Giải Thích Bộ Giáo Luật - Quyển I: Những Qui Tắc Tổng Quát - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. (P3)
Sau khi bàn về luật hành chánh tổng quát (phần I, tiết III trên đây), bộ Giáo luật đề cập đến luật hành chánh riêng biệt đối với những con người cụ thể.
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.
QUYỂN I: NHỮNG QUI TẮC TỔNG QUÁT
---***---
Xem tiếp phần 2
II. CÁC HÀNH VI HÀNH CHÁNH RIÊNG BIỆT (các văn bản hành chánh riêng biệt)
1. Dẫn nhập
Sau khi bàn về luật hành chánh tổng quát (phần I, tiết III trên đây), bộ Giáo luật đề cập đến luật hành chánh riêng biệt đối với những con người cụ thể.
Đề tài này gồm 2 phần:
- Phần 1 gồm các văn bản do khởi xướng tự động của thẩm quyền hành chánh (bằng các sắc lệnh và các lệnh truyền).
- Phần 2 gồm các văn bản được thẩm quyền hành chánh ban vì có sự thỉnh cầu của một người thì gọi là phúc chiếu (bằng các đặc ân, chuẩn chước).
Phần 1 có thể được gọi là “truyền lệnh”.
Phần 2 là “ân huệ”.
Như vậy, các văn bản hành chánh riêng biệt được chia làm 2 loại:
a. Các sắc lệnh : thường được ban ra do sáng kiến của nhà cầm quyền, các lệnh truyền cũng được xếp vào loại này.
b. Các phúc chiếu : là những trả lời bằng văn thư do những đơn xin. Trong số các phúc chiếu, 2 thứ sẽ được mô tả đặc biệt, đó là các phúc chiếu chứa đựng một đặc ân hay một chuẩn chước. Sau đây ta sẽ lần lượt tìm hiểu.
2. Những qui tắc chung
Không một điều luật nào đưa ra khái niệm Giáo luật về văn bản hành chánh riêng biệt. Điều 35 mở đầu cho phần này cũng không đưa ra một định nghĩa, nhưng chỉ liệt kê các hành vi tức các văn bản hành chánh đó:
+ Những văn bản được quyền hành pháp tự ý ban hành (= các sắc lệnh và các lệnh truyền).
+ Những văn bản được ban hành vì có sự thỉnh cầu (= các phúc chiếu).
+ Các điều tiếp theo đưa ra những luật lệ để giải thích và thi hành các văn kiện hành chánh kể trên.
a/. Việc giải thích
+ Những nguyên tắc giải thích:
- Phải giải thích theo nghĩa đen của các tiếng.
- Phải hiểu theo ngôn ngữ thông thường, tức là tham chiếu ngôn ngữ và cách ăn nói thông thường chứ không phải ngôn ngữ chuyên môn của cộng đoàn nhận văn thư.
- Nếu tiếng nào còn hồ nghi thì phải hiểu theo nghĩa chặt (đ 36 §1).
- Văn thư hành chánh không được nới rộng sang các trường hợp khác, ngoài các trường hợp đã được nêu ra (đ 36 §2).
+ Các văn kiện này phải được ghi bằng giấy tờ (đ 37) : cần thiết để có thể biết chắc chắn lúc hết hạn của một chức vụ đã ban có thời gian, hoặc để làm chứng một sự kiện, như phép xây một nhà thờ; việc thuyên chuyển một giáo sĩ từ chức vụ này sang chức vụ khác.
b/. Việc thi hành
- Một văn thư hành chánh có thể trở thành vô hiệu vì : - phạm đến quyền lợi kẻ khác - nghịch lại luật hay tục lệ đã được chấp nhận (đ 38).
- Khi trong văn thư có những từ “nếu”, “nếu không”, “miễn là”, mới được coi là những liên từ được đặt làm điều kiện thành sự (đ 39).
- Nếu thi hành trước khi nhận được văn thư thì bất thành (đ 40).
- Người thi hành không thể từ chối thi hành văn thư trừ khi thấy rõ văn thư vô gía trị hay thấy văn thư không thể chấp nhận được vì một lý do nghiêm trọng, phải lập tức báo cho vị đã ban văn thư (đ 41).
- Người thi hành văn thư phải tiến hành theo đúng lời lẽ của văn thư (đ 42).
- Có thể nhờ người khác thay thế, trừ khi việc thay thế bị cấm (đ 43).
- Có thể được thi hành bởi người kế nhiệm trong chức vụ đó (đ 44).
- Nếu phạm bất cứ sai lầm nào trong khi thi hành, được phép làm lại việc thi hành ấy (đ 45).
