On The Intellectual Love Towards God In Spinoza’s Ethics (P2)
Khi xét đến năng lực trí tuệ xét như là một tác nhân nhận thức để đạt được hạnh phúc đích thực của đời sống, Spinoza cho rằng trật tự trí tuệ sẽ giúp chúng ta nhận biết bản thân và nhận biết Thượng đế bằng một tình yêu trí tuệ. Thật vậy, ý niệm về Thượng đế là nền tảng tối hậu của tri thức nhằm giúp con người trở về với Thượng đế trong sự hiểu biết và tình yêu tròn đầy nhất.
Tiếp theo từ Phần 1
Chương 2
Bàn Về Năng Lực Tinh Thần
Xét Như Tri Thức Và Nền Tảng Hành Vi
Spinoza thấy rằng tri thức đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hành vi đạo đức. Đối với Spinoza, tri thức không phải là một cùng đích tự thân, mà là một thứ chìa khóa duy nhất và không thể thiếu để giải phóng và cứu rỗi con người. Như vậy, tri thức có một cấu trúc xác định và một tập hợp các dạng thức, cũng như mối quan hệ với các thực tại như con người, ý niệm, sự vật và thân xác, mà triết học xét như là một ý niệm ideae (tri thức phản thân).
Trong phần này, bàn về năng lực tinh thần xét như là tri thức và nền tảng hành vi, người viết sẽ khởi đi từ tư tưởng chủ đạo của Spinoza về các trật tự và sự phụ thuộc của các ý niệm vào Thượng đế để từ đó đi xa hơn đến nguồn gốc tinh thần của con người. Những ý niệm về tự nhận thức và tính đa phức của tinh thần sẽ được đề cập đến trong phần này. Sau đó, người viết sẽ trình bày về ba loại tri thức để thấy được những giới hạn tri thức của tinh thần và khả năng nhận biết về yếu tính vô hạn Thượng đế. Điều này dẫn đến sự phụ thuộc của con người vào các quy luật của thuộc tính vô hạn và của tư tưởng xét như một dạng thức của chúng. Thật vậy, trong tất cả các quy luật của vũ trụ, các quy luật tinh thần là đối tượng khám phá chính của Spinoza mà siêu hình học của ông đặt nền tảng trong phần đầu tiên của tác phẩm.[31]
1. Trật tự và sự phụ thuộc của ý niệm vào Thượng đế
Lý thuyết về tri thức trong tác phẩm Ethics thường được xem là lý thuyết về nhiều mối quan hệ tất yếu giữa con người và Thiên nhiên. Spinoza đã lập luận rằng: “Điều cấu thành nên hữu thể của tinh thần con người không gì khác hơn là ý niệm về một sự vật cụ thể đang thực hữu” (IIp11). “Ý niệm cấu thành nên hữu thể hình thức của tinh thần con người không đơn thuần, nhưng bao gồm nhiều ý niệm” (IIp15). Các mệnh đề này chỉ ra rằng cái thiết lập nên hữu thể thực sự của tinh thần không gì khác hơn là một ý niệm đa phức. Nói cách khác, tinh thần có thể được nhận thức như một kinh nghiệm nhận thức đa phức.
Một ý niệm không chỉ là một nội dung cụ thể hay một sự mô phỏng của tinh thần về các đối tượng. Chính xác hơn, một ý niệm nên được hiểu là một thực thể chủ động, nơi mà nội dung biểu thị và diễn tả một quyết định của hoạt động tư duy. Theo nghĩa này, một ý niệm, hay đúng hơn là việc hình thành của một ý niệm, sẽ có một tác động lên mỗi cá nhân, vì nó hiện thực hóa một phần năng lực tư duy nơi chúng ta. Qua đó, con người đưa Thiên nhiên vào trong tinh thần và thân xác của mình, và siêu việt hóa bản thân vào trong Thiên nhiên. Vì ý niệm của mỗi cá nhân hiện hữu nơi Thượng đế (IIp9) trong chừng mực một cá nhân chịu tác động bởi một ý niệm về một sự vật cụ thể khác trong trật tự tự nhiên, nên sự tri thức về từng thành phần của thân xác hiện hữu nơi Thượng đế hay Thiên nhiên trong chừng mực người ấy chịu tác động bởi nhiều ý niệm về các sự vật và không có ý niệm gì về thân xác. Đây chính là ý niệm cấu thành bản chất của tinh thần con người. Tóm lại, xét như một ý niệm đa phức, tinh thần có thể được nhận thức như một tập hợp đa phức của các mối tương tác giữa Thiên nhiên và chính tinh thần.[32]
Spinoza lý giải về loại tri thức thứ ba là: “tri thức bằng trực quan bắt nguồn từ một ý niệm đầy đủ về yếu tính hình thức của các thuộc tính của Thượng đế dẫn đến tri thức đầy đủ về yếu tính của sự vật” (IIp40 Note II). Lưu ý này của Spinoza thể hiện một tiến trình trong tri thức trực quan từ một ý niệm về yếu tính Thượng đế tới tri thức về yếu tính sự vật. Như vậy, tri thức trực quan (scientia intuitiva) trong IIp40 được Spinoza gọi là tri thức thuộc loại thứ ba, hay tri thức đầy đủ về yếu tính của sự vật. Tri thức trực quan bắt nguồn từ một ý niệm đầy đủ về yếu tính của sự vật xét như là diễn tả của các thuộc tính của Thượng đế, dẫn đến tri thức đầy đủ về yếu tính của sự vật xét như là diễn tả của Thượng đế và sự tổng hòa của tất cả các thuộc tính. Như vậy, tri thức đầy đủ về yếu tính của sự vật được xem là cao hơn so với sự tri thức đầy đủ về các thuộc tính của Thượng đế, tức là các hoạt động tinh thần vô hạn và vĩnh cửu của Ngài. Thật vậy, người ta thường dễ nhận thấy bằng kinh nghiệm rằng tri thức về những sự vật phát xuất từ các thuộc tính của Thượng đế thì cao hơn tri thức về chính các thuộc tính. Theo Spinoza, vì tri thức về yếu tính của sự vật tất yếu phải liên quan đến tri thức về Thượng đế (Ipl5, IIp45), nên tri thức về cái liên quan đến “hiện hữu tất yếu có điều kiện” nhất thiết phải liên quan đến tri thức về cái liên quan đến “hiện hữu tất yếu vô điều kiện”. Điều này có nghĩa là việc mô tả tri thức trực quan trong IIp40 phát xuất từ cách thức nhận biết Thượng đế (thông qua các thuộc tính) sang một cách thức khác (thông qua yếu tính của sự vật). Tuy nhiên, điều này ngay lập tức làm nảy sinh câu hỏi tại sao yếu tính của sự vật cung cấp cơ sở đầy đủ cho sự tri thức về Thượng đế, hơn là các thuộc tính. Các vấn đề ở đây liên quan đến ý nghĩa của chúng ta là “biết Thượng đế bằng cách biết các thuộc tính” và “biết Thượng đế bằng cách biết yếu tính của sự vật”.[33]
