Giải Thích Bộ Giáo Luật - Quyển I: Những Qui Tắc Tổng Quát - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. (P2)
Tục lệ là cách thức hành động thường xuyên và nhất mực một điều gì mà một cộng đoàn thực hành và lập ra.
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.
QUYỂN I: NHỮNG QUI TẮC TỔNG QUÁT
---***---
Xem tiếp từ phần 1
MỤC IV TỤC LỆ
I. KHÁI NIỆM
Tục lệ là cách thức hành động thường xuyên và nhất mực một điều gì mà một cộng đoàn thực hành và lập ra.
Tục lệ là đối tượng nghiên cứu của các môn học khác nhau :
- Trong xã hội học : người ta nghiên cứu về các lề thói.
- Trong luân lý học : người ta xét đến các quan hệ giữa đạo đức và các phong tục.
- Trong thần học : người ta nghiên cứu về các quan hệ giữa đức tin và các phong tục.
- Trong khoa luật học : người ta nghiên cứu các tục lệ dưới khía cạnh chúng làm nên những quy tắc pháp luật.
II. TỤC LỆ THÀNH LUẬT
1. Điều kiện để một tục lệ thành luật
Để một tục lệ có giá trị như một qui tắc theo Giáo luật, phải có 2 điều kiện : cách thức hành động của một cộng đoàn tín hữu và sự chuẩn nhận của nhà làm luật (đ 23).
- Cộng đoàn tín hữu được đặt đối lập với nhà làm luật, và mỗi bên có vai trò của mình : cộng đoàn đưa vào một tục lệ, và nhà làm luật chuẩn nhận tục lệ ấy.
Bộ Giáo luật cũ nói đến 2 yếu tố : chất thể (materia) là tục lệ do cộng đoàn đưa vào cuộc sống. Mô thể (forma) là sự ưng thuận của nhà làm luật, mang lại giá trị Giáo luật. Nhưng sự phân biệt này không được coi là thỏa mãn nữa, vì cái nhìn mới của bộ Giáo luật mới.
- Như vậy, tục lệ là luật bất thành văn và đang được cộng đoàn tuân giữ. Tục lệ không được thiết lập do nhà làm luật và cũng không bao giờ được ban hành. Một tục lệ có thể trở thành một điều luật khi được nhà làm luật chấp thuận, chuẩn y.
2. Những tục lệ không thể trở thành luật
Một số tục lệ, do nội dung của chúng, không thể trở thành Giáo luật, và như vậy không thể có hiệu lực pháp luật (đ 24).
Có thể xếp tục lệ thành 3 loại :
1. Các tục lệ hợp với luật pháp.
2. Các tục lệ trái với luật pháp.
3. Các tục lệ ngoài luật pháp (ngoại luật).
Do đó,
a. Một cách tuyệt đối, không một tục lệ nào trái ngược với Thiên luật mà có thể có hiệu lực pháp lý, tức là tất cả những tục lệ trái ngược với luật Thiên Chúa đều bị gạt bỏ.
b. Cũng bị gạt bỏ tất cả các tục lệ trái ngược với Giáo luật và bị Giáo luật lên án rõ ràng. Giáo luật gọi đó là những tục lệ không hợp lý.
c. Cả những tục lệ ngoại luật, tức là tục lệ đi ra ngoài Giáo luật cũng bị gạt bỏ, trừ khi là hợp lý.
3. Những điều kiện để một cộng đoàn lập ra một tục lệ có giá trị Giáo luật :
Ba điều kiện để một cộng đoàn có thể lập ra một tục lệ có giá trị Giáo luật (đ 25).
a. Cộng đoàn phải có khả năng đón nhận luật pháp.
b. Cộng đoàn phải hành động với ý định lập ra một luật khi dựa vào tục lệ đó.
c. Cộng đoàn phải tuân thủ tục lệ cách liên tục trong suốt thời gian mà Giáo luật dạy.
Một cộng đoàn có khả năng đón nhận luật pháp là cộng đoàn mà người lãnh đạo có thẩm quyền lập pháp, thí dụ : một giáo phận, một dòng tu. Như vậy, một giáo xứ hay một hiệp hội không có khả năng để du nhập một tục lệ.
4. Điều kiện chủ yếu để một tục lệ trở thành Giáo luật, là phải có sự chuẩn nhận của nhà làm luật. Có 2 hình thức chuẩn nhận của nhà làm luật :
a. Sự chuẩn nhận đặc biệt của nhà làm luật, tức là một tục lệ sẽ có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được chuẩn nhận, dù tục lệ chưa có từ lâu lắm.
b. Chuẩn nhận do thực tế :
- Những tục lệ hợp pháp phải được tuân thủ đủ 30 năm.
- Những tục lệ nghịch luật phải có 100 năm tuân thủ, hay đã có từ lâu đời.
- Những tục lệ nghịch luật bị luật pháp lên án thì không bao giờ có hiệu lực pháp luật (đ 26).
5. “Tục lệ là phương thế tốt nhất để giải thích luật” (đ 27).
Trong luật Rôma, câu châm ngôn trên nói về các tục lệ có trước luật pháp. Bộ luật 1917 cũng nói đến ở điều 29 mà bộ luật 1983 lấy lại đúng từng chữ. Vì tục lệ Giáo luật được coi là nguyên tắc của “luật pháp bổ sung hay bổ khuyết”.
6. Sự thâu hồi tục lệ (đ 28)
Những tục lệ nào trái nghịch hay đi ra ngoài luật, đều bị thâu hồi bởi một tục lệ hay một luật trái nghịch.