- Văn thư hành chánh không mất hiệu lực khi người ban hết quyền, trừ khi định cách khác tỏ tường (đ 46).
- Việc thu hồi văn thư chỉ có hiệu lực từ lúc việc này được thông tri hợp pháp cho người nhận (đ 47).
A. CÁC SẮC LỆNH VÀ LỆNH TRUYỀN RIÊNG BIỆT
1. Định nghĩa
- Sắc lệnh riêng biệt là một văn bản hành chánh do vị có thẩm quyền ban ra để qua đó, đặt ra một quyết định hay một biện pháp nào cho một trường hợp riêng biệt mà cả hai trường hợp này tự chúng không đòi hỏi phải có đơn thỉnh cầu (đ 48).
- Lệnh truyền riêng biệt là sắc lệnh dùng để truyền một người hay nhiều người cách trực tiếp và hợp pháp, phải làm hoặc phải bỏ một điều gì, nhất là để thúc bách việc giữ luật (đ 49).
Trong bộ Giáo luật, chúng ta gặp thấy rất nhiều thí dụ về các sắc lệnh riêng biệt : bổ nhiệm, thuyên chuyển vào các chức vụ; thành lập một hiệp hội (đ 156, 157, 313).
Bộ Giáo luật cũng cho thấy vài thí dụ về các lệnh truyền riêng biệt trong quyển VI (chế tài) như điều 1319. Trong dòng tu, các lệnh truyền riêng biệt xảy ra nhiều hơn, ngoài những “lệnh truyền hợp thức” (praeceptum formale) truyền khiến nhân danh lời khấn vâng lời, còn có những lệnh truyền khác giúp cho việc duy trì kỷ luật được chu đáo.
2. Những điều kiện phải làm trước khi ban hành một sắc lệnh riêng biệt
(a). Phải cẩn thận thu thập đầy đủ tin tức về sự có nên ban hành sắc lệnh riêng biệt không; và về các thông tin cần thiết (như đức tính và khả năng của người mà sắc lệnh muốn bổ nhiệm họ vào một chức vụ nào); thu thập chứng cớ và những dữ kiện cần thiết, nếu muốn đưa ra một hình phạt bằng văn thư hành chánh; để tránh việc phải sửa đổi sắc lệnh, mỗi khi có những yếu tố mới.
(b). Nghe ý kiến những người mà quyền lợi có thể bị tổn thương vì sắc lệnh (đ 50).
(c). Sắc lệnh phải được ban trên giấy tờ (đ 51).
3. Giá trị
Sắc lệnh riêng biệt chỉ có gía trị cho những sự việc sắc lệnh quyết định và cho người sắc lệnh nói tới. Nó buộc khắp nơi, trừ khi định rõ ràng cách khác (đ 52). Như vậy, nó mang tính cách “tòng nhân”.
Nếu các sắc lệnh trái nghịch nhau, thì :
+ Sắc lệnh riêng có gía trị hơn sắc lệnh chung.
+ Nếu cả hai cùng là sắc lệnh riêng hay cùng là sắc lệnh chung, thì sắc lệnh mới nhất sửa đổi cái cũ về những gì nghịch với nó (đ 53). Đây là một áp dụng của nguyên tắc cổ truyền : “cái cụ thể cá biệt thì thu hồi cái tổng quát”.
4. Cách thức áp dụng
- Sắc lệnh phải được thông tri cho đương sự. Nó bắt đầu có hiệu lực kể từ khi cơ quan ban hành hay nhân viên chấp hành thông tin cho đương sự (chứ không phải kể từ lúc ký) (đ 54 §1).
- Nếu vì một lý do rất nghiêm trọng, không thể trao sắc lệnh cho đương sự, chẳng hạn vì sợ xảy ra tai hại nghiêm trọng, hoặc sợ tai tiếng do việc truyền bá hay sử dụng sắc lệnh, thì đọc sắc lệnh cho đương sự nghe trước mặt một công chứng viên, hoặc hai người làm chứng. Lập biên bản và tất cả mọi người có mặt (người đọc, chưởng khế, các nhân chứng và người nhận sắc lệnh) phải ký vào biên bản. Nếu người nhận sắc lệnh từ chối cũng không sao (đ 55).
- Sắc lệnh được coi là đã thông tri, nếu không có lý chính đáng mà người nhận đã được kêu mời cách hợp pháp để tới nhận hoặc nghe sắc lệnh lại không tới trình diện hoặc từ chối ký vào (đ 56).