Những mệnh đề như “Tinh thần con người có tri thức đầy đủ về yếu tính vĩnh cửu và vô hạn của Thượng đế” (IIp47), “Tinh thần có tri thức về Thượng đế” (Vp30) cho thấy rằng tinh thần con người có thể nhận biết Thượng đế một cách trực tiếp, và độc lập với sự biến đổi hoặc biểu hiện nơi các dạng thức hữu hạn. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào nội dung của những mệnh đề này, chúng ta thấy rằng mặc dù Thượng đế khác biệt với bất kỳ dạng thức hữu hạn nào nhưng cũng không thể được tinh thần con người nhận thức là một hiện hữu hoàn toàn tách biệt với sự hiện hữu của các dạng thức hữu hạn. Mệnh đề IIp47 thể hiện rõ nét nhất góc nhìn này: “Tinh thần con người có một tri thức đầy đủ về yếu tính vĩnh cửu và vô hạn của Thượng đế” (IIp47). Trong phần chứng minh, Spinoza cho rằng tinh thần con người có những ý niệm mà từ đó, nó tri nhận được chính nó, thân xác của nó, và những thân xác bên ngoài thực sự là thực hữu (IIp47 Proof). Nhờ đó, nó có được một tri thức đầy đủ về yếu tính của Thượng đế. Tương tự, trong mệnh đề Vp31, Spinoza dường như đang đánh đồng “tri thức về Thượng đế” với “tri thức về các sự vật theo loại tri thức thứ ba”. Bởi lẽ, ta có thể tri nhận yếu tính vô hạn và vĩnh cửu của Thượng đế, và vì mọi sự vật đều hiện hữu trong Thượng đế và được nhận thức ngang qua Ngài, nên từ tri thức về Thượng đế, chúng ta có thể tri nhận một cách đầy đủ về các sự vật khác và hình thành nên loại tri thức thứ ba. Điều này hoàn toàn phù hợp khi nói về tri thức trực quan trong mệnh đề IIp40, trong đó tri thức về yếu tính của sự vật được coi là mục tiêu tối hậu, vì tri thức trực quan phát xuất từ một ý niệm đầy đủ về yếu tính của các thuộc tính của Thượng đế dẫn đến một tri thức đầy đủ về yếu tính của các sự vật.
Trong mệnh đề IIp38, Spinoza khẳng định rằng ý niệm về một thuộc tính là phổ quát cho tất cả mọi người bởi vì mọi thân xác đều nhất quán với thuộc tính đó. Từ tuyên bố này, ta có thể thấy rằng dường như các thuộc tính, mặc dù khác biệt với các dạng thức hữu hạn tương ứng, đều được nhận biết bởi tinh thần trong hoặc thông qua tri thức về các dạng thức hữu hạn. Do đó, điều đúng với sự tri thức của con người về Thượng đế cũng đúng với sự tri thức của con người về các thuộc tính. Hơn nữa, khi lập luận rằng tri thức mà tinh thần con người có về Thượng đế và các thuộc tính tất yếu phải liên kết với tri thức về các dạng thức hữu hạn, người ta có thể suy ra rằng tinh thần hoặc trí tuệ của con người tự nó là một dạng thức hữu hạn, nghĩa là, một diễn tả về Thượng đế và các thuộc tính.[34]
2. Mối quan hệ tất yếu giữa tinh thần với Thiên nhiên
2.1. Sự tự nhận thức của tinh thần
Mối quan hệ tất yếu giữa một cá nhân và Thiên nhiên có thể được diễn tả dưới góc độ tự nhận thức của tinh thần. Spinoza không cho rằng sự tự nhận thức của tinh thần có một vị trí cao hơn tri thức của nó về sự vật cụ thể. Vì tinh thần được nhận thức như một kinh nghiệm nhận thức đa phức nên sự tự nhận thức ắt hẳn là một ý niệm về ý niệm đa phức này. Spinoza cho rằng: “Tinh thần không có tri thức về chính nó trong chừng mực nó tri nhận được các ý niệm về những biến đổi của thân xác” (IIp23).[35] Theo Spinoza, tri thức của tinh thần phát xuất từ Thượng đế và quy về Ngài (IIp20). Tuy nhiên, vì tinh thần con người không biết về thân xác (IIp19), nghĩa là, vì tri thức về thân xác không được quy về Thượng đế trong chừng mực Ngài cấu thành bản chất của tinh thần con người, nên tinh thần con người cũng không có tri thức về chính nó. Những ý niệm về sự biến đổi tác động lên thân xác bao hàm bản chất của chính thân xác, tức là nó tương hợp với bản chất của tinh thần. Do đó, tri thức về những ý niệm này nhất thiết phải bao hàm tri thức về tinh thần.
Ngoài ra, Spinoza còn lập luận rằng: “Tinh thần con người không tri nhận thân xác bên ngoài là thực hữu ngang qua những ý niệm về các biến đổi của thân xác” (IIp26). Từ những mệnh đề này ta có thể thấy tinh thần không có tri thức về chính nó, trong chừng mực tinh thần nhận thức được những ý niệm về biến đổi của thân xác bởi thân xác khác, nghĩa là trong chừng mực nó nhận thức được những thân xác khác. Nói cách khác, sự tự nhận thức của tinh thần phải bao hàm tri thức về Thiên nhiên và ngược lại, tri thức về Thiên nhiên bao hàm sự tự nhận thức của tinh thần.
