mức có thể, cố gắng dung hòa với luật trước (đ 21), nghĩa là phải giữ cả hai luật bằng cách đặt nặng vào luật sau, đồng thời dung hòa với luật trước, chứ đừng làm ngược lại.

8. Giáo luật và dân luật

Nếu Giáo luật nhắc đến dân luật trong bộ Giáo luật, được coi là “Giáo luật hóa” các luật đời đó, và như vậy phải được tuân giữ như Giáo luật (đ 22). Đây là điều mới của bộ luật 1983. Có rất nhiều điều của bộ luật mới tham chiếu dân luật.

Xem tiếp phần 2