Bộ luật không thâu hồi các tục lệ đã có từ trăm năm hoặc có từ đời xa xưa, và luật phổ quát không bãi bỏ các tục lệ riêng.
***
MỤC V LUẬT PHÁP HÀNH CHÁNH CỦA GIÁO HỘI
I. CÁC SẮC LỆNH TỔNG QUÁT VÀ CÁC HUẤN THỊ
A. CÁC SẮC LỆNH TỔNG QUÁT
1. Định nghĩa
Các sắc lệnh tổng quát là “những qui định chung cho một cộng đoàn có khả năng lãnh nhận luật pháp được ban hành do nhà làm luật” (đ 29). Đây chính là định nghĩa về luật. Tuy nhiên, khác với luật : luật có nội dung tự lập và có tính ổn định và vĩnh viễn, còn sắc lệnh tổng quát có đặc điểm:
- Hoặc được ban hành để giải quyết những vấn đề cấp bách của Giáo hội, nhưng không tới mức cần phải có một luật.
- Hoặc để giải quyết những vấn đề ít nhiều trường tồn, nhưng ở trong một xã hội đang thay đổi, cần tới sự đổi mới các qui tắc.
- Hoặc đó là những vấn đề đòi hỏi phải có một luật, hiện đang được chuẩn bị, nhưng chưa thể sớm được ban hành, vì soạn thảo luật bao giờ cũng vất vả và lâu dài.
- Hoặc các vấn đề không đáng phải có sự long trọng của một luật hoặc của vị làm luật, nên sự khôn ngoan khuyên ngài dành quyền ban sắc lệnh cho vị có quyền hành pháp.
Như vậy, các sắc lệnh tổng quát sẽ hành động, trong lãnh vực Giáo luật, vừa như những qui tắc, vừa như những áp dụng các qui tắc có trước.
Người ta có thể định nghĩa chúng là “những thích ứng hoặc những bổ sung cho các luật trước đó”, hoặc như “những luật khẩn cấp, không có tính ổn định, nhằm giải quyết những vấn đề không thể chờ đợi một sự ban hành một luật ổn định”.
2. Ai có quyền ban hành sắc lệnh tổng quát
- Các sắc lệnh tổng quát thuộc thẩm quyền duy nhất của người làm luật và người được họ ủy quyền.
Do đó, các sắc lệnh do quốc hội hay do các nhà làm luật có thẩm quyền thì mới đích thị có giá trị như luật pháp.
Những người chỉ nắm quyền hành pháp thì không có quyền ban hành những sắc lệnh tổng quát (đ 30).
- Các sắc lệnh tổng quát chấp hành thuộc thẩm quyền riêng những người nắm quyền hành pháp.
Các sắc lệnh này không phải là luật, nhưng chỉ là “những qui tắc pháp lý”, tức là “qui tắc chấp hành” nhằm thi hành một luật pháp đã có trước (đ 31 §1).
- Những ai có quyền ban hành các sắc lệnh này? là những vị nắm quyền hành pháp tổng quát, như giám mục giáo phận - rồi các vị phó với quyền thường lệ hoặc quyền ủy nhiệm.
- Việc công bố và thời gian bắt đầu thi hành các sắc lệnh nói ở khoản 1 thì phải giữ các qui định của điều 8 (đ 31 §2).
3. Người thi hành
Những người ở dưới quyền vị nắm quyền hành pháp đã ra sắc lệnh ấy (đ 32).
4. Hiệu lực của sắc lệnh tổng quát
Các sắc lệnh tổng quát không sửa đổi luật; và những quyết định của sắc lệnh trái ngựơc với luật thì không có gía trị gì (đ 33 §1).
Các sắc lệnh ấy sẽ mất hiệu lực khi bị thâu hồi bởi vị có thẩm quyền, và chúng cũng mất hiệu lực khi luật mà chúng chỉ dẫn vịêc thi hành không còn nữa. Tuy nhiên, chúng vẫn giữ giá trị khi có sự qui định ngược lại tỏ tường (đ 33 §2).
B. CÁC HUẤN THỊ
1. Định nghĩa
“Huấn thị là văn kiện minh giải các qui định của luật và triển khai cùng ấn định những cách thức phải giữ khi thi hành luật, được ban ra cho những ai phải lo cho luật được thi hành và buộc họ phải giữ trong khi thi hành luật” (đ 34 § 1).
Huấn thị là một quan niệm mới trong bộ Giáo luật, dù đã được sử dụng nhiều trong thực hành. Các bộ Rôma cũng như các tòa giám mục đã sử dụng rất nhiều.
Đặc biệt của huấn thị là chúng không được trực tiếp ban hành cho những người tuân thủ luật pháp, nhưng chỉ dành cho những vị có quyền hành pháp cấp dưới, những người có nhiệm vụ giám sát việc thi hành luật. Những vị này cần đến những giải thích tỉ mỉ và rõ ràng về ý nghĩa và về phạm vi cụ thể của luật hoặc các thể thức thi hành.
- Những chỉ thị trong các huấn thị không được sửa đổi luật và nếu chúng không dung hòa được với những qui định của luật thì không có gía trị (đ 34 §2).
2. Hiệu lực
Hiệu lực và chấm dứt huấn thị cũng giống như luật và các sắc lệnh tổng quát (tức là khi vị có thẩm quyền thu hồi huấn thị, hoặc khi luật được các huấn thị minh giải hoặc truyền thi hành không còn nữa) (đ 34 §3).
Xem tiếp phần 3