2.2.Nhận thức con người trong Thiên nhiên
Trong tác phẩm của mình, Spinoza còn bàn về cách con người, tinh thần và thân xác, ở các mức độ khác nhau trở thành một phần của Thiên nhiên xét như một tổng thể. Đó là cách con người trải dài tinh thần và thân xác của mình vào Thượng đế hay Thiên nhiên.
Đối với Descartes, những định nghĩa về Thượng đế của Kitô giáo là đầy đủ và tất yếu. Thượng đế siêu việt đã tự mặc khải cho chúng ta, và chúng ta nhận thức được sự tương phản giữa các thụ tạo hữu hạn trong trật tự tự nhiên là công trình sáng tạo của Thượng đế với chính Đấng Tạo hóa vô hạn và toàn tri, Đấng thấu hiểu được công trình sáng tạo của Ngài một cách tất yếu. Do đó, sự phát triển của con người về mặt tri thức là sự phát triển của những tinh thần hữu hạn vốn không bao giờ có thể đạt được sự tri thức đầy đủ về trật tự tự nhiên xét như là một khoa học tối hậu và toàn vẹn. Tuy nhiên, con người nhận thấy rằng, trong hành động sáng tạo, Đấng Tạo hóa đã ban cho con người một vị trí đặc biệt trong trật tự tự nhiên, và Thượng đế là một Đấng hoàn bị sẽ không bao giờ lừa dối chúng ta. Do đó, chúng ta có đủ sự tin tưởng vào các tiêu chuẩn của lý trí mà chúng ta tuân theo trong việc suy tư và thừa nhận các lý thuyết. Chúng ta có cơ sở để thấy rằng những ý niệm rõ ràng và biện biệt của chúng ta là chân xác. Chúng ta có thể thấy rằng khoa vật lý bao lâu còn đủ mạch lạc và thuyết phục về mặt toán học thì nó vẫn sẽ là một diễn tả chân xác của thực tại, mặc dù chỉ là một thực tại cục bộ và không đầy đủ.
Sự khác biệt giữa Spinoza với Descartes nằm ở một luận điểm về siêu hình học với những hệ quả trong tri thức luận. Trong tác phẩm Ethics, chúng ta chuyển từ siêu hình học sang tri thức luận, bởi vì chúng ta phải biết vị trí của con người trong quy mô hiện hữu trước khi chúng ta có thể suy ra đặc tính và giới hạn của tri thức con người. Nếu Thượng đế đã tạo dựng con người theo hình ảnh của chính Người, và nếu Người là toàn năng và hoàn bị, thì có thể suy ra một cách chắc chắn rằng Người không tạo ra một thế giới mà ở đó loài người bị lừa dối một cách có hệ thống để mưu cầu chân lý. Ngược lại, con người có được đặc ân tuyệt đối trong trật tự tự nhiên, với những sức mạnh phân tách chúng ta khỏi tất cả các loài thụ tạo khác bằng một lằn ranh rõ ràng. Về mặt trí tuệ, duy chỉ con người sở hữu một tinh thần nhằm diễn tả thực tại. Sức mạnh của tinh thần bị giới hạn bởi nó cư trú trong một thân xác có cảm giác và tri giác, gây nhầm lẫn và che khuất ánh sáng thuần khiết của trí tuệ. Mặc dù tinh thần của con người chỉ có thể nhận thức một sự vật theo trật tự tự nhiên và không có tri thức đầy đủ về chính nó, về thân xác của nó, cũng như về thân xác bên ngoài, mà chỉ là những tri thức hỗn loạn và bị cắt xén (IIp23), nhưng nó vẫn trổi vượt hơn phần còn lại của trật tự các sự vật thụ tạo.[36]
Quan điểm triết học của Spinoza về mối liên hệ giữa con người với Thiên nhiên dễ làm chúng ta liên tưởng đến hệ thống khoa học tự nhiên hiện đại. Sinh học Darwin khiến con người trở nên đồng bản chất với giới động vật; siêu hình học của Spinoza làm cho thân xác con người trở nên đồng bản chất với thuộc tính vô hạn của ngoại trương (extension) hay chất thể (matter), và tinh thần của con người trở nên đồng bản chất với thuộc tính vô hạn của tư tưởng là chính tinh thần của Thượng đế. Con người, xét như một dạng thức của ngoại trương và tư tưởng, tất yếu phải tuân theo các quy luật của hai thuộc tính này. Mối liên hệ căn bản giữa con người với vũ trụ được biến đổi một cách triệt để. Con người không còn là đứa con duy nhất của Thượng đế, và không còn được hưởng những đặc ân cùng sự che chở của Người nữa, nhưng giờ đây, con người chỉ là một dạng thức của một bản thể được quyết định một cách không thể thay đổi được bởi các quy luật phổ quát và bất biến.[37]
3. Ba loại tri thức
3.1. Tính giới hạn của tri thức con người
Spinoza cho rằng việc chủ động, tự do và được quyết định bởi những ý niệm đầy đủ thì đồng nhất với việc sống theo sự hướng dẫn của lý trí. Những ý niệm đầy đủ diễn tả một tri thức về các sự vật và hướng dẫn những con người chủ động và tự do tuân theo phán đoán của lý trí. Những ý niệm này phát xuất từ bản chất của chúng ta xét như những sinh vật có lý trí.