- Mỗi khi luật bắt buộc phải ra sắc lệnh hay đương sự chính thức thỉnh cầu để được sắc lệnh, thì vị có thẩm quyền phải thỏa mãn trong vòng 3 tháng, trừ khi luật ấn định một thời hạn khác (đ 57 §1). Qua thời hạn đó mà chưa ban sắc lệnh, thì kể là từ chối (đ 57 §2). Nếu từ chối ban sắc lệnh là tiêu cực thì phải bồi thường thiệt hại (đ 57 §3).
- Sắc lệnh hết hiệu lực khi bị thu hồi (đ 58 §1), lệnh truyền không được ban ra bằng văn thư chính thức, hết hiệu lực khi vị ban bố nó hết quyền (đ 58 §2).
B. PHÚC CHIẾU
1. Định nghĩa
Phúc chiếu là một hành vi hành chánh ban bằng văn thư khi có đơn người ta xin, và đối tượng của nó là ban ân huệ : đặc ân - chuẩn chước hoặc một ân huệ nào khác (đ 59 §1,2).
2. Việc lãnh nhận phúc chiếu
- Tất cả những ai không bị cấm tỏ tường đều có thể xin được, bất luận phúc chiếu nào (đ 60).
Trong cả bộ Giáo luật, không có chỗ nào phát biểu rõ ràng sự ngăn cấm. Hơn nữa, cả những người ngoài Công giáo cũng có khả năng thỉnh nguyện một ân huệ miễn là đương sự hội đủ những điều kiện được đặt ra.
Thí dụ:
+ đ 851 số 1 : người lớn xin rửa tội.
+ đ 1142 : xin tháo gỡ hôn phối không hoàn hợp.
- Có thể xin được phúc chiếu cho người khác, cho dù đương sự không biết hay không muốn (đ 61).
Thí dụ:
+ đ 1142 : xin tháo gỡ hôn phối không hoàn hợp.
+ đ 1164 : sự điều trị tại căn một hôn phối vô hiệu.
3. Hiệu lực của phúc chiếu
Nếu phúc chiếu được ban trực tiếp (không qua người chấp hành) thì có hiệu lực kể từ ngày cấp. Nếu được ban qua trung gian người chấp hành, thì bắt đầu có hiệu lực từ lúc được thi hành (đ 62).
4. Điều kiện để phúc chiếu thành hiệu
- Một điều kiện cốt yếu để phúc chiếu được thành hiệu là phải trình bày thành thực các lý lẽ và sự kiện (đ 63 §1). Do đó, giấu diếm hay gian trá sẽ làm cho phúc chiếu vô hiệu (đ 63 §2).
Giấu diếm là che đậy sự thực, không nói rõ hết các lý do - gian trá có nghĩa là bịa ra lý do hay hoàn cảnh giả tạo chứ thực sự không có như vậy. Cả hai trường hợp đều làm cho phúc chiếu vô hiệu.
Trừ khi phúc chiếu ban ân huệ bằng “tự sắc” (Motu proprio), ban phúc chiếu cách nhiệm ý, nghĩa là không căn cứ trên các lý do và sự kiện đã trưng ra.
- Nếu phúc chiếu không cần người thi hành, thì lý do phải đúng sự thực ngay lúc ban hành phúc chiếu. Còn các phúc chiếu khác, thì ở lúc thi hành (đ 63 §3).
5. Người ban phúc chiếu
- Một ân huệ đã bị vị thường quyền của mình từ chối thì có thể xin một vị thường quyền ngang hàng, nhưng phải nói tới lý do đã bị từ chối (đ 65 §1).
Thí dụ : nếu giám mục thành phố Hồ Chí Minh từ chối, có thể chạy sang giám mục Xuân Lộc, nhưng phải nói về sự từ chối kia cho giám mục Xuân Lộc.
a. Một ân huệ đã bị bất cứ bộ nào của giáo triều Rôma từ chối thì không bộ nào khác hay bất cứ thẩm quyền nào dưới Đức Giáo hoàng có thể ban thành sự, nếu không có sự ưng thuận của bộ đã từ chối. Trừ quyền của tòa án xá giải đối với tòa trong (đ 64).
b. Nếu một vị tổng đại diện hay một vị đại diện giám mục đã từ chối thì không thể chạy sang vị đại diện giám mục khác thuộc cùng một giáo phận (đ 65 §2).
c. Một ân huệ đã bị vị tổng đại diện hay đại diện giám mục từ chối thì có thể xin giám mục, nhưng phải nói về sự kiện đã bị từ chối, nếu không nói thì không thành sự (đ 65 §3). Không có trường hợp ngược lại, tức là giám mục đã từ chối, thì tổng đại diện hay đại diện giám mục ban cũng không thành sự, dù có nói lý do khước từ, nhưng nếu giám mục ưng thuận thì được.