Những ý niệm của Spinoza về tâm lý rất gần với những ý niệm về đạo đức. Spinoza giải thích các hiện tượng tinh thần ngang qua các nguyên nhân khởi thủy bởi vì tri thức về bản chất con người là cách chữa trị tận căn nhất. Trở ngại lớn nhất mà một người phải đối mặt là bản chất cảm xúc của người ấy, không phải vì bản chất ấy vốn đã xuống cấp hay tội lỗi nhưng vì bản chất cảm xúc thường làm chủ bản chất lý trí, và khiến người ta lạc lối. Khi cảm xúc không được kiềm chế và không được định hướng bởi tri thức và trí tuệ, chúng sẽ tự kết hợp vào bất cứ sự vật nào có khả năng kích thích chúng, và ngay lập tức làm giảm đi sự phán đoán của con người. Dưới sự thống trị của những cảm xúc, người ta không thể lựa chọn và đi theo những lộ trình đúng đắn, bởi vì tinh thần người ấy bị nhấn chìm trong hiện tại phù phiếm. Khi khao khát tìm về những niềm vui chóng qua, con người đánh mất đi hạnh phúc tối hậu của mình.[38]
Khi đề xuất ba loại tri thức, Spinoza cho rằng loại tri thức đầu tiên chỉ bao gồm những ý niệm không đầy đủ và sai lạc. Chúng sai lạc vì chúng không tương ứng với bản chất của các đối tượng bên ngoài (như suy ra từ IID4). Thay vào đó, những ý niệm như vậy chỉ ra “tình trạng của thân xác chúng ta hơn là bản chất của các thân xác bên ngoài” (IIpl6). Ý niệm về sự tưởng tượng nhất thiết phải liên quan đến các thân xác bên ngoài. Về mặt này, chúng không khác những ý niệm của lý trí và trực giác nhưng sự khác biệt nằm ở cách cá nhân bị tác động. Mệnh đề IIp16 nói rằng những gì được coi là bản chất của đối tượng bên ngoài trong các ý niệm sai lạc phần lớn được quyết định bởi các khuynh hướng của chúng ta. Những ý niệm cục bộ và dễ thay đổi này đến từ kinh nghiệm giác quan và sự tưởng tượng. Spinoza mô tả những ý niệm này là “bị cắt xén, hỗn loạn và không theo trật tự trí tuệ”. Loại tri thức đến từ kinh nghiệm ngẫu nhiên này không phải là tri thức mà chỉ là một quan điểm. Những ý niệm quá chủ quan như vậy là những hướng dẫn không đáng tin cậy khi nhìn về cách thức thế giới hiện hữu và hoạt động. Mặc dù những ý niệm này chỉ cho chúng ta thấy về cách các sự vật tác động lên chúng ta ở hiện tại hoặc trong quá khứ, nhưng với Spinoza, tri thức về loại đầu tiên hoàn toàn là mang tính chủ quan.[39]
Spinoza dường như cho rằng tinh thần luôn có khả năng nuôi dưỡng những ý niệm của sự tưởng tượng. Tuy nhiên, để đạt được hạnh phúc lớn nhất, loại tri thức thứ nhất này rõ ràng là không đầy đủ. Nó khiến cho cá nhân tự cho mình là trung tâm. Theo một cách nào đó, nó phân cách người ấy khỏi những người khác và với Thiên nhiên, nghĩa là, nó không còn là một phần của hệ thống các thuộc tính chung hay các trung gian tương tác của Thiên nhiên xét như một tổng thể. Trong một chuỗi các ý niệm không đầy đủ và sai lạc, cá nhân không phải là người làm chủ bản thân. Người ấy không thể tự mình quyết định, mà phải chịu sự tác động của các lực bên ngoài. Người ấy thiếu đi cả về mặt tri thức và lẫn tự tri thức. Đây có thể là lý do tại sao những cá nhân sống theo các ý niệm của sự tưởng tượng, và ít quan tâm đến các ý niệm của lý trí và trực giác là những người có xu hướng coi mình là thầy của người khác và người chủ của thiên nhiên.[40]
Ngược lại, tri thức về loại thứ hai và tri thức về loại thứ ba luôn luôn đúng và tất yếu phải đúng. Spinoza gọi tri thức về loại thứ hai là “lý trí” và tri thức về loại thứ ba là “trực giác”. Cả hai đều chứa đựng những ý niệm đầy đủ thể hiện sự tri thức sâu sắc, có cơ sở siêu hình về các sự vật trong thế giới và vén mở bản chất thực sự của chúng. Spinoza cho rằng: “Bản chất của lý trí là nhận thức mọi thứ một cách chân thực như cách chúng hiện hữu nơi chính chúng, không phải một cách bất tất nhưng một cách tất yếu” (IIp44). Nhưng nếu ý niệm đầy đủ của lý trí cho thấy các sự vật thực sự là gì, thì chúng cũng phải chỉ ra lý do tại sao mọi sự vật hiện hữu và tại sao chúng không là cái khác. Tri thức đầy đủ về các sự vật đòi hỏi phải có tri thức về nguyên nhân của nó.[41] Đặc tính kinh nghiệm nhận thức của các ý niệm về lý trí, mặc dù đầy đủ và đúng nhưng vẫn chỉ cung cấp cho cá nhân một năng lực tư duy hạn chế. Có thể nói, lý trí, hay những ý niệm thuộc loại tri thức thứ hai, biến một tổ chức năng động của các cá nhân thành một hệ thống tĩnh trừu tượng gồm những quan niệm và thuộc tính phổ quát về sự vật.
3.2. Acquiescentia xét như khía cạnh cảm xúc của loại thứ nhất và loại thứ hai
Giống như bất kỳ tình cảm yêu hay ghét nào, “acquiescentia in se ipso” là một cảm xúc về mặt nhận thức, vì nó bao hàm nhận thức là ý niệm về một nguyên nhân. Spinoza viết rằng: “Lòng tự trọng (acquiescentia in se ipso) có thể phát sinh từ lý trí, và lòng tự trọng chỉ phát sinh từ lý trí là điều thiện hảo nhất”. Khi ấy, “lòng tự trọng là điều thiện hảo nhất mà chúng ta mong đợi” (IVp52). Do đó, Spinoza sắp xếp acquiescentia theo sự phân biệt của ông giữa ba loại tri thức: sự tưởng tượng, lý trí, và tri thức trực quan. Khái niệm về acquiescentia chỉ ra đặc tính riêng biệt của tự do, phẩm tính và hạnh phúc. Nói cách khác, acquiescentia truyền đạt chiều kích kinh nghiệm, cảm xúc của điều tốt đẹp nhất của con người. Ngoài ra, phân tích của Spinoza về acquiescentia còn làm sáng tỏ ba loại tri thức, mà ông thấy nơi chúng luôn có một chiều kích cảm xúc. Khi chỉ dựa trên sự tưởng tượng, acquiescentia là một sự thỏa mãn trống rỗng, nông cạn và bốc đồng. Khi nó được bắt nguồn từ loại tri thức duy lý, nó trở thành một niềm vui ổn định có thể được chia sẻ với những người khác. Khi được bắt nguồn từ loại tri thức trực quan, acquiescentia biểu thị cảm xúc đặc biệt khi thông dự vào sự vĩnh cửu của Thượng đế, và đưa ra nội dung cho ý niệm trừu tượng về tình yêu trí tuệ dành cho Thượng đế.