Luật không đòi hỏi điều kiện tương tự như vậy khi đi từ giám mục lên các bộ ở giáo triều, hay từ các bộ lên Đức Giáo hoàng.
6. Sự nhầm lẫn
Sự nhầm lẫn về tên người nhận phúc chiếu hoặc tên người ban, hoặc về nơi ở hoặc về việc liên hệ, sẽ không làm cho phúc chiếu thành vô hiệu, miễn là theo nhận xét của vị thường quyền không có hồ nghi nào về người hoặc về sự việc (đ 66). Nghĩa là nếu chỉ là những lỗi về kỹ thuật, chứ không có ảnh hưởng tới bản chất của phúc chiếu, thì nó vẫn có gía trị.
7. Giải thích
Những hồ nghi về phúc chiếu, thì phải xử trí thế nào?
- Nếu hai phúc chiếu cùng được ban về cùng một đối tượng mà lại trái ngược nhau, thì phúc chiếu riêng có giá trị hơn phúc chiếu chung về những điều riêng của nó (đ 67 §1).
- Nếu đều là hai phúc chiếu riêng hoặc đều là chung, thì phúc chiếu trước có giá trị hơn, trừ khi phúc chiếu sau có nói tới phúc chiếu trước rõ ràng, hoặc vì người xin trước đã gian dối hay chểnh mảng qúa mà không dùng phúc chiếu (đ 67 §2).
- Nếu hồ nghi không rõ phúc chiếu có hiệu lực hay không, thì phải khiếu nại nơi vị đã ban phúc chiếu (đ 67 §3).
8. Trình lên vị thường quyền
- Phúc chiếu do Tòa thánh ban mà không chỉ rõ người thi hành, thì phải trình với vị thường quyền của người xin, nếu trong phúc chiếu có buộc điều đó, hoặc nếu là các việc công, hoặc nếu cần kiểm nhận một số điều kiện nào đó (đ 68).
- Phúc chiếu nào không ghi thời gian phải trình, thì trình với người thi hành lúc nào cũng được, miễn là không có gian lận và man trá (đ 69).
- Nếu trong phúc chiếu, chính việc ban ân huệ được ủy cho người thi hành quyết định, thì vị này có quyền ban hoặc từ chối ân huệ đó, tùy lương tâm và sự xét định khôn ngoan của ngài (đ 70). Vị thi hành phải nắm vững sự thật của đơn xin, và xem xét sự ban ơn đó có thích hợp không, rồi phải biết chắc sự chính xác và toàn vẹn của phúc chiếu đã đệ trình.
- Không ai bị bó buộc phải sử dụng một phúc chiếu được cấp hoàn toàn vì lợi riêng của mình, trừ khi vì lý do nào khác mà luật buộc phải hưởng dùng (đ 71).
Thí dụ : chuẩn chước cho một cuộc hôn nhân chưa thành toại không phải là phúc chiếu “ban đặc ân cho riêng mình”, vì nó cũng liên hệ đến người phối ngẫu kia, nên buộc phải hưởng dùng phúc chiếu.
- Ân huệ đã ban bằng miệng, có thể hưởng nơi tòa trong, nhưng ở tòa ngoài phải minh chứng mỗi khi được hỏi cách hợp pháp (đ 74).
Thí dụ: Tòa thánh ban cho một linh mục được phép mang nhẫn và đeo thánh giá giống như các giám mục, thì linh mục ấy không buộc lúc nào cũng phải đeo nhẫn và thánh gía.
Nhưng khi thấy một linh mục mang nhẫn và thánh giá, thì giám mục giáo phận có quyền đòi hỏi đương sự xuất trình văn bằng mà Tòa thánh đã cấp.
9. Chấm dứt phúc chiếu
- Một phúc chiếu có thể chấm dứt vì hết hạn, hoặc vì hoàn tất nội dung, nghĩa là mãn hạn hay đã hết số lần được cấp.
Thí dụ: một linh mục được ban cấp năng ân ban bí tích Thêm sức trong vòng 3 năm, hay là 10 lần.
- Một phúc chiếu cũng có thể chấm dứt vì bị nhà chức trách thu hồi lại. Tuy nhiên, bộ Giáo luật đã qui định thêm hai chi tiết sau:
(a). Khi một phúc chiếu do Tòa thánh ban mà hết hạn, thì giám mục giáo phận có thể gia hạn khi có lý do chính đáng, nhưng chỉ được một lần và không quá 3 tháng (đ 72).
(b). Một phúc chiếu không bị thu hồi do một luật trái nghịch, trừ khi nào luật đã dự liệu cách khác (đ 73). Nói cách khác, theo nguyên tắc, thì một luật chỉ thu hồi một luật khác; còn một phúc chiếu thì chỉ bị thu hồi bởi một phúc chiếu khác.
- Nếu phúc chiếu bao hàm đặc ân hay chuẩn chước, thì còn phải giữ những qui định của những luật ở chương IV và V sau đây (đ 75).
C. ĐẶC ÂN
1. Khái niệm
Theo nguyên gốc La tinh, đặc ân có nghĩa là “luật riêng tư thuận lợi”. Như vậy, đặc ân là một “luật riêng” dành cho một cá nhân hay một nhóm nào, tách ra khỏi luật chung của toàn thể cộng đoàn. Do đó, đặc ân là một luật riêng ở ngoài luật hay là trái nghịch với luật chung.
Đây là một đặc điểm của Giáo luật, bởi vì khi nhắm tới phần rỗi các linh hồn thì phải lưu tâm không những tới thiện ích của cộng đoàn mà còn phải chú ý tới thiện ích của từng phần tử nữa.
2. Phân loại
Có nhiều loại đặc ân tùy theo những tiêu chuẩu phân loại : đối nhân - đối vật - nặng nề - thuận lợi.
(a). Đặc ân đối nhân : khi gắn liền với cá nhân hay pháp nhân. Đặc ân đối vật : khi gắn liền với một vật, như một thánh điện, một địa điểm nào, thí dụ : đặc ân dành cho một trung tâm Thánh Mẫu được cử hành thánh lễ kính Đức Mẹ suốt năm.
(b). Đặc ân nặng nề: Khi nó đặt ra một gánh nặng hay gây ra một sự thiệt thòi cho người khác. Đối lại là đặc ân thuận lợi.
3. Thủ đắc
Bộ Giáo luật chỉ nhìn nhận hai phương thức để thủ đắc đặc ân:
(a). Do nhà chức trách có thẩm quyền làm luật ban hay qua trung gian quyền hành pháp mà nhà làm luật ban quyền đó cho. (đ 76 §1).
(b). Do sự suy đoán : khi đặc ân đã được chấp hữu từ trăm năm hay đã lâu đời (đ 76 §2).
Sự suy đoán này có lợi khi không còn văn bản cấp đặc ân nữa.
4. Giải thích đặc ân
Đặc ân phải được giải thích theo điều 36 §1 (hiểu theo nghĩa đen của các từ ngữ và theo kiểu nói thông dụng). Nhưng bao giờ cũng phải giải thích làm sao để các người thụ hưởng đặc ân thật sự được hưởng ân huệ đó (đ 77).
5. Sử dụng đặc ân
- Không ai bị bó buộc phải hưởng dụng đặc ân (đ 80 §2). Tuy nhiên nếu một đặc ân gây ra gánh nặng cho kẻ khác, thì sự sử dụng nó có thể bị thời hiệu tiêu diệt (đ 82). Ngoài ra, ai lạm dụng quyền do đặc ân ban cho, thì đáng bị rút lại đặc ân (đáng mất đặc ân đó). Vì thế, sau khi cảnh cáo người hưởng thụ cách vô ích (không hiệu quả), vị thường quyền phải rút lại đặc ân chính mình đã ban. Còn nếu đặc ân do Tòa thánh ban, thì vị thường quyền buộc phải báo cho Tòa thánh biết (đ 84). Như vậy, điều 84 nói về sự lạm dụng đặc ân do người đã nhận được đặc ân. Đó là khi sử dụng không chính đáng, vượt ra ngoài giới hạn của sử dụng một cách bất chấp, gây gương xấu, trái với mục đích của đặc ân.
- Đôi khi sự sử dụng đặc ân có thể bị ngăn cấm tiếp theo một hình phạt.
+ Xin coi điều 1331 §1 : về vạ tuyệt thông : cấm không được tham dự và thi hành lễ tạ ơn hay bất cứ lễ nghi phụng vụ nào khác - không được cử hành các bí tích và lãnh nhận các bí tích. Không được thi hành bất cứ giáo vụ hay thừa tác vụ …
+ Xin coi điều 1331 §2 : đình chỉ thi hành phụng vụ, quyền lãnh đạo - bị cấm không được hưởng những đặc ân được ban trước kia.
+ Xin coi điều 1336 §1,2 : về thục hình.