Xuyên suốt tác phẩm Ethics, acquiescentia được sử dụng theo cách phản ánh cách chính xác định nghĩa hình thức của Spinoza về cảm xúc này. Theo đó, acquiescentia là một niềm hoan lạc đi kèm với ý niệm về bản thân xét như nguyên nhân (hoặc bởi ý niệm về một “nguyên nhân nội tại”). Nói cách khác, acquiescentia là niềm vui nảy sinh khi chúng ta nhìn về bản thân và năng lực hành động của mình. Theo Spinoza, tri thức không đầy đủ được tạo ra bởi loại tri thức đầu tiên dẫn đến acquiescentia sai lạc, trong khi tri thức đầy đủ đạt được ở loại tri thức thứ hai và thứ ba tạo ra acquiescentia chân xác.
Acquiescentia của loại thứ nhất[42] liên hệ đến “tri thức của loại thứ nhất” dựa trên “quan điểm hoặc sự tưởng tượng”. Niềm tin vào ý chí tự do không phải là cơ sở của suy tư hình dung, mà là một ví dụ đặc biệt quan trọng của nó. Niềm vui sướng của acquiescentia bị điều kiện hóa bởi dư luận mà phần đa những quan điểm này là những định kiến và mê tín. Spinoza cho rằng mối quan hệ của chúng ta với bản thân gắn bó mật thiết với mối quan hệ của chúng ta với người khác. Điều này có nghĩa là đối với các vấn đề liên quan đến sự tưởng tượng, acquiescentia thường được cấu thành do bởi ảnh hưởng của xã hội đa phức. Giống như những con sóng trên biển bị những luồng gió trái ngược đánh lái, chúng ta bị xô đẩy mà không biết trước kết cục hay số phận của mình. Vì những người theo đuổi loại acquiescentia này thường cạnh tranh một cách gay gắt với những người khác, nên lòng yêu mình hay acquiescentia nơi họ trở thành một điều trống rỗng. Spinoza cho rằng người thiếu tri thức đầy đủ là người hay bồn chồn, lo lắng và sợ hãi. Spinoza còn nhấn mạnh rằng ý niệm về các nguyên nhân ngoại tại thường tác động lên tình trạng acquiescentia là cái liên hệ đến ý niệm về một nguyên nhân nội tại, tức là ý niệm về bản thân xét như một nguyên nhân. Mối liên hệ giữa acquiescentia và các nguyên nhân ngoại tại chỉ ra rằng sự tùng phục giúp ta phân biệt acquiescentia sai lạc với acquiescentia chân xác. Khi xem xét hai loại acquiescentia chân xác, chúng ta sẽ thấy rằng sự tùng phục nội tại thuộc loại tri thức thứ hai có thể được gọi là sự tự chủ, trong khi sự tùng phục nội tại thuộc loại tri thức thứ ba được đặc trưng bởi sự phụ thuộc vào Thượng đế. Trong trường hợp acquiescentia sai lạc, một người không tuân theo các quy luật nơi bản chất của mình trong chừng mực được quyết định bởi các nguyên nhân ngoại tại, nghĩa là anh ta chối bỏ tính tất yếu thần linh cho chừng mực anh ta tin rằng mình có ý chí tự do. Nói cách khác, acquiescentia sai lạc chịu khuất phục bởi các tác động ngoại tại, thậm chí cả ý niệm về chính mình, bởi vì ý niệm về chính mình là một hình ảnh không đầy đủ bị tác động bởi những quan điểm nhất thời của đám đông. Như vậy, đối với Spinoza, acquiescentia sai lạc được mô tả là thiếu đi sự tùng phục và tĩnh tại.
Khi xây dựng acquiescentia thuộc loại thứ hai,[43] Spinoza đã ám chỉ đến cả sự tùng phục và sự tĩnh tại. Liên quan đến sự tùng phục, ông viết rằng “khi một người tự nhìn về bản thân, người ấy không nhận thức được gì một cách rõ ràng và biện biệt, hoặc đầy đủ, ngoại trừ những sự vật khác phát xuất từ năng lực hiểu biết của người ấy” (IVp52). Liên quan đến sự tĩnh tại, ông nhấn mạnh rằng acquiescentia là một cùng đích tự thân (an end in itself). Acquiescentia theo loại này thực sự là điều cao quý nhất mà chúng ta có thể hy vọng bởi vì “không ai phấn đấu gìn giữ hữu thể của mình vì bất kỳ cùng đích nào khác cả” (IVp52 Note). Quan niệm của Spinoza về acquiescentia đầy đủ bao hàm một sự tùng phục nơi chính mình, được hiểu là tuân theo các quy luật tự bản chất của mỗi người. Hành động từ lý trí không là gì khác hơn là thực thi những việc xuất phát từ tính tất yếu của bản chất chúng ta và chỉ nhìn về chính nó mà thôi. Acquiescentia chân xác về mặt phản tư bao gồm những sự vật bắt nguồn từ năng lực hiểu biết. Sự thỏa mãn cao nhất của tinh thần (summa animi acquiescentia) bắt nguồn từ nguyên tắc sống đúng đắn và là sự thừa nhận mà nơi đó, mọi hữu thể tuân theo “tính tất yếu của Thiên nhiên” đều dẫn đến tình trạng bình an của acquiescentia. Trên thực tế, chúng ta không có năng lực tuyệt đối để điều chỉnh những sự vật ngoại tại vào mục đích của bản thân. Tuy nhiên, khi chúng ta ý thức được rằng chúng ta là một phần của toàn thể Thiên nhiên mà chúng ta tuân theo, chúng ta sẽ có khả năng giữ bình tĩnh trước những sự việc xảy đến với chúng ta trái với những gì mà nguyên tắc về lợi ích của chúng ta đòi hỏi. Khi chúng ta hiểu rằng chúng ta chẳng muốn gì ngoại trừ những gì tất yếu, và cũng chẳng bằng lòng tuyệt đối (in veris acquiescere) với bất kỳ điều gì trừ những gì chân xác, thì lúc đó, “tất cả mọi sự vật đều tuân theo mệnh lệnh vĩnh cửu của Thượng đế với cùng một tính tất yếu vĩnh cửu giống như từ yếu tính của một hình tam giác, theo đó ba góc của nó bằng hai góc vuông” (IIp49 Note).
Khi nhìn về sự tùng phục nội tại của acquiescentia chân xác, chúng ta có thể xác định hai khía cạnh của nó như sau: Một mặt, chúng ta tích cực tuân theo các quy luật của bản chất chúng ta khi chúng ta có lý trí và có phẩm tính. Mặt khác, chúng ta tích cực tuân theo các quy luật tự nhiên xét như một tổng thể khi chúng ta ý thức rằng chúng ta là một phần của Thiên nhiên và vì thế cần phải tuân theo nó. Mặc dù khía cạnh trước liên hệ đến những gì nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta, và khía cạnh sau liên hệ đến những gì nằm ngoài tầm kiểm soát này, nhưng cả hai đều dựa trên tri thức đầy đủ, mà tự nó là sự diễn tả năng lực của chính chúng ta. Do đó, “sự thỏa mãn (acquiescentia) chẳng muốn gì ngoại trừ những gì tất yếu”, tức là chẳng muốn gì ngoại trừ những gì đang hiện hữu. Điều này cho thấy một loại khao khát tự thân bắt nguồn từ chính lý trí mà con người có thể xem xét một cách rõ ràng và biện biệt. Nếu bản chất của hiện hữu là khao khát và phấn đấu thì acquiescentia đầy đủ không ngăn cản năng lực này, nhưng ổn định nó và làm cho nó trở nên nội tại hơn.
Chương 3
Bàn Về Năng Lực Trí Tuệ
Trong tác phẩm của mình, Maimonides đã nói đến việc thoát ly khỏi những thăng trầm của số phận của một người với trí tuệ hoàn thiện để nhờ đó đạt được thành tựu cao nhất của phẩm tính là “Thượng đế hiện hữu ở nơi người ấy và không có sự dữ nào có thể đến với người ấy”. Maimonides nói rằng: “Dù người ấy có băng qua một đại chiến trường khi ngàn người bên tả bị giết và vạn người bên hữu không còn, thì cũng chẳng có tai họa nào có thể giáng trên đầu người ấy”. Dĩ nhiên, ta không nên hiểu nghĩa mặt chữ của đoạn trích này vì đối với Maimonides, người có phẩm tính với tri thức về vũ trụ và thiên nhiên chắc chắn sẽ có thể điều hướng lối sống của mình nơi thế giới này một cách thành công hơn những người khác và làm giảm thiểu sự đau khổ và buồn phiền mà người ấy phải gánh chịu. Tuy nhiên, Maimonides không thể có ý là người này sẽ không bao giờ bị tổn thương hoặc chịu đau khổ nhưng ngược lại, người ấy sẽ vượt lên trên những nỗi đau khổ và buồn phiền xảy ra trong suốt cuộc đời mình. Người ấy sẽ xem những đau khổ ấy chẳng đáng là gì so với điều tốt thật sự và vĩnh cửu mà người ấy được thụ hưởng là chính tri thức về Thượng đế.[44] Những tư tưởng này của Maimonides đã ảnh hưởng phần nào lên quan niệm của Spinoza về cái tốt vĩnh cửu cũng như hạnh phúc thực sự của người nhận biết Thượng đế.
1.Sự sắp xếp và kết nối các biến đổi của thân xác theo trật tự trí tuệ
1.1.Trật tự trí tuệ trong tinh thần
Khởi đầu phần V, Spinoza cho người đọc thấy một sự sắp xếp tư tưởng và ý niệm theo trật tự tinh thần với hai tiên đề:
Nếu hai hành động trái ngược nhau được khơi dậy trong cùng một chủ thể thì nhất thiết phải diễn ra một sự thay đổi nơi cả hai hoặc chỉ một trong hai hành động này cho đến khi chúng không còn trái ngược nhau nữa.
Sức mạnh của cảm xúc được xác định bởi sức mạnh của nguyên nhân của cảm xúc trong chừng mực yếu tính của nó được diễn tả hoặc được xác định ngang qua yếu tính của chính nguyên nhân.
Trong mệnh đề 1, Spinoza đề xuất một trật tự tinh thần như sau: “Cũng giống như tư tưởng và ý niệm của tinh thần được sắp xếp và kết nối trong tinh thần, vì vậy trong thân xác, những biến đổi của nó hoặc biến đổi của sự vật được sắp xếp và kết nối theo một trật tự xác định” (Vp1). Theo Spinoza, ta có thể thấy rằng trật tự và sự kết nối của các ý niệm giống như trật tự và sự kết nối của các sự vật. Vì lẽ đó, trật tự và kết nối của các biến đổi của thân xác được thực hiện theo các ý niệm về các sự vật được sắp xếp và kết nối trong tinh thần. Mệnh đề này đặt một trật tự tinh thần làm nền tảng cho những biến đổi của thân xác là nơi mà các cảm xúc được thể hiện. Nói một cách khác, chúng ta có thể hình thành quan niệm rõ ràng và biện biệt về những biến đổi của thân xác. Spinoza chỉ ra rằng: “Một cảm xúc mãnh lực[45] sẽ không còn là một mãnh lực ngay khi chúng ta hình thành một ý niệm rõ ràng và biện biệt về nó” (Vp3), vì thế, “chúng ta càng biết đến một cảm xúc thì nó càng nằm trong năng lực của chúng ta và tinh thần càng ít bị động với cảm xúc ấy” (Vp3 Corol.). Do đó, không có cảm xúc nào mà chúng ta không thể hình thành một quan niệm rõ ràng và biện biệt. Vì một cảm xúc là ý niệm về một sự biến đổi của thân xác nên nó ắt hẳn phải bao hàm một quan niệm rõ ràng và biện biệt.