- Đặc ân ban cho pháp nhân nào, hoặc ban vì phẩm chất của nơi chốn hay sự vật, thì từng cá nhân không thể khước từ; chính pháp nhân cũng không có trọn quyền khước từ, nếu sự khước từ đó gây thiệt hại cho Giáo hội hay cho những người khác. (đ 80 §3).
6. Chấm dứt đặc ân
- Thường thường một đặc ân được ban cấp vô thời hạn. Nó được suy đoán là có giá trị vĩnh viễn, trừ khi nào có bằng chứng ngược lại (đ 78 §1).
- Nếu đặc ân được ban cho một cá nhân, thì nó chấm dứt khi người ấy qua đới (đ 78 §2).
- Nếu đặc ân được gắn liến với một đồ vật hay một nơi chốn, thì nó chấm dứt khi đồ vật hay nơi đó hoàn toàn bị phá hủy. Tuy nhiên, một đặc ân gắn với một địa điểm, sẽ được hồi sinh, nếu địa điểm ấy được tái thiết trong vòng 50 năm (đ 78 §3).
Ngoài ra, đặc ân còn chấm dứt do những duyên cớ sau :
- Khi đã mãn thời hạn hay số lần được cấp (đ 83 §1).
- Khi bị nhà chức trách (hoặc là người đã ban, hay người kế nhiệm hoặc cấp trên) thu hồi (đ 79).
- Khi nào vì hoàn cảnh đã thay đổi nên nó trở thành có hại hay bất hợp pháp (đ 83 §2).
Bộ Giáo luật trưng dẫn vài trường hợp thu hồi đặc ân trái nghịch ở điều 396 §2; điều 509 §1; điều 526 §2.
- Nếu đặc ân được ban với cách nói “ad beneplacitum nostrum” (theo sở thích của tôi) hay với lời lẽ tương tự, thì nó sẽ chấm dứt khi người ban nó đã mãn nhiệm (đ 81).
Như vậy, nếu đấng ban đặc ân không thu hồi trong nhiệm kỳ của ngài, thì đặc ân sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng đấng làm luật của bộ luật 1917 và đấng làm luật của bộ luật hiện nay lại qui định rằng : câu nói đó làm cho đặc ân bị chấm dứt khi vị ban đặc ân hết quyền.
- Do sự khước từ, và được nhà chức trách chấp nhận (đ 80 §1).
- Do thời hiệu hợp lệ, nếu không sử dụng một đặc ân “nặng nề” (đ 82).
D. CHUẨN CHƯỚC
1. Khái niệm
Sự chuẩn chước được định nghĩa là “tháo cởi luật” trong một trường hợp riêng. Sự chuẩn chước không bãi bỏ luật, luật vẫn còn giá trị, nhưng một cá nhân nào đó được miễn bổn phận phải tuân giữ luật (đ 85).
Trường hợp riêng là một trường hợp cụ thể, liên quan đến một hoặc nhiều người, thể nhân hay pháp nhân.
Khi ban hành luật, nhà cầm quyền nhìn tới công ích của cả cộng đoàn. Tuy nhiên, một điều tốt cho đa số có thể gây ra thiệt hại cho một vài phần tử, do đó, thay vì thể hiện công bình thì luật trở thành bất công.
Sự chuẩn chước lại càng trở nên khẩn trương hơn trong đời sống của Giáo hội. Khi công ích của Giáo hội là phần rỗi của từng người chứ không phải chỉ là an ninh trật tự công cộng.
Như vậy, chuẩn chước khác với đặc ân, vì đặc ân có tính vĩnh viễn; và cũng khác với sự được phép, vì được phép là được làm một việc phù hợp với luật pháp.
Theo Giáo luật, chuẩn chước luôn đòi hỏi phải có một lý do tích cực.
Chất liệu của chuẩn chước là một điều có thể chuẩn chước. Cho nên, đây là miễn khỏi giữ một “luật thuần túy Giáo hội”. Về các luật Thiên Chúa, chỉ một mình Đức Giáo hoàng có quyền chuẩn chước, như chuẩn chước cho cuộc hôn nhân đã kết ước mà chưa thành toại.
2. Những qui tắc chuẩn chước
- Qui tắc 1: không thể chuẩn chước đối với các luật Giáo hội ấn định về các yếu tố cấu thành sau đây:
a. Liên quan đến các định chế pháp lý : đó là những khái niệm Giáo luật về trú quán, giáo sĩ, chức vụ trong Giáo hội, linh mục chính xứ v.v…
Những khái niệm này gồm những yếu tố chủ yếu không thể chuẩn chước vì khiến cho luật pháp mất ý nghĩa.