Theo Spinoza, vì mọi sự vật luôn có những tác động kéo theo nên khi một sự vật đến từ một ý niệm đầy đủ thì chúng ta có thể hiểu nó một cách rõ ràng và biện biệt. Như vậy, trong một mức độ nhất đinh, mỗi người đều có năng lực hiểu được bản thân và cảm xúc của mình, dẫn đến khả năng chủ động của người ấy trên những cảm xúc này. Khi phản tư, mỗi người cần tự mình chú ý đến việc hiểu rõ ràng và biện biệt từng cảm xúc và mức độ tiến triển của nó để nhờ đó, tinh thần có thể đưa ra những quyết định về những sự vật mà nó nhận thức một cách rõ ràng và biện biệt. Chính trong trật tự này, tinh thần tìm được sự thỏa mãn tròn đầy, và cảm xúc được tách ra khỏi những tư tưởng ngoại tại mà quay trở về với những tư tưởng chân xác. Từ đó, không chỉ những cảm xúc hỗn loạn sẽ bị tiêu diệt mà cả những mong muốn nảy sinh từ những cảm xúc đó cũng không đi đến mức thái quá.
Giả sử một người luôn mong muốn người khác phải sống theo ý niệm sống của mình. Theo Spinoza, nơi một người không được lý trí hướng dẫn thì mong muốn này sẽ trở thành một mãnh lực tham vọng. Ngược lại, nơi một người được lý trí hướng dẫn thì mong muốn này trở thành một phẩm tính được gọi là lòng sùng kính (pietas) (IVp37 Note I). Như vậy, mọi mong muốn chỉ là mãnh lực khi chúng nảy sinh từ những ý niệm không đầy đủ, và chúng được coi là phẩm tính khi chúng được kích thích hoặc được tạo ra bởi những ý niệm đầy đủ. Để vượt thắng và điều phối những cảm xúc này, ta cần trang bị một tri thức thực sự về chúng, vì không có năng lực nào khác của tinh thần được phú bẩm hơn là năng lực suy nghĩ và hình thành các ý niệm đầy đủ.
1.2.Cách tác động của tinh thần lên trên cảm xúc
Spinoza cho rằng: “Trong chừng mực tinh thần hiểu được mọi sự vật xét như tất yếu thì nó có nhiều năng lực hơn trên cảm xúc hoặc ít bị động hơn đối với cảm xúc” (Vp6). Thật vậy, tinh thần nhận biết mọi sự vật tất yếu được đi vào hiện hữu và hành động nhờ bởi những nối kết vĩnh cửu của các nguyên nhân (Ip28). Theo mệnh đề Vp5, cảm xúc hướng đến một sự vật mà chúng ta hình dung đơn thuần thì là cảm xúc lớn nhất trong các cảm xúc. Do đó, khi tinh thần hiểu được sự vật ấy, nghĩa là làm cho nó trở nên rõ ràng và biện biệt, thì nó sẽ trở nên ít bị động hơn trước những cảm xúc nảy sinh từ các nguyên nhân và nó sẽ ít bị chúng tác động hơn. Khi tri thức về các sự vật tất yếu càng được áp dụng nhiều vào những sự vật cụ thể mà chúng ta hình dung cách rõ ràng và biện biệt thì sức mạnh của tinh thần đối với cảm xúc càng lớn. Theo kinh nghiệm, ta thấy rằng những đau khổ khi ai đó mất đi một điều gì quý giá sẽ được nguôi ngoai dần khi người ấy chấp nhận một sự thật rằng chẳng ai có thể cứu vãn những sự việc đã xảy ra. Spinoza đưa thêm một ví dụ về trẻ sơ sinh. Thông thường, không ai lại thương hại một đứa trẻ sơ sinh vì nó không thể nói chuyện, đi lại, suy tư cả. Tuy nhiên, giả như mọi người khi sinh ra đều đã là người trưởng thành và duy chỉ có một đứa trẻ sơ sinh, thì người ta mới đủ lý do thương hại đứa trẻ ấy, vì họ xem thời thơ ấu không phải là một điều tất yếu nhưng là một sai sót trong tự nhiên. Tóm lại, khi tinh thần nhận biết được một sự vật tất yếu thì nó có khả năng điều phối được những cảm xúc và sức mạnh của tinh thần lên trên cảm xúc tỉ lệ thuận với mức độ áp dụng vào các sự vật cụ thể.
Spinoza nhận thấy rằng: “Nếu chúng ta xét tới thời gian thì những cảm xúc nảy sinh hoặc được kích thích bởi lý trí sẽ lớn hơn những cảm xúc liên hệ đến những sự vật cụ thể” (Vp7). Cảm xúc phát sinh từ lý trí nhất thiết phải liên quan đến các thuộc tính chung của sự vật mà chúng ta xem là hiện hữu vì không gì có thể cắt đứt sự hiện hữu của chúng. Vì thế, theo tiên đề I, những cảm xúc trái ngược với cảm xúc từ lý trí và không được gia cố bởi các nguyên nhân ngoại tại sẽ ngày càng phải thích ứng với cảm xúc lý trí cho đến khi chúng không còn trái ngược nữa. Nói một cách khác, những cảm xúc nảy sinh từ lý trí sẽ mạnh hơn những cảm xúc từ các sự vật cụ thể, và theo thời gian, lý trí sẽ có đủ sức mạnh để điều phối những cảm xúc này. Về số lượng các nguyên nhân liên hệ đến cảm xúc, Spinoza nhận thấy rằng cảm xúc tác động lên tinh thần liên hệ đến nhiều đối tượng cùng một lúc sẽ ít gây hại hơn so với một cảm xúc khác có mức độ tương đương chỉ khiến tinh thần bị xâm chiếm bởi chỉ một hoặc một vài đối tượng.
Spinoza khẳng định rằng: “Miễn là chúng ta không bị lèo lái bởi những cảm xúc trái ngược với bản chất của chúng ta, chúng ta có thể sắp xếp và kết nối các biến đổi của thân xác theo một trật tự trí tuệ” (Vp10). Vì những cảm xúc trái với bản chất thì xấu xa khi chúng ngăn tinh thần khỏi việc hiểu biết, nên bao lâu chúng ta còn bị lèo lái bởi những cảm xúc trái với bản chất, thì chừng đó, năng lực của tinh thần mà nhờ đó tinh thần nỗ lực để hiểu mọi sự vật sẽ bị cản trở. Vì tinh thần có khả năng hình thành những ý niệm rõ ràng và biện biệt, rồi suy luận một số ý niệm nhất định từ những ý niệm khác, nên chúng ta có thể sắp xếp và kết nối các biến đổi của thân xác dựa theo một trật tự trí tuệ. Nói cách khác, bằng năng lực sắp xếp và kết nối các biến đổi của thân xác, chúng ta không dễ bị tác động bởi những cảm xúc xấu, vì ta cần một tác động lớn hơn để giữ những cảm xúc được sắp xếp và kết nối theo trật tự trí tuệ so với việc cứ để cho chúng mơ hồ và không chắc chắn. Chừng nào chúng ta không có tri thức hoàn bị về cảm xúc của mình thì điều tốt nhất mà chúng ta có thể có là nhận thức một cách sống đúng đắn, cam kết và liên tục áp dụng các quy tắc ấy cho những sự vật cụ thể là những thứ thường xuyên đến với chúng ta trong cuộc sống.
Ví dụ: chúng ta đặt ra quy tắc sống rằng sự thù hận nên được vượt thắng bằng tình yêu hoặc lòng cao thượng, chứ không phải bị đáp lại bằng sự thù hận. Để áp dụng quy tắc này một cách tích cực, chúng ta cần luôn suy nghĩ về cách thế và phương pháp giúp chúng ta tránh được những tổn thương bằng lòng cao thượng. Khi chúng ta xét đến lợi ích của bản thân, của tình bạn và tương quan xã hội, và hơn hết, khi chúng ta xét đến sự thỏa mãn tinh thần (animi acquiescentia) nảy sinh từ cung cách hành xử đúng đắn, thì lúc đó, những thương tổn ấy sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ và tinh thần sẽ dễ dàng vượt qua được. Chúng ta cũng xét đến lòng can đảm để gạt bỏ nỗi sợ hãi sang một bên, nghĩa là chúng ta phải liệt kê và hình dung ra những bất trắc của cuộc sống và cách thế tốt nhất mà chúng ta có thể tránh và vượt qua chúng bằng lòng can đảm.
Spinoza đưa ra một lưu ý nhỏ rằng chúng ta cần luôn chú ý sắp xếp các tư tưởng và hình ảnh của mình đến những cái tốt nơi sự vật cụ thể ngõ hầu chúng ta có thể hành động bằng một một niềm vui. Ví dụ: nếu ai đó thấy rằng mình đang tìm kiếm danh dự một cách quá háo hức, hãy để người ấy nghĩ về cách thế khi sử dụng, cùng đích khi theo đuổi, và phương tiện để đạt được danh dự. Đối với những kẻ đầy tham vọng tự lèo lái mình bằng những tư tưởng khi họ đạt được danh dự mà họ hằng ao ước, thì họ lại thường tỏ ra khôn ngoan. Do vậy, những kẻ khao khát danh dự thường là những người tuyên bố dõng dạc nhất về những việc lạm dụng và phù phiếm của thế giới này. Điều này không chỉ thấy nơi những kẻ tham vọng, nhưng còn dễ thấy nơi những người bất hạnh và những kẻ nhu nhược trong tinh thần. Vì một người nghèo với đầy lòng tham sẽ không ngừng lên án việc lạm dụng tiền bạc và thói xấu của người giàu có. Việc làm ấy không những cho thấy sự nghèo nàn của bản thân người ấy mà còn cho thấy sự ghen tức nơi người ấy khi thấy kẻ khác có của. Do đó, một người với một tình yêu tự do, biết tiết chế cảm xúc và lòng muốn sẽ cố gắng hết sức để đạt được tri thức về các phẩm tính và nguyên nhân của chúng. Đồng thời, người ấy lấp đầy tinh thần của mình bằng niềm vui phát sinh từ tri thức thực sự về các phẩm tính, giữ mình khỏi sa vào những nết xấu của nhân loại của việc lạm dụng đồng loại hay vui mừng vì một tự do giả tạo. Người nào thường xuyên đem ra thực hành những việc làm này sẽ có thể hướng hành động của mình phần lớn theo sự hướng dẫn của lý trí.
Trên hết, sức mạnh lớn nhất của tinh thần nằm ở chỗ nó có thể thấy rằng “tất cả những biến đổi của thân xác, nghĩa là hình ảnh của các sự vật, đều liên hệ đến ý niệm về Thượng đế” (Vp14), vì không có sự biến đổi của thân xác nào mà nơi đó tinh thần không thể hình thành một quan niệm rõ ràng và biện biệt. Do đó, ta có thể nói rằng tất cả các hình ảnh của sự vật đều liên hệ đến ý niệm về Thượng đế. Điều này đặt một tiền đề về cách thức hoạt động của trật tự trí tuệ không chỉ trong việc sắp xếp cảm xúc nhưng còn giúp ta nhận biết bản thân và nhận biết Thượng đế bằng một tình yêu trí tuệ.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/
[31] Joseph Ratner, xlvi.
[32] Yirmiyahu Yovel, Spinoza on Knowledge and the Human Mind (Leiden: Brill Academic Publishers, 1994), p. 36.
[33] Yirmiyahu Yovel, p. 41.
[34] Yirmiyahu Yovel, p. 42.
[35] Yirmiyahu Yovel, p. 39.
[36] Yirmiyahu Yovel, pp. 3-4.
[37] Joseph Ratner, p. xliv.
[38] Joseph Ratner, p. xlix.
[39] Steven Nadler, Think Least of Death: Spinoza on How to Live and How to Die (Princeton University Press, 2020), p. 42.
[40] Yirmiyahu Yovel, p. 46.
[41] Steven Nadler, p. 42.
[42] C. Carlisle, “Spinoza’s Acquiescentia,” Journal Of The History Of Philosophy (2017): 209-236.
[43] C. Carlisle, “Spinoza’s Acquiescentia,” Journal Of The History Of Philosophy (2017): 209-236.
[44] Steven Nadler, p. 42.
[45] Khi chuyển ngữ hạn từ “passion”, người viết chọn bản dịch của Phạm Viên Phương là “mãnh lực” để phân biệt với hạn từ “cảm xúc” (emotion). Trong tự điển Tiếng Việt, “mãnh lực” có nghĩa là cảm xúc lớn lao về mặt tinh thần.