Thí dụ: không thể chuẩn chước việc cư ngụ để có trú quán, bởi vì trú quán có được là do sự có cư ngụ ở đó - cũng không thể chuẩn chước cho một giáo sĩ được miễn lãnh chức thánh, bởi vì nếu không chịu chức thánh thì không thể nào trở thành giáo sĩ được - cũng không thể chuẩn chước chức linh mục để làm cha xứ, bởi vì làm cha xứ phải là linh mục.
b. Liên quan đến các hành vi pháp lý.
Thí dụ : hôn nhân được kết thành do sự thỏa thuận của đôi vợ chồng, do đó không thể chuẩn chước sự thỏa thuận, bởi vì nếu không có sự thỏa thuận thì không thành hôn nhân (đ 86).
- Qui tắc 2 : mục đích của chuẩn chước là lợi ích của những thể nhân hoặc pháp nhân được ơn chuẩn. Bởi đó, Giáo luật ấn định rằng : các luật tố tụng và các hình sự không thể là đối tượng của chuẩn chước, bởi vì các luật này không trực tiếp lập ra vì lợi ích cá nhân, nhưng vì công ích (đ 87 §1).
3. Người có quyền chuẩn chước
Nói chung, những vị nắm quyền hành pháp và các vị hiển nhiên hoặc mặc nhiên có quyền chuẩn chước do luật định, hoặc do ủy quyền hợp pháp. Nói thế có nghĩa là không còn đòi hỏi phải có quyền lập pháp mới được ban ơn chuẩn. Có thể phân biệt 4 cấp :
a. Tòa thánh : có thẩm quyền chuẩn chước đối với tất cả các luật của Giáo hội.
b. Giám mục giáo phận và các vị đứng đầu các giáo hội địa phương nói ở điều 381 §2 có thẩm quyền chuẩn chước :
- Các luật của giáo phận - những luật của công đồng địa phương hay hội đồng giám mục (đ 88).
- Những luật phổ quát và những luật mà thẩm quyền tối cao của Giáo hội đã ra cho địa phương của mình, trừ những luật về tố tụng, về hình sự và những gì mà Tòa thánh đã dành lại cho mình hay dành cho quyền bính khác (đ 87 §1).
Thí dụ : giám mục giáo phận không thể chước luật độc thân cho các linh mục (đ 291).
a. Thường quyền sở tại là giám mục, tổng đại diện và đại diện giám mục, có thể ban chuẩn chước :
- Một luật vô hiệu hoặc vô năng, nếu có hồ nghi về sự kiện, khi là một ơn chuẩn mà Tòa thánh vẫn thường ban, thí dụ : một cuộc bỏ phiếu mà số phiếu nhiều hơn số người bỏ phiếu.
- Các luật của giáo phận.
- Luật mà Tòa thánh dành quyền chuẩn chước, nhưng Tòa thánh cũng thường ban mỗi khi có khó khăn trong việc nại đến Tòa thánh, và liều mình có thiệt hại nặng nếu phải chờ đợi (đ 87 §2).
b. Linh mục chính xứ, các linh mục khác hoặc các phó tế : chỉ có quyền chuẩn chước khi nào luật minh thị nói như vậy.
Thí dụ :
- Điều 1196, 1 : chuẩn lời khấn tư.
- Điều 1245 : chuẩn nghĩa vụ ăn chay, kiêng thịt và dự lễ ngày Chúa nhật, lễ buộc.
- Điều 1079 §2 : chuẩn ngăn trở hôn phối trong trường hợp nguy tử.
Ngoài ra, các linh mục chính xứ và các linh mục cũng có thể được giám mục ủy quyền để chuẩn chước những luật khác.
Như vậy, các linh mục không được chuẩn chước luật phổ quát và đặc lập, trừ khi quyền ấy được minh nhiện ban cho các ngài (đ 89).
4. Lý do chuẩn chước
- Trước khi chuẩn chước, người có thẩm quyền phải cân nhắc những lý do xem có chính đáng và hợp lý không, cũng như cân nhắc những hoàn cảnh chiếu theo tầm độ quan trọng của mỗi luật (đ 90 §1).
Lý do chuẩn là vì lợi ích tinh thần của tín hữu, nếu không có lý do như thế, sự chuẩn chước sẽ bất thành hiệu.
- Khi có hồ nghi về gía trị đủ của lý do, thì ơn chuẩn chước vẫn được ban cách thành sự và hợp pháp (đ 90 §2).
5. Những người được hưởng chuẩn chước
- Vị có quyền chuẩn chước sẽ có thể tự chuẩn chước cho mình, vì không có gì cấm ngài làm như thế khi ngài ở trong hoàn cảnh có lý do chính đáng và hợp lý (đ 91).
- Người có thẩm quyền có thể chuẩn cho các thuộc dân của mình (những người có gia cư hoặc chuẩn cư trong giáo phận hay giáo xứ) kể cả khi họ hiện đang vắng mặt; người có thẩm quyền cũng có thể chuẩn chước cho những người hiện đang có mặt trên lãnh thổ của mình tuy không phải là thuộc dân (đ 91).
6. Cách giải thích
- Ơn chuẩn chước phải được giải thích theo nghĩa hẹp và kiểu nói thông dụng chiếu theo điều 36 §1, vì đây là một văn thư hành chánh riêng biệt được ban cho một cá nhân để miễn cho người đó khỏi phải tuân hành một luật (đ 92).
- Quyền được ủy để giải thích một trường hợp cụ thể cũng phải được giải thích theo nghĩa hẹp.
7. Chấm dứt
Việc chuẩn chước gồm nhiều hành vi kế tiếp, chấm dứt cùng một cách thức như đặc ân, và khi lý do để chuẩn chước chắc chắn đã hết hẳn (đ 93).
“Những hành vi kế tiếp” phải được hiểu là một chuỗi những hành vi y như nhau, hoặc cùng bản chất, diễn ra trong một thời gian. Việc thi hành hoặc sử dụng ơn chuẩn chước đôi khi không diễn ra bằng một hành vi duy nhất (như việc kết hôn, sau khi nhận được chuẩn chước về cản trở), nhưng bằng một chuỗi những hành vi (như được chuẩn chước giữ chay và kiêng thịt).
III. QUI CHẾ VÀ NỘI QUI
A. QUI CHẾ
1. Định nghĩa
Chính điều 94 đưa ra định nghĩa : Qui chế là những điều lệ được thiết lập theo luật cho những tập thể hoặc người hoặc sự vật, để ấn định mục đích, cơ cấu, việc điều hành và cách thức hoạt động của chúng (đ 94 §1).
Sau đây là những yếu tố mà Giáo luật đề ra cho các qui chế:
- Tên của thực thể (đ 304 §2)
- Mục đích hoặc đối tượng xã hội (đ 94, 304 §1)
- Trụ sở chính (đ 304 §1)
- Cấu trúc (đ 94)
- Việc cai quản, cách thức hoạt động và đại diện (đ 94, 304 §1, 587).
- Điều kiện gia nhập, thử thách, đào tạo, nhận vào, kỷ luật, ra khỏi hoặc bị loại ra của các thành viên (đ 304 §1, 316 §2, 587, 614, 734).
- Các hình thức bầu chọn và quyết định (đ 118 và 119).
- Khả năng có di sản và các nguyên tắc quản lý (đ 634, 718).
- Các cách sát nhập, phân chia, giải thể, chấm dứt sự hiện hữu của thực thể, và quyết định về tài sản (đ 120-123; 326).
2. Phân biệt rõ đối tượng của qui chế
- Qui chế của tập thể người chỉ buộc những ai chính thức là thành viên của tập thể.
- Còn qui chế của tập thể sự vật, buộc những ai có trách nhiệm điều hành tập thể (đ 94 §2).
3. Quyền thiết lập và công bố qui chế
Các qui định trong qui chế được thiết lập và công bố bởi quyền lập pháp, theo những qui định của các điều nói về luật (đ 94 §3).
Quyền lập đây là quyền cai quản, quyền hành pháp, tức là vị thường quyền.
B. NỘI QUI
1. Định nghĩa
Nội qui là những điều lệ hay qui tắc phải tuân giữ trong các cuộc hội họp do quyền bính Giáo hội triệu tập, hoặc do các tín hữu tự ý tụ họp, cũng như trong các cử hành khác. Nội qui ấn định những gì thuộc về cơ cấu, việc điều hành và những thể thức làm việc (đ 95 §1).
Những ai tham dự các cuộc hội họp hoặc các cuộc cử hành, buộc phải giữ những điều lệ của nội qui (đ 95 §2).
2. Thẩm quyền phê chuẩn
Những điều lệ này thường được tập trung lại trong các cuốn sách khác, hoặc trong một phần tách biệt của các qui chế.
Vì thế, các điều lệ này không cần phải có sự phê chuẩn của hàng giáo phẩm, và có thể được thay đổi theo các hoàn cảnh mà không cần hàng giáo phẩm phải phê chuẩn càc sự thay đổi